|
♠
www.motgoctroi.com
mến chào bạn
Hà Nội sắp
hành động?
Lữ Giang
Hôm 17.3.2009, một cuộc hội thảo
về đề tài “Tranh chấp chủ
quyền tại Biển Đông: lịch sử,
địa chính trị và luật pháp quốc
tế” đă được Chương Tŕnh
Nghiên Cứu Biển Đông, Học Viện
Ngoại Giao, tổ chức tại Hà Nội.
Nhiều người tin rằng mục đích
của cuộc hội thảo này không phải
là để tiếp nhận ư kiến của các
học giả và các chuyên gia về vấn
đề Biển Đông, v́ mọi tài liệu
nghiên cứu đă sẵn có từ lâu rồi.
Đây chỉ là một h́nh thức thức
thăm ḍ hay chuẩn bị dư luận
trước khi nhà cầm quyền đi một
nước cờ nào đó trong ván bài
Biển Đông. Nói cách khác, đây là
một cuộc hội thảo có tính toán.
Trước khi t́m hiểu nhà cầm quyền
Hà Nội có thể làm ǵ, chúng ta
phải nh́n qua quan điểm của một
số học giả và chuyên gia.
NỘI DUNG CUỘC HỘI THẢO
Theo bài tường thuật của Tiến Sĩ
Nguyễn Xuân Diện, Phó Giám Đốc
Thư Viện Hán Nôm, có khoảng gần
100 người tham dự, gồm các học
giả, nhà ngoại giao, chính khách
và nhà báo đến từ mọi miền đất
nước. Đặc biệt, tham gia hội
thảo c̣n có 2 học giả đến từ Mỹ.
Tuy nhiên, người ta không thấy
có viên chức chính quyền nào đến
tham dự hay gởi bài tham luận.
Cuộc hội thảo quy vào ba chủ đề
chính do 14 tác giả thuyết tŕnh:
-
Chủ đề 1: Lịch sử các quá tŕnh
tranh chấp hai quần đảo Hoàng
Sa, Trường Sa và các vùng biển
tại Biển Đông
(5 diễn giả).
-
Chủ đề 2: Luật pháp quốc tế và
tranh chấp chủ quyền tại Biển
Đông (5
diễn giả)
-
Chủ đề 3: Biển Đông và quan hệ
quốc tế tại khu vực Châu Á –
Thái B́nh Dương
(4 diễn giả)
Ông Nguyễn Xuân Diện cho rằng có
8 ư kiến chính đă được phát biểu,
nhưng trong mỗi ư kiến ông ghi
lại, chúng tôi thấy bao gồm
nhiều ư kiến về những vấn đề
khác nhau. Qua những ghi nhận
của ông Diện, chúng tôi thấy
những ư kiến sau đây cần được
lưu ư:
(1) Hiệp định Genève làm cho
công hàm của Phạm Văn Đồng vô
giá trị.
(2) Quốc Hội nên nhanh chóng
thông qua Luật chủ quyền của
Hoàng Sa và Trường Sa.
(3) Cần đưa ra những chứng cứ và
phân tích pháp lư, đặc biệt lưu
ư về vấn đề bản đồ 1608. Đấu
tranh bằng cảm tính chưa được,
phải đấu tranh có cơ sở pháp lư,
có bằng chứng. Trong khi đó TQ
đào tạo và công bố tài liệu và
rao giảng khắp thế giới.
(4) Nhanh chóng xây dựng lực
lượng dân binh tại HS-TS, giống
như đội Bắc Hải, đội Hoàng Sa.
(5) Hội thảo này phải lấy lại
tinh thần. Cần mở rộng dư luận
để mọi người đều biết, đều có
trách nhiệm về vấn đề chủ quyền
biển.
(6) Ngoại giao phải đi trước một
bước.
Ông Diện kết luận:
“Hội thảo đă diễn ra trong một
ngày
(kết thúc lúc 17h30) với
một tinh thần khẩn trương. Các
trao đổi bên lề và các thảo luận
tại hội trường thực sự sôi nổi,
chất lượng và khoa học. Đây là
cuộc hội ngộ của những tấm ḷng
yêu nước nhiệt thành và quyết
tâm dấn thân vào mọi nỗ lực giữ
bằng được Biển Đông - "một nửa
cơ ngơi" nước Việt Nam.
“Các phát biểu của các học giả
mong muốn có một chương tŕnh
hành động quốc gia về các vấn đề
của Biển Đông, trong đó trọng
tâm là Hoàng Sa và Trường Sa.”
Sau đó chúng tôi có đọc được một
số đề tài tham luận như:
- Giữ chủ quyền bằng chứng cứ
lịch sử,
- Việt Nam trước chủ trương của
Trung Quốc đối với Biển Đông,
- Cần giải quyết vấn đề Biển
Đông bằng công pháp quốc tế,
- Không thể giữ chủ quyền chỉ
bằng cảm tính,
- Căng thẳng Biển Đông và lựa
chọn cho Việt Nam,
- Tranh chấp Biển Đông và vai
tṛ của Liên hiệp quốc, v.v.
Chúng tôi có cảm tưởng như cuộc
hội thảo nói trên là cơ hội để
mọi người “xả xù bắp”.
Tuy nhiên. đọc qua những phát
biểu và những bài nói trên,
chúng tôi thấy thuần lư
và cảm tính vẫn c̣n đóng
vai tṛ chính trong những quan
điểm hay cách nh́n vấn đề, bất
chấp thực tế như thế nào, trong
khi vấn đề Biển Đông đă trở
thành một thực trạng cần được
giải quyết.
KHÁI NIỆM VỀ LUẬT BIỂN
1982
Trong bài “Biển Đông nổi sóng:
Mỹ làm ǵ?” phổ biến ngày
17.3.2009 (xem
motgoctroi.com, mục “Mỗi tuần
một chuyện”)
chúng tôi
đă nói qua “Khái niệm về Biển
Đông”. Trong bài này chúng
tôi thấy cũng cần nói qua khái
niệm “Công Ước Liên Hiệp Quốc
về Luật Biển 1982” trước khi
góp một vài ư kiến về cuộc hội
thảo nói trên, để các độc giả có
thể theo dơi vấn đề một cách dễ
dàng hơn.
Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật
Biển được kư ngày 10.12.1982 ở
Montego Bay (Jamaica)
và có hiệu lực kể từ ngày
16.11.1994. Hiện nay đă có 154
quốc gia và Cộng Đồng Âu Châu
tham gia, nhưng Hoa Kỳ từ chối
tham gia v́ cho rằng Công Ước
này không có lợi cho kinh tế và
an ninh của Mỹ.
Luật Biển với một hệ thống học
lư, án lệ và tập tục quốc tế rất
phức tạp, chỉ có những nhà
chuyên môn mới có thể thấu hiểu
một cách tường tận. Ở đây chúng
tôi chỉ tŕnh bày khái niệm về
một số vấn đề căn bản thường gặp
khi nói về cuộc tranh chấp Biển
Đông, đó là những vấn đề sau đây:
Đường cơ sở, Nội thủy, Lănh hải,
Vùng tiếp giáp lănh hải, Vùng
đặc quyền kinh tế, Thềm lục địa,
Quần đảo và các quốc gia quần
đảo, và quyền qua lại không gây
hại.
1.- Đường cơ sở
Công ước đặt ra nhiều khu vực
trên biển có liên hệ đến quyền
lợi và nghĩa vụ của các quốc gia,
dựa trên một đường cơ sở
(baseline)
được định nghĩa trong công ước.
Thông thường, đường cơ sở là
đường bờ biển khi thủy triều
xuống, nhưng khi bờ biển lồi lỏm,
có đảo ven bờ, hoặc đường bờ
biển không ổn định, có thể xử
dụng các đường thẳng được ấn
định theo luật làm đường cơ sở.
2.- Nội thủy
Vùng nằm ngoài đường cơ sở có
chiều ngang 12 hải lư được coi
là nội thủy. Tại vùng này, quốc
gia chủ quyền được quyền đặt ra
luật pháp của ḿnh đối với các
hoạt động như nhập cư, buôn lậu,
thuế khóa, y tế... xảy ra trong
lănh thổ hay lănh hải của ḿnh,
kiểm soát việc sử dụng và khai
thác mọi tài nguyên. Các tàu
thuyền nước ngoài có quyền "qua
lại không gây hại" không cần xin
phép nước chủ.
3.- Vùng tiếp giáp lănh hải
Bên ngoài giới hạn 12 hải lư của
lănh hải là một vành đai có bề
rộng 12 hải lư, được coi là vùng
tiếp giáp lănh hải. Tại đây,
nước chủ cũng có thể thực thi
luật pháp của ḿnh như trong nội
hải.
4.- Vùng đặc quyền kinh tế
Vùng đặc quyền kinh tế rộng 200
hải lư tính từ đường cơ sở.
Trong vùng này, quốc gia ven
biển được hưởng độc quyền trong
việc khai thác tất cả các tài
nguyên thiên nhiên.
5.- Thềm lục địa
Thềm lục địa là vùng đáy và ḷng
đất đáy biển nằm bên ngoài lănh
hảỉ của nước ven biển trên phần
kéo dài tự nhiên của lănh thổ
đất liền ra đến bờ ngoài của ŕa
lục địa
(continental margin), hoặc tới giới hạn 200 hải lư
tính từ đường cơ sở lănh hải nếu
bờ ngoài của ŕa lục địa ở
khoảng cách gần hơn. Tuy nhiên,
bề rộng tối đa của thềm lục địa
không được vượt quá giới hạn 350
hải lư tính từ đường cơ sở lănh
hải, hoặc không quá 100 hải lư
bên ngoài đường đẳng sâu 2.500
m.
Quốc gia ven biển được hưởng độc
quyền quyền khai thác khoáng sản
và các nguyên liệu không phải
sinh vật sống trên thềm lục địa.
6.- Các đảo và các quốc gia quần
đảo
Theo điều 121 của Công Ước Luật
Biển 1982, một đảo là một vùng
đất tự nhiên có nước bao bọc, và
khi thủy triều lên vùng đất này
vẫn ở trên mặt nước.
Các đảo theo định nghĩa nói trên
vẫn được hưởng các quy chế về
lănh hải, vùng tiếp giáp, vùng
đặc quyền về kinh tế và thềm lục
địa.
Tuy nhiên, khoản 3, điều 121 của
Công ước quy định rằng các đảo
đá không thích hợp cho con người
đến ở hoặc có một đời sống kinh
tế riêng th́ chỉ được có vùng
lănh hải tối đa 12 hải lư, không
được phép có vùng đặc quyền về
kinh tế và vùng thềm lục địa.
Đường cơ sở của các quốc gia
quần đảo được vẽ giữa các điểm
ngoài cùng nhất của các đảo, đảm
bảo rằng các điểm này phải đủ
gần nhau một cách thích đáng.
Mọi vùng nước bên trong đường cơ
sở sẽ là vùng nước quần đảo và
được coi như là một phần của
lănh hải quốc gia đó.
7.- Qua lại không gây hại
Theo điều 17 Công Ước Liên Hiệp
Quốc về Luật Biển, tàu thuyền
của mọi quốc gia, có biển hay
không có biển, đều có quyền “qua
lại không gây hại” trong lănh
hải của quốc gia khác. Khoản 1
điều 19 định nghĩa “qua lại
không gây hại” như sau:
“Qua lại được coi là không gây
hại khi nó không gây thiệt
hại cho ḥa b́nh, trật tự hoặc
an ninh của quốc gia ven biển.
Việc qua lại như vậy sẽ được
thực hiện phù hợp với Công Ước
này và với các quy định khác của
luật quóc tế.”
(Passage is innocent so long as
it is not prejudicial to the
peace, good order or security of
the coastal State. Such passage
shall take place in conformity
with this Convention and with
other rules of international
law.)
Trên đây chỉ là những khái niệm
căn bản.
CÁC GIẢI PHÁP ĐỀ
NGHỊ
Chúng ta thử t́m hiểu những giải
pháp được đề nghị trong cuộc hội
thảo nói trên có thể góp phần
giải quyết được ǵ trong việc
bảo vệ Hoàng Sa và Trường Sa.
1.- Tuyên bố công hàm của Phạm
Văn Đồng vô giá trị
Trong cuộc hội thảo nói trên, có
học giả đă nói như quan điểm của
chúng tôi, phải tuyên bố công
hàm ngày 14.9.1958 của Thủ Tướng
Phạm Văn Đồng gởi cho Chu Ân
Lai, Tổng Lư Quốc Vụ Viện Trung
Quốc là vô giá trị.
Chúng ta nhớ lại, ngày 4.9.1958,
Trung Quốc ra tuyên bố về lănh
hải của Trung Quốc, trong đó có
Hoàng Sa và Trường Sa. Sau đó,
ngày 14.9.1958 Thủ Tướng Phạm
Văn Đồng viết cho Chu Ân Lai,
Tổng Lư Quốc Vụ Viện Trung Quốc
một công hàm nói rằng Chính Phủ
VNDCCH tán thành tuyên bố ngày
4.9.1958 của CHND Trung Quốc.
Khi tài liệu này được tiết lộ,
nhiều tổ chức và người Việt
chống cộng ở hải ngoại đă dựa
vài đó, mở nhiều cuộc hội thảo,
ra tuyên ngôn tuyên cáo tố cáo
nhà cầm quyền CSVN đă “dâng đất
dâng biển cho Trung Quốc”.
Chúng tôi thấy đây là một hành
động thiếu suy nghĩ chin chắn và
rất tai hại. Nếu bảo rằng Phạm
Phạm Văn Đồng đă dâng Hoàng Sa
và Trường Sa cho Trung Quốc,
chúng ta đă mất Hoàng Sa và
Trường Sa sao? Sự thật không
phải như vậy. Hoàng Sa và Trường
Sa không thể bị coi là đă bị
“dâng” cho Trung Quốc v́ hai lư
do sau đây:
(1) Theo Hiệp Định Genève năm
1954, Hoàng Sa và Trường Sa đều
thuộc chủ quyền của VNCH v́ nằm
ở phía nam vĩ tuyến 17. Một
nguyên tắc căn bản của luật pháp
là “Nemo dat quod non
habet”, tức không ai có
thể cho cái ḿnh không có. Do đó,
Phạm Văn Đồng không thể “dâng”
đất VNCH cho Trung Quốc được.
Nếu Phạm Văn Đồng làm được như
thế, chúng tôi cũng có thể bán
Toà Bạch Ốc cho Trung Quốc lấy
vài trăm triệu xài chơi.
(2) Giả thiết hai đảo Hoàng Sa
và Trường Sa thuộc miền Bắc đi
nữa, công hàm của Phạm Văn Đồng
cũng không có giá trị, v́ điều
thứ 23 Hiến Pháp năm 1946 của
VNDCCH quy định rằng Nghị Viện
Nhân Dân
(tức Quốc
Hội)
“chuẩn y các hiệp ước mà Chính phủ kư với
nước ngoài”. Công hàm của Phạm
Văn Đồng không được
Quốc Hội
chuẩn y nên không có giá trị.
Nói tóm lại, không thể căn cứ
vào công hàm ngày 14.9.1958 để
nói rằng Hoàng Sa và Trường Sa
đă bị “dâng” cho Trung Quốc.
Hoàng Sa và Trường Sa vẫn là của
Việt Nam. Công hàm của Phạm Văn
Đồng chỉ là tṛ xảo trá của Đảng
CSVN khi xin Trung Quốc viện trợ
vũ khí và tiếp liệu để xâm chiếm
miền Nam Việt Nam mà thôi.
Tuy nhiên, chúng tôi rất buồn
cười khi một học giả bảo rằng
Trường Sa và Hoàng Sa lúc đó
thuộc VNCH và MTQGGPMN! Lúc đó,
MTQGGPMN chưa được thành lập làm
sao thuộc mặt trận này được?
Chúng tôi rất đồng ư với các hội
thảo viên, chính phủ phải ra một
tuyên cáo nói công hàm 1958 của
Phạm Văn Đồng vô giá trị để xác
định Hoàng Sa và Trường Sa vẫn
là của Việt Nam.
2.- Làm luật ấn định Hoàng Sa và
Trường Sa thuộc chủ quyền Việt
Nam.
Hôm 10.3.2009, bà Gloria
Macapagal Arroyo, Tổng thống
Philippines, đă kư đạo luật
tuyên bố chủ quyền Philippines
đối với hơn 7.100 đảo trong vùng
biển cạnh Philippines, trong đó
có hai đảo Hoàng Nham và Nam Sa
(tên Philippines là Kalayaan và
băi Scarborough) vốn được coi là
nằm trong quần đảo Trường Sa gần
Philippines. Thiết tưởng Quốc
Hội Việt Nam cũng phải làm một
đạo luật như thế v́ đă có tiền
lệ rồi.
3.- Dùng lịch sử và quốc tế công
pháp để đấu tranh.
Trong cuộc hội thảo, chúng tôi
thấy rất nhiều học giả và chuyên
gia thiên về giải pháp dùng lịch
sử và quốc tế công pháp để đấu
tranh với Trung Quốc. Sau khi
tham khảo một số tài liệu, chúng
tôi tin rằng Hà Nội đă tập trung
khá đầy đủ các tài liệu về lịch
sử và pháp lư để đầu tranh với
Trung Quốc, không cần nghiên cứu
thêm nữa. Nhưng trong thực tế
hiện nay những thứ đó không thể
xài được v́ các lư do sau đây:
Trước hết, chúng ta không thể
đưa nội vụ ra trước Toà Án Quốc
Tế rồi dùng lịch sử và pháp lư
để chứng minh chủ quyền của VN,
v́ một trong những điều kiện để
được Toà Án Quốc Tế thụ lư là
các bên tranh tụng phải cam kết
thi hành phán quyết của Toà. Khi
Trung Quốc không chịu cam kết
như vậy, Toà không thể thụ lư và
xét xử được.
Thứ đến, chúng ta cũng không thể
dùng lịch sử và pháp lư để yêu
cầu Đại Hội Đồng LHQ hay Hội
Đồng Bảo An LHQ giải quyết vấn
đề, v́ tiếng nói của Việt Nam
quá nhỏ bé tại đây, trong khi
các cuờng quốc v́ có nhiều quan
hệ kinh tế với Trung Quốc nên
không muốn can dự vào chuyện
tranh chấp giữa Trung Quốc và
Việt Nam. Điều cần lưu ư là
Trung Quốc c̣n có quyền phủ
quyết tại Hội Đồng Bảo An LHQ.
Chúng ta cũng không thể đem lịch
sử và pháp lư ra đối kháng trực
tiếp với Trung Quốc, v́ Trung
Quốc chỉ nói càn và xử dụng sức
mạnh. Trung Quốc chiếm Mông Cổ,
Tây Tạng, Hoàng Sa và Trường Sa
có căn cứ vào lịch sử hay pháp
lư đâu? Khi Trung Quốc tự động
vẻ Đường Lưởi Ḅ bao quanh Biển
Đông và tuyên bố vùng trong
đường đó là của Trung Quốc,
Trung Quốc có đếm xỉa ǵ đến
lịch sử và quốc tế công pháp đâu?
Đem lịch sử và pháp lư đối kháng
với Trung Quốc không khác ǵ Dân
Oan đem giấy chủ quyền đi khiếu
kiện nhà cầm quyền CSVN cướp đất
của họ!
Trong vụ khiêu khích tàu Hải
Quân Mỹ hôm 8.3.2009, Trung Quốc
c̣n biểu diễn cả tṛ tuột quần
để nói lên sự khinh bỉ Mỹ! Khi
Trung Quốc đă dùng tới những thứ
đó, chỉ có sức mạnh mới có thể
nói chuyện với Trung Quốc mà
thôi.
Nói tóm lại, hiện nay việc dùng
lịch sử và pháp lư để đấu tranh
với Trung Quốc là không thực tế,
nhưng Hà Nội cũng phải công bố
những tài liệu này cho người dân
cũng như thế giới biết.
4.- Bảo vệ quyền qua lại không
gây hại
Hiện nay, Trung Quốc đă vẻ một
đường lưởi ḅ ṿng quanh Biển
Đông, chỉ cách đường cơ sở
(bờ biển)
của các nước trong vùng khoảng
12 hải lư.
Cho dù hành động của Trung Quốc
được coi là hợp pháp đi nữa,
Trung Quốc vẫn phải tôn trọng
quyền qua lại không gây hại trên
Biển Đông, kể cả quyền đi qua
lănh hải, vùng tiết giáp lănh
hải, vùng đặc quyền kinh tế và
thềm lục địa của Trung Quốc. Có
thể ép buộc Trung Quốc phải tôn
trọng luật lệ này, v́ Hoa Kư,
Nhật Bản, Úc và Ấn Độ phải nhảy
vào để bảo vệ quyền lợi của họ
trong vùng.
5.- Đăng kư thềm lục địa mở rộng
Theo Công Ước LHQ về Luật Biển,
nước ven biển phải đăng kư yêu
sách về phạm vi của thềm lục địa
mở rộng với Ủy Ban Ranh Giới
Thềm Lục Địa
(Commission
on the Limits of the Continental
Shelf)
trong ṿng 10 năm kể từ khi Công
Ước bắt đầu có hiệu lực với nước
đó, hay từ khi Ủy Ban Ranh Giới
Thềm Lục Địa ban hành hướng dẫn
khoa học kỹ thuật về ranh giới
thềm lục địa kể từ ngày
13.5.1999. Nếu nước ven biển
không đăng kư đúng hạn, vùng
thềm lục địa mở rộng đó có thể
thuộc về một nước đă đăng kư
đúng hạn, hay có thể được coi là
tài sản chung của nhân loại.
Việt Nam đă phê chuẩn Công Ước
LHQ về Luật Biển ngày 25.7.1994
cho nên Việt Nam phải đăng kư
yêu sách về thềm lục địa mở rộng
trước ngày 13.5.2009.
Chúng tôi tin chắc Hà Nội đă
chuẩn bị xong các tài liệu luật
định đăng kư, nhưng đến nay vẫn
chưa đăng kư v́ sợ phản ứng
không thuận lợi của Trung Quốc
khi thềm lục địa mở rộng của
Việt Nam xâm phạm ranh giới lưỡi
ḅ do Trung Quốc ấn định. Vỉ thế
Việt Nam đang t́m một cơ hội
thuận tiện nhất để đăng kư hay
đăng kư vào ngày cuối cùng.
6.- Liên kết trong ngoài
Trong cuộc hội thảo, có học giả
đă đề nghị liên kết người Việt
trong và ngoài nước để bảo vệ
Hoàng Sa và Trường Sa, nhưng đây
cũng là một vấn đề khó thực hiện
được.
Rất nhiều người Việt chống cộng
ở hải ngoại không phân biệt giữa
đất nước với chế độ đang nắm
quyền trên đất nước, và không
hiểu rằng đất nước sẽ tồn tại
măi măi, c̣n chế độ sẽ bị biến
mất qua thời gian. Do đó, họ sẵn
sàng dùng tất cả mọi thứ để đập
cho chế độ thù nghịch sụp đổ, dù
phải mất một phần lănh thổ. Vụ
rầm rộ tố nhà cầm quyền CSVN
“dâng đất dâng biển cho Trung
Quốc” khi phát hiện công hàm
Phạm Văn Đồng là một thí dụ điển
h́nh, mặc dầu biết tố cáo như
vậy là một h́nh thức mặc thị
công nhận Việt Nam đă mất Hoàng
Sa và Trường Sa!
Tuy nhiên, rất nhiều trí thức và
học giả ở hải ngoại biết họ phải
làm ǵ đê bảo vệ tổ quốc, và họ
đă làm hay đang tiếp tục làm.
Nhưng họ đă và sẽ hành động với
tư cách cá nhân, chứ không nhân
danh tập thể người Việt ở hải
ngoại.
CHƯA CÓ ÁNH SÁNG CUỐI ĐƯỜNG HẦM
Trong khi xẩy ra vụ đụng độ giữa
Hoa Kỳ và Trung Quốc tại Biển
Đông, ông Phạm Quang Nghị, Bí
Thư Thành Ủy Hà Nội, đă sang
thăm Trung Quốc. Sau đó, ông Đới
Bỉnh Quốc, Thứ Trưởng Ngoại Giao
và Ủy Viên Quốc Vụ Viện Trung
Quốc lại đến thăm Việt Nam. Báo
Nhân Dân của Đảng CSVN hôm
17.3.2009 viết rằng ông Giải
Khánh Lâm, Ủy Viên Thường Vụ Bộ
Chính Trị Trung Ương Đảng Cộng
Sản Trung Quốc đă
"bày tỏ vui mừng nhận thấy rằng...
quan hệ hữu nghị, hợp tác
Trung-Việt đang không ngừng được
tăng cường cả về chiều rộng lẫn
chiều sâu."
Ngày
20.3.2009. Bộ Ngoại Giao Việt
Nam cho hay Việt Nam và Trung
Quốc đă đồng ư thiết lập một
đường dây nóng giữa các nhà lănh
đạo hai nước và tái khẳng định
“cam kết giải quyết tranh chấp
trên biển một cách ḥa b́nh”.
Trung Quốc và Việt Nam cũng đă
thỏa thuận sẽ phát động “Năm Hữu
nghị Trung Quốc - Việt Nam” vào
năm 2010 để đánh dấu kỷ niệm 60
năm ngày thiết lập quan hệ ngoại
giao giữa hai nước.
Qua các sự kiện nói trên, một số
nhà phân tích cho rằng Hà Nội
đang t́m cách giải quyết vấn đề
Biển Đông bằng con đường ngoại
giao, v́ các con đường khác đều
bế tắc.
Việt Nam thừa hiểu rằng những
phản ứng cứng rắn chẳng những
không đem lại kết quả nào mà có
khi c̣n gây thiệt hại cho việc
giao thương Việt – Trung. Hôm
10.3.2009, một viên chức tại
Pḥng Thương Mại và Kinh Tế của
Đại Sứ Quán Trung Quốc ở Việt
Nam phát biểu rằng Trung Quốc
vẫn duy tŕ vị trí là đối tác
thương mại lớn nhất của Việt Nam
trong 5 năm liên tiếp.
Năm 2008, tổng kim ngạch thương
mại song phương đă đạt 19,46 tỉ
USD, tức là tăng 28,8%. Số liệu
thống kê của Bộ Thương Mại Trung
Quốc cho thấy tính đến tháng 9
năm 2008, Trung Quốc đă đầu tư
trực tiếp 540 triệu USD vào Việt
Nam.
Tuy nhiên, ngày 20.3.2009 vừa
qua, công ty British Petroleum
(BP)
của Anh,
một công ty dầu khí lớn thứ ba
trên thế giới, tuyên bố sẽ rút
khỏi dự án thăm ḍ khai thác dầu
khí ở lô số 5,2 và 5,3 ngoài
khơi Việt Nam. BP là công ty sản
xuất khí đốt lớn nhất ở Việt
Nam, đă cung cấp 3 tỉ mét khối
khí mỗi năm từ Lô 06.1 ở Mỏ Nam
Côn Sơn. Lê Dũng, phát ngôn viên
của Bộ Ngoại Giao Việt Nam giải
thích rằng “quyết định này của
BP là do các yếu tố thuần túy
thương mại và kỹ thuật”. Nhưng
các nhà phân tích cho rằng các
công ty dầu khí ngoại quốc đă
nhận ra rằng việc giải quyết
tranh chấp về Biển Đông sẽ khó
có giải pháp trong một tương lai
gần, nên họ quyết định ngưng
khai thác để tránh khỏi những
đụng độ phiền phức.
Tháng 7
năm 2008, Bắc Kinh cũng đă yêu
cầu công ty Exxon Mobil rút khỏi
thỏa thuận hợp tác thăm ḍ dầu
khí với Việt Nam v́ cho rằng dự
án đó xâm phạm sự toàn vẹn lănh
thổ của Trung Quốc. Tờ Bưu Điện
Hoa Nam Buổi Sáng của Hongkong
nhận xét:
“Nếu đó
là vấn đề pháp lư đơn thuần, mọi
chuyện sẽ dễ dàng, nhưng sự việc
c̣n mang tính chính trị”.
Điều chắc chắn là hiện nay nhà
cầm quyền CSVN sẽ không dựa vào
các giải pháp thuần lư hay cảm
tính để đương đầu với Trung Quốc,
v́ cho rằng những giải pháp như
thế chỉ làm cho t́nh h́nh rối
reng thêm. Nhà cầm quyền đang cố
gắng t́m một giải pháp qua đường
thương lượng. Trong thời gian
chờ đợi, phải tránh đụng độ.
Nhưng cho đến nay, chúng ta vẫn
chưa thấy một ánh sáng nào ở
cuối đường hầm.
Lữ Giang
Ghi chú:
Nếu t́m không thấy bài, cứ vào
motgoctroi.com, mục "Mỗi
tuần một chuyện" sẽ thấy
trong đó.
|