|
♠
www.motgoctroi.com
mến chào bạn
Thân phận nghiệt ngă
Lữ Giang
Hữu nghị với Tàu hay đồng minh với Mỹ đều có những nghiệt
ngă. Đó là thân phận của các nước nhược tiểu. Chúng tôi đă
viết khá nhiều về VNCH đồng minh với Mỹ. Năm nay, nhân kỷ
niệm 30 năm của sự đổ vỡ t́nh hữu nghị Việt – Trung, chúng
ta thử nh́n lại biến cố này.
Như mọi người đă biết, ngày 25.12.1978, bộ đội VN bắt đầu mở
cuộc tấn công Campuchia, sau đó ngày 17.2.1979, Trung Quốc
xua quân qua biên giới Việt - Trung để “dạy cho Việt Nam một
bài học”. Ngoài ra, Hà Nội c̣n phải chịu áp lực nặng nề về
cả quân sự lẫn chính trị của các cường quốc Tây phương và
Liên Hiệp Quốc đ̣i Việt Nam phải rút quân khỏi Campuchia.
Nhờ cơ may nào, Đảng CSVN đă tồn tại được?
Chúng ta đừng đi lề bên phải hay lề bên trái, mà hăy nh́n
lại lịch sử một cách khách quan để rút kinh nghiệm.
GIA TÀI CỦA MẸ
Trịnh Công Sơn đă mở đầu bài “Gia
tài của Mẹ” bằng 5 câu
hát thật buồn:
Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu
Một trăm năm đô hộ giặc Tây
Hai mươi năm nội chiến từng ngày
Gia tài của Mẹ - để lại cho con
Gia tài của Mẹ - là nước Việt buồn
Trong đống gia tài của Mẹ đó, “Một ngàn năm nô lệ giặc
Tàu” là đau thương và lâu dài nhất. Ngoài một ngàn năm
nô lệ giặc Tàu, trong tiến tŕnh lịch sử, dân tộc ta c̣n
phải chịu rất nhiều áp lực nặng nề và liên tục của Trung
Quốc. May nhờ cha ông của chúng ta biết vận dụng “tam thập
lục” một cách khôn khéo, khi cương khi nhu, nên mới bảo tồn
được đất nước.
Vua Tàu ngày xưa được coi là Thiên Tử (con trời)
thay trời trị dân. Do đó: “Khắp
dưới gầm trời không đâu không là đất của vua. Tất cả trên
mặt đất không ai không là dân của vua.” Đây là căn bản
của chủ nghĩa bá quyền và bành trướng của Trung Quốc. Trung
Quốc tự coi ḿnh là tông chủ, c̣n các nước xung quanh đều là
chư hầu. Trong hàng ngh́n năm, Thiên Triều đă dùng h́nh thức
Sắc Phong và Triều Cống để khuất phục các nước chư hầu. Mỗi
khi chiếm được một nước chư hầu nào, Trung Quốc thường biến
nước đó thành quận, huyện của Trung Quốc, t́m cách đồng hoá
và khai thác tài nguyên.
Nước Việt được đặt dưới chế độ chư hầu của Trung Quốc từ bao
giờ? Sách “Cương
mục tiền biên” của
Trung Quốc có ghi rằng một sứ bộ của Việt Thường đầu tiên đă
đến chầu vua Nghiêu năm 2353 trước công nguyên để dâng rùa.
Việt Thường nói ở đây là một trong 15 bộ tộc của Văn Lang.
“Đại Việt Sử Kư”
có chép rằng vua Hùng cử sứ giả sang thăm Chu Thành Vương
năm 1110 trước công nguyên và cống hai chim trỉ trắng.
Như vậy nước Việt bị biến thành chư hầu của Trung Quốc đă
lâu lắm rồi và chế độ này chỉ chấm dứt sau khi Pháp chiếm
Đông Dương. Nhà lănh đạo của nước chư hầu nào muốn lên làm
vua ở nước ḿnh đều phải viết tờ biểu và xin sắc phong. Ngồi
đọc lại những tờ biểu này, chúng ta sẽ cảm thấy vô cùng xót
xa, nhưng cha ông chúng ta không thể làm ǵ khác hơn. Chúng
tôi chỉ đưa ra hai tờ biểu của hai anh hùng bậc nhất của dân
tộc ta là Lê Lợi và Nguyễn Huệ qúy vị cũng có thể thấy rơ
điều đó:
Trong bộ “Việt Nam Sử
Lược”, cụ Trần Trọng
Kim (1882 – 1953) có kể
lại, sau khi chiến thắng giặc Minh, Lê Lợi đă sai Nguyễn
Trải viết “B́nh Ngô Đại Cáo” báo tin chiến thắng với
lời lẽ rất oai hùng để làm dân phấn khởi, nhưng sau đó Lê
Lợi lại cho viết một tờ biểu đứng tên Trần Cao, rồi sai Lê
Thiên Dĩnh và Lê Quang Cảnh đem phương vật sang sứ nhà Minh
xin phong vương với những lời lẽ hoàn toàn trái ngược lại.
Tờ biểu rất dài. Sau đây là một đoạn tiêu biểu:
“Ngờ đâu quan quân xa xôi mới đến thấy voi sợ hải, tức khắc
vỡ tan. Việc đă xẩy ra như vậy, dẫu bởi sự bất đắc dĩ của
người trong nước cũng là lỗi của tôi...”
Vua nhà Minh bấy giờ là Tuyên Tông xem biểu biết rằng giả
dối, nhưng cũng muốn nhân việc này để thôi việc binh nên
chấp nhận.
Nguyễn Huệ cũng đă bắt chước tiền nhân làm như vậy sau khi
đánh thắng quân Thanh trong trận Ngọc Hồi – Đống Đa. Nguyễn
Huệ đă sai Hám Hồ Hầu dẫn sứ bộ qua Trung Quốc dâng biểu lên
vua Càn Long. Tờ biểu này viết cũng thê thảm không khác tờ
biểu Lê Lợi dâng lên vua Minh, trong đó có đoạn như sau:
“Nếp nghĩ Đại Hoàng Đế là bậc theo ư trời, ban trị hoá, làm
cho cành khô lại xanh tươi, cây kiệt lại nảy nở. Xin ngài
lựa theo tự nhiên, thứ cho cái tội đón đánh Tôn Sĩ Nghị và
xét cho tấc thành mấy phen đă gơ cửa ải, dâng lời tâu bày...”
Thấy cuộc viễn chinh khó đem lại thắng lợi, vua Càn Long
chấp nhận ban sắc phong nhưng đ̣i An Nam phải lập đền thờ
Hứa Thế Hanh và sang năm, nhân bát tuần khánh thọ của vua
Càn Long, quốc vương nước Nam phải đích thân sang triều cận!
Ngày nay, có người đă phê phán những tờ biểu của tiền nhân
là hèn nhát, nhưng trong thời đại của luật rừng, trước một
đối thủ cực mạnh và lúc nào cũng hung hăng con bọ xít, nếu
cha ông chúng ta không khôn khéo như thế làm sao có thể
“Nam quốc sơn hà, nam đế cư”?
Các vua Chiêm Thành và Khmer ngày xưa, tuy là nước yếu,
nhưng không biết xử dụng “tam thập lục kế” của Tàu, cứ cương
đại, cương ẩu... nên bị người Việt dùng sức mạnh chiếm mất
đất.
Cụ Trần Trọng Kim là sử gia sau cùng dám viết lại sự thật
lịch sử dân tộc dựa theo sử liệu của cha ông để lại. Sau đó,
v́ muốn phục vụ cho mục tiêu chính trị, đa số các “sử gia”,
dù đứng bên này hay bên kia chiến tuyến, đă t́m cách huyền
thoại hoá lịch sử, sống với huyền thoại đó, và bắt những
người khác phải suy nghĩ và sống như vậy, nên sử không c̣n
là sử nữa, và lớp người sau không c̣n rút được kinh nghiệm
của cha ông.
CÔNG CỤ CỦA BÁ QUYỀN
Trong thời gian chiến tranh lạnh, Đảng Cộng Sản Quốc Tế và
Đảng Cộng Sản Trung Quốc đă xử dụng Đảng CSVN như một công
cụ để chiếm Đông Dương. V́ thế, cả Liên Sô lẫn Trung Quốc đă
yểm trợ Đảng CSVN tối đa. Mao Trạch Đông đă từng nói:
“Nhân dân Việt Nam đă hy sinh nhiều, cống hiến nhiều đối với
nhân dân Trung Quốc. Nhân dân Trung Quốc phải cám ơn và có
nghĩa vụ giúp đỡ, ủng hộ nhân dân Việt Nam”.
Năm 1972, khi Tổng Thống Nixon đến Bắc Kinh, Mao Trạch Đông
lại nói:
“Thành thật mà nói, nhân dân Trung Quốc, Đảng Cộng Sản Trung
Quốc và nhân dân thế giới phải cám ơn nhân dân Việt Nam đă
đánh thắng Mỹ. Các đồng chí chiến thắng mới buộc Nixon phải
đi Bắc Kinh...”
Nói cách khác, Bắc Kinh đă coi Đảng CSVN như một thứ lính
đánh thuê (mercenary)
của ḿnh.
Nhưng “t́nh hữu nghị đời đời bền vững” giữa Trung
Quốc và Việt Nam không phải lúc nào cũng tốt đẹp, trái lại
có những lúc rất đắng cay. Những sự đắng cay này đă được Bộ
Ngoại Giao Hà Nội ghi lại khá đầy đủ trong tập “Sự
thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua”
do nhà xuất bản Sự Thật ấn hành vào tháng 10 năm 1979. Mở
đầu tập này, nhà xuất bản Sự Thật đă giới thiệu:
“Cuốn Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30
năm qua là một văn kiện quan trọng của Bộ Ngoại Giao
nước Cộng Hoà Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam được công bố ngày 4
tháng 10 năm 1979 nhằm vạch trần bộ mặt phản động bành
trướng Bắc Kinh đối với nước ta trong một thời gian dài.”
Ngoài ra, giữa Bắc Kinh và Mạc Tư Khoa luôn có những sự bất
đồng, nên Hà Nội phải chơi tṛ “đu dây” để giữ thế đứng của
ḿnh và trục lợi ở cả hai phía. Tuy nhiên, Bắc Kinh thường
ép Hà Hội đứng về phía họ và chống lại Liên Sô. Tài liệu của
Hà Nội cho biết năm 1963 Trung Quốc đă đưa ra 25 điểm của
Phong Trào Giải Phóng Trên Thế Giới và Đặng Thiệu B́nh đă
thông báo cho các nhà lănh đạo Hà Nội rằng Trung Quốc sẽ
viện trợ cho Việt Nam 1 tỷ nhân dân tệ nếu Việt Nam khuớc từ
mọi viện trợ của Liên Sô. Năm 1966, Trung Quốc hô hào thành
lập Mặt Trận Nhân Dân Thế Giới chống Mỹ và tay sai, nhưng
nói rơ mặt trận này không bao gồm Liên Sô. Sau đó, Trung
Quốc đă gây khó khăn cho việc chuyễn hàng viện trợ của Liên
Sô và các nước xă hội chủ nghĩa cho Việt Nam quá cảng qua
đất Trung Quốc.
ĐU
DÂY BỊ ĐỨT!
Sau khi Đảng CSVN chiếm được miền Nam Việt Nam, sự mâu thuẫn
giữa Liên Sô và Trung Quốc ngày càng trở nên trầm trọng hơn,
và Hà Nội đă ngă về phía Liên Sô. Đại hội Đảng CSVN lần IV
vào tháng 12/1976 đă loại dần các phần tử thân Trung Quốc.
Hoàng Văn Hoan, Ủy viên Bộ Chính trị từ 1956 và là Đại Sứ VN
ở Trung Quốc từ 1950-1957, mất hết chức vụ trong đảng. Ba
cựu đại sứ tại Trung Quốc cũng mất chức Ủy viên Dự khuyết
Trung ương Đảng.
Ngày 30.7.1977, hai tuần sau khi Việt Nam và Lào kư hiệp ước
đồng minh, Ngoại Trưởng Trung Quốc Hoàng Hoa đọc diễn văn
nói đến sự nguy hiểm của “chủ nghĩa xét lại Sô Viết”, và
công khai cảnh cáo VN về hậu quả của một cuộc xâm lấn
Campuchia. Trung Quốc muốn Campuchia và Lào phải nằm trong
ṿng ảnh hưởng của ḿnh.
Cuộc xung đột về biên giới Việt Nam – Camphchia vào tháng 9
năm 1977 do Khmer Đỏ gây ra đă làm cho quan hệ Việt – Trung
xấu đi. Tháng 11/1977 Lê Duẫn đến Bắc Kinh xin viện trợ kinh
tế. Nhưng Trung Quốc viện lư do đang gặp khó khăn nên không
thể viện trợ cho Việt Nam. Khi trở về, Lê Duẩn đă t́m cách
làm hoà với Campuchia để làm giảm bớt sự căng thẳng với
Trung Quốc. Nhưng ngày 3.12.1977, Phó Thủ Tướng Trung Quốc
Trần Vĩnh Quư dẫn phái đoàn tới Campuchia, và ít lâu sau
Khmer Đỏ lại mở cuộc tấn công lớn vào biên giới Việt Nam.
Ngày 19.1.1978, Tân Hoa xă lên án Mạc Tư Khoa lợi dụng sự
thù địch giữa Việt Nam và Campuchia để tăng ảnh hưởng ở Đông
Á.
Thêm vào đó, Hội nghị Trung Ương Đảng CSVN vào tháng 2/1978
đă quyết định đánh tư sản mại bản ở miền Nam, tịch thu hơn
30.000 doanh nghiệp tư ở miền Nam, trong đó đa số do người
Hoa sở hữu. Đa số người Hoa đă bỏ Việt Nam đi qua Trung Quốc
hay các nước khác. Ngày 26.5.1978 Trung Quốc loan báo gửi
tàu đến Việt Nam để đón những người Hoa đang trốn chạy. Ngày
7.6.1978 Đặng Tiểu B́nh tuyên bố: “VN đang ngă về Liên Sô,
kẻ thù của Trung Quốc.”
Lấy lư do cần có tiền để “nuôi nạn kiều”, ngày 13.5.1978 nhà
cầm quyền Trung Quốc tuyên bố cắt một phần viện trợ không
hoàn lại đă kư cho Việt Nam và rút một bộ phận chuyên gia về
nước. Ngày 3.7.1978 chính phủ Trung Quốc lại tuyên bố cắt
hết viện trợ và rút hết chuyên gia đang làm việc tại Việt
Nam về nước. Ngày 22.12.1978, Trung Quốc đơn phương ngừng
vận chuyển hành khách xe lửa tới Việt Nam.
Ngày 25.12.1978, bộ đội VN bắt đầu mở cuộc tấn công qua
Campuchia. Bộ đội VN tấn công từ nhiều ngă, lần lượt chiếm
các tỉnh bờ đông sông Mekong, sau đó tiến vào Nam Vang. Tới
rạng sáng ngày 7.1.1979, các quốc lộ số 1 và số 7, cửa ngơ
vào thủ đô Nam Vang, đă vào tay bộ đội Việt Nam và chính
quyền Khmer Đỏ hoàn toàn bị xóa sổ. Nước Cộng ḥa Nhân dân
Campuchia được thành lập ba ngày sau đó.
Trung Quốc phản ứng bằng cách lên kế hoạch cho cuộc chiến
biên giới. Trong khi đi thăm Mỹ, Đặng Tiểu B́nh thông báo
cho chính quyền Carter rằng Việt Nam sẽ phải trả giá.
Ngày 17.2.1979, Trung Quốc đă tấn công trên toàn tuyến biên
giới Việt – Trung trên đất liền thuộc 6 tỉnh của Việt Nam ở
phía Bắc với qui mô 20 sư đoàn bộ binh. Cuộc chiến này đă
được hai bên cũng như các hăng thông tấn quốc tế công bố đầy
đủ h́nh ảnh và tài liệu nên chúng tôi thấy không cần bàn đến.
HAI MẶT GIÁP CÔNG
Cuộc chiến tranh “giải phóng Campuchia” của Việt Nam đă gây
tổn thất nặng cho Việt Nam cả về mặt quân sự lẫn chính trị.
2.- Thiệt hại về quân sự
Cuộc chiến tại Campuchia rất thê thảm.
Ông Bùi Tín cho biết: "Trung
Quốc đă giúp hết sức cho Khmer Đỏ dựng dậy. Cả Thái Lan cũng
rơ ràng đứng về phía Trung Quốc và Khmer Đỏ. Đến năm 81-82
tôi đă thấy là không ổn, t́nh h́nh không kiểm soát nổi. Vào
thời điểm ấy đă có ư kiến là nên giao Campuchia lại cho Liên
Hiệp Quốc."
Trong một cuộc phỏng vấn của đài BBC, ông Hà Văn Tuấn, đă
nói về các đồng đội cũ của ḿnh:
"Hồi đó ở chiến trường, lúc nào sống th́ biết sống, mà lúc
nào chết th́ biết chết. Đang ngồi chung với nhau, cũng có
thể chết bất cứ lúc nào hai, ba người..."
Các địa danh nằm dọc biên giới Thái Lan nơi lính Khmer Đỏ
lui về cố thủ, ghi dấu những trận đánh đẫm máu, giành giật
không phân thắng bại. Một cựu bộ đội khác, ông Bùi Văn Lương,
nhớ lại:
"Hồi đó chiến dịch mùa khô, tôi là
lính xe tăng đi chiến dịch. Phơi nắng phơi sương cả ngày đêm.
Trận đầu tiên, đánh từ lúc bốn giờ sáng tới một giờ chiều mà
không lấy được căn cứ của địch. Xe tăng cháy không biết bao
nhiêu."
Tính từ khi tiến vào thủ đô Nam Vang ngày 7.1.1979 cho tới
khi rút hoàn toàn khỏi Campuchia vào tháng 12/1989, một tài
liệu thống kê cho biết Việt Nam mất từ 10.000 tới 30.000
quân, nhưng một tài liệu khác nói rằng con số tổn thất này
đă lên đến 50.000. Có nhân chứng hồi tưởng về cảnh ba lô bộ
đội tử trận chồng chất trên đường băng Tân Sơn Nhất sau
những lần gom quân.
2.- Thiệt hại về chính trị
Ngày 6.1.1979, một phi cơ Trung Quốc đến Nam Vang chở
Sihanouk và gia đ́nh qua Bắc Kinh. Ngày 7.1.1979, khi
Sihanouk đang dự tiệc mừng hội ngộ th́ nghe tin Việt Cộng đă
chiếm Nam Vang. Ngày 8.1.1979, Trung Quốc đưa Sihanouk ra
họp báo để tố cáo bọn bá quyền Việt Nam xâm lược. Cuộc họp
báo được chuẩn bị rất chu đáo. Quan thầy Trung Quốc đă chỉ
cho Sihanouk phải nói năng như thế nào. Nhưng kết quả thật
quá bất ngờ! Sihanouk kể lại, lúc đầu ông tuyên bố đúng theo
sách của quan thầy dạy, nhưng khi các kư giả quốc tế hỏi dồn
tới, ông không c̣n tự chủ được nữa, quay lại tố Khmer Đỏ thi
hành chính sách diệt chủng!
Cuối tháng 1 năm 1979, Hội Đồng Liên Hiệp Quốc họp, Trung
Quốc đưa Sihanouk đi theo. Có người đă nói nhỏ vào tai
Sihanouk: “Không nên bảo vệ
cái ǵ không thể bảo vệ được.”
Sihanouk gật gù tỏ ư biết hết rồi. Ấy
thế mà khi ra trước Hội Đồng Bảo An, Trung Quốc lên dây cót,
Sihanouk hát y chang như đă thu vô. Ông tố cáo Việt Nam đủ
điều và cương quyết bảo vệ “chính nghĩa Campuchia dân chủ.”
Trung Quốc cười khoái trá và cho Sihanouk đi bát phố chơi
thoải mái.
Lợi dụng cơ hội ngàn năm một thủa này, Sihanouk vào xin Mỹ
tị nạn chính trị. Mỹ tiếp rất tử tế, nhưng lắc đầu cái
chuyện xin tỵ nạn. Thấy thế, Đặng Thiệu B́nh nói với
Sihanouk: Ngài đă từng nói
ngài đă coi Trung Quốc là “quê hương thứ hai”, tại sao ngài
phải đi t́m nơi nào khác mà không chọn “quê hương thứ hai”
này? Không c̣n cách nào
khác, Sihanouk đành trở lại “quê hương thứ hai”!
Do sự phối hợp với các quốc gia Tây
Phương, ngày 22.6.1982 Trung Quốc dẫn Sihanouk đến Kuala
Lumpur kư với Son Sann và Khieu Samphan (Khmer Đỏ)
thành lập cái gọi là “chính phủ liên hiệp” quốc cộng
để chống bọn bá quyền Việt Nam và tay sai là Heng Samrin. Kư
xong, mực chưa ráo, Sihanouk nói với các kư giả:
“Đó là một sự liên hiệp nhục nhă!
Một sự liên hiệp không trông sạch và cũng không có ǵ vẽ
vang. Một sự liên hiệp đáng ghê tởm. Một hiệp ước với quỷ sứ!...”
Nhưng “Chính phủ liên hiệp” nói trên lại được Liên Hiệp Quốc
và đa số các cường quốc công nhận và đ̣i Việt Nam phải rút
khỏi Campuchia.
Bị áp lực của Liên Hiệp Quốc và các quốc gia Tây phương,
Việt Nam đă rút khỏi Campuchia vào tháng 12/1989, nhưng qua
các cuộc bầu cư do sự giám sát của LHQ, Việt Nam cũng đă
h́nh thành được một chính phủ Cambodia thân Việt Nam, do
Việt Nam chỉ đạo và bảo vệ.
CƠ MAY LẠI ĐẾN
Trong thời gian từ 1975 đến 1989, với những đ̣n thù độc địa
của Trung Quốc, áp lực của các quốc gia Tây Phương, và những
sai lầm trong chính sách “cải tạo xă hội chủ nghĩa” theo
giáo điều một cách mù quáng, Đảng CSVN đă đưa đất nước tới
bờ vực thẳm. Thế th́ tại sao Việt Nam đă phục hồi lại được?
1.- Gặp thời cơ
Năm 1985, khi nền kinh tế Liên Sô lâm nguy, ông Mikhail
Gorbachev được bầu làm Tổng Bí Thư Đảng Công Sản Liên Sô.
Ông đă đưa ra những đường lối mới để cứu nguy như glasnost
(cởi mở), perestroika
(tái cấu trúc),
demokratizatsiya (dân chủ hóa),
uskoreniye (tăng tốc nông nghiệp)...
Đảng CSVN bám ngay chủ trương này của Gorbachev để t́m một
lối thoát. Nguyễn Văn Linh, người bị loại ra khỏi Bộ Chính
Trị năm 1982, được thu dụng trở lại để làm con bài thí cho
một chính sách đổi mới theo kiểu Gorbachev. Nguyễn Văn Linh
tuyên bố:
"Muốn thấy đúng những sự thật về kinh tế xă hội của nước ta
là phải đổi mới. Chỉ có đổi mới th́ mới phát huy được những
nhân tố mới để sửa chữa những sai lầm trầm trọng hiện nay.
Và muốn đổi mới thắng lợi th́ phải đấu tranh chống cái cũ,
chống cái bảo thủ tŕ trệ, chống giáo điều rập khuôn, chống
chủ quan nóng vội, chống tha hóa biến chất, chống những thói
quen lỗi thời dai dẳng. Đây là một cuộc đấu tranh cách mạng
gian khổ diễn ra trên mọi lĩnh vực và trong bản thân từng
người chúng ta".
Với những chủ trương như thế, Đảng CSVN từ bỏ dần kinh tế xă
hội chủ nghĩa và chuyển qua kinh tế thị trường, mở cửa đón
nhận hệ thống thương mại và đầu tư của các quốc gia tư bản.
Phương thức này đă giúp nền kinh tế Việt Nam phục hồi dần.
2.- Sự sụp đổ của các chế độ cộng sản Đông Âu và Liên Sô.
Hai biến cố quan trọng xẩy ra trong khối Cộng Sản từ năm
1989 đến 1991 đă khiến Trung Quốc phải thay đổi thái độ:
Thứ nhất, những diễn tiến về sự sụp đổ chớp nhoáng và
đầy ngoạn mục của các chế độ cộng sản ở Đông Châu vào cuối
năm 1989 đă xẩy ra hoàn toàn ngoài mọi dự tưởng của những
chính trị gia lỗi lạc nhất thế giới.
Thứ hai, tháng 3/1990, một cuộc bầu cử tự do đă được
thực hiện tại Liên Sô và ông Nikhail Gorbachev đắc cử Tổng
Thống Liên Bang Sô Viết. Ngày 19.81991, phe quân nhân và
cộng sản giáo điều làm đảo chánh lật đổ Tổng Bí Thư
Gorbachev nhưng thất bại. Ngày 24.8.1991 ông Gorbachev tuyên
bố giải tán Đảng Cộng Sản Nga và từ chức Tổng Bí Thư. Ngày
17.12.1991 Liên Bang Cộng Ḥa Sô Viết giải tán.
Lúc đó, trên thế giới chỉ c̣n lại 4 nước theo chế độ cộng
sản, đó là Trung Quốc, Việt Nam, Cuba và Bắc Hàn. Trước t́nh
thế này, Trung Quốc bị bắt buộc phải làm hoà với Việt Nam để
tạo một cái thế liên hoàn. Nhiều người tin rằng nếu chế độ
cộng sản ở Liên Sô và các nước Đông Âu sụp đổ chậm hơn, Việt
Nam khó chịu đựng nổi những đ̣n độc của Trung Quốc.
Ngoài thời cơ, chúng ta cũng phải công nhận rằng Đảng CSVN
có khả năng biến đổi một cách nhanh chóng. Mặc dầu được xây
dựng trong hệ thống giáo điều, Đảng CSVN đă không ôm chặt
“Bốn Không” hay “Bốn Có” mà tùy cơ ứng biến: Từ kinh tế xă
hội chủ nghĩa nhảy qua kinh tế thị trường, từ chủ trương “Chống
Mỹ cứu nước” đi đến quyết định “Nhờ Mỹ cứu Đảng”...
Nay Đảng CSVN lại chơi tṛ đu dây để tạo cái thế quân b́nh.
Hôm 17.2.2009, nhân kỷ niệm 30 năm Chiến Tranh Biên Giới, bà
Khương Du, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc, đă nói
với báo chí:
“Trung Quốc và Việt Nam đă có một quá khứ không vui nhưng
điều quan trọng là các lănh đạo hai bên đă đạt được thỏa
thuận mở ra tương lai và hai nước cùng chia sẻ mong muốn đó”.
Bà “hy
vọng sẽ để lại phía sau quá khứ và hướng đến tương lai”.
Nhưng vấn đề có lẽ không giản dị như vậy.
Lữ Giang
(24.2.2009)
Ghi chú:
Nếu t́m không thấy bài, cứ vào
motgoctroi.com,
mục
"Mỗi tuần một chuyện"
sẽ
thấy trong đó.
|