|
Lữ Giang
Sau khi bài “Viết cho đúng sự thật” của chúng tôi
được phổ biến, ông Trần Gia Phụng đă viết một bài trả lời đề
ngày 24.11.2009. Nhưng ông đă không trả lời thẳng vào trọng
tâm của hai chủ đề chính do ông nêu ra và đă bị chúng tôi
bác bỏ với những bằng chứng khó có thể chối căi được, đó là
Dụ số 10 đă ưu đăi Thiên Chúa Giáo và Đức Tổng Giám Mục Ngô
Đ́nh Thục đă giả mạo số giáo dân trong tổng giáo phận Huế để
“vận động” làm Hồng Y. Ông chỉ trả lời một số chi tiết mà
chúng tôi có thể phản bác một cách dễ dàng. Nói cách khác,
ông không dám trực diện với vấn đề chính mà ông đă nêu ra:
Các nhà đấu tranh Phật Giáo năm 1963 đă dùng lá bài tôn giáo
để chống chính quyền Ngô Đ́nh Diệm, trong đó vai tṛ của Đức
TGM Ngô Đ́nh Thục được xử dụng như là một vơ khí nhạy bén để
tấn công. Đây là một thủ đoạn chính trị cần được làm sáng tỏ.
CHỌI ĐÁ ĐƯỜNG RẦY XE LỬA
Chúng tôi nhớ lại ở miền Trung, mỗi khi tới giờ xe lửa sắp
chạy qua làng, lũ trẻ thường lượm sẵn một vài cục đá và đứng
hai bên đường rầy, đợi khi xe lửa chạy qua c̣n phần cuối là
thi nhau ném vào các toa xe lửa rồi bỏ chạy. Chúng tôi không
ngờ ngày nay tṛ chơi chọi đá này lại trở thành một chiến
thuật “tác chiến” phổ biến trên nhiều websites và diễn đàn
Internet ở hải ngoại!
Một thí dụ cụ thể: Trọng tâm của cuốn “Biến Động Miền
Trung” của Liên Thành là đưa thêm một số sử liệu
chứng minh rằng năm 1966, Giáo Hội Phật Giáo Ấn Quang đă tạo
bạo loạn để cướp chính quyền nhưng bị Quân Lực VNCH dẹp tan.
Sau đó Giáo Hội này đă ngă theo Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam
và quyết tâm làm cho VNCH sụp đổ. Nó được thể hiện rơ nét
nhất là sau khi Việt Cộng chiếm miền Nam, Giáo Hội Ấn Quang
đă chính thức đứng ra tổ chức “Mừng Giải Phóng” và “Sinh
Hoạt Bác Hồ”. V́ không thể bác bỏ được sự kiện chính này,
nhóm bị “chạm nọc” đă dùng chiến thuật “chọi đá đường rầy xe
lửa” để phản công Liên Thành. C̣n Tiến Sĩ Trần Kiêm Đoàn ở
Sacramento viết bài “Đôi điều với Liên Thành về Biến Động
Miền Trung” đem Kinh Phật ra chơi tṛ “Cả vú lấp miệng
em”. Ông Liên Thành liền mời ông Trần Kiêm Đoàn đến đối
thoại tại cuộc hội thảo ở San Sacramento ngày 8.11.2009,
nhưng ông Đoàn đă từ chối.
Khi các chiến thuật nói trên không có tác dụng, phe đối thủ
đă cầu viện cả một tên cán bộ Việt Cộng nổi tiếng trong vụ
Tết Mậu Thân là Nguyễn Đắc Xuân ra “trợ chiến”! Nhưng
rồi Nguyễn Đắc Xuân cũng không dám trực diện với chủ đề
chính, mà chỉ chơi tṛ “chọi đá đường rầy xe lửa”!
Hiện nay, các nhóm bị “chạm nọc” v́ bài “Kẻ phản bội”
và bài “Viết cho đúng sự thật” của chúng tôi cũng
đang chơi tṛ “chọi đá đường rầy xe lửa”. Dĩ nhiên, khi
không thể tranh luận về chủ đề chính th́ chỉ c̣n một cách là
“chọi đá đường rầy xe lửa”. Nhưng có khi nào xe lửa ngừng
lại để xem đứa nào đă chọi đá và tại sao chúng nó chọi đá
đâu?
GÂY HẬN THÙ TÔN GIÁO
Tiếp tục trả lời ông Trần Gia Phụng, chúng tôi xin nói rơ:
Trong thời gian chống chế độ Ngô Đ́nh Diệm, các tăng sĩ lănh
đạo cuộc đấu tranh của Phật Giáo ở Huế đă áp dụng chiến
thuật gây hận thù tôn giáo để kích động đấu tranh. Chiến
thuật này đă được Hoà Thượng Trí Quang ghi rơ trong tập
“Tiểu truyện tự ghi” mà chúng tôi đă nhiều lần nhắc lại.
Thích Trí Quang viết:
“Vatican điều tra thấy Huế, địa phận của Tổng giám mục Ngô
đ́nh Thục, sao mà Phật giáo nhiều quá: Phật đản th́ cờ Phật
giáo đầy 2 bên đường từ Huế ra Lavang, kiệu đức mẹ th́ từ
Lavang vào Huế không có cờ của Vatican. Ông Ngô đ́nh Diệm
bèn bắt công chức Huế kê tên cả nhà để đưa cho anh ḿnh báo
cáo là giáo dân, và Phật đản 2507 (1963) th́ triệt hạ cờ
Phật giáo để Vatican thấy dân Huế theo anh ḿnh hết rồi”
Ông c̣n viết thêm: “Dụ số 10
được thêm dụ bổ túc, tăng cường sự hạ giá và kềm chế đối với
Phật giáo.”
Những lời phát biểu nói trên của Hoà Thượng Thích Trí Quang
cho thấy các nhà sư Phật Giáo đấu tranh đă:
(1) Dùng thể thức treo cờ tôn giáo và Dụ số 10 để gán ghép
chính phủ Ngô Đ́nh Diệm ưu đăi Công Giáo và ngược đăi Phật
Giáo.
(2) Cố t́nh gán ghép Tổng Giám Mục Ngô Đ́nh Thục vào biến cố
để buộc tội Công Giáo triệt hạ Phật Giáo.
Chúng tôi đă nhiều lần chứng minh các sự kiện và luận điệu
nói trên là do VỌNG NGỮ. Nhưng trong bài “Lư do cuộc đảo
chính 1.11.1963”, ông Trần Gia Phụng đă lặp lại những
vọng ngữ này với dụng ư xuyên tạc lịch sữ để biện minh cho
những sai lầm mà nhóm Phật Giáo đấu tranh đă vấp phạm.
Trong các cuộc đấu tranh của Phật Giáo trước năm 1975, vọng
ngữ đă được xử dụng tối đa. VỌNG NGỮ là một trong Thập Ác
của Phật Giáo, đó là “Do có ư lừa dối ngựi khác mà
dựng lên những lời nói không thực.” (Tự Điển Phật
Học Hán-Việt, Viện Nghiên Cứu Phật Học). Những vọng ngữ này
đă được lồng vào trong 5 nguyện vọng của Phật Giáo ngày
10.5.1963 và bây giờ vẫn c̣n được chứa đầy trong các sách và
websites viết về lịch sử đấu tranh của Phật Giáo, nhất là là
trong tập “Tiểu truyện tự ghi” của Thích Trí Quang,
websites của các nhóm Giao Điểm và Chuyển Luân.
Chiến thuật nói trên lúc đầu đă làm cho cuộc đấu tranh bùng
lên rất mạnh, nhưng v́ thiếu tổ chức và kinh nghiệm nên đă
bị cả Hoa Kỳ lẫn Việt Cộng biến thành công cụ, xài xong rồi
bỏ. Vọng ngữ càng ngày càng bị đưa ra ánh sáng.
Chúng tôi xin xác định, khi viết loạt bài này, chúng tôi
không cố ư chống đối hay bênh vực chế độ Ngô Đ́nh Diệm.
Chúng tôi chỉ muốn trả lại sự thật cho lịch sử.
Chúng tôi cũng chưa bao giờ phê phán Phật Giáo, chúng tôi
chỉ phê phán các nhà sư có nhiều tham vọng chính trị đă đưa
Phật Giáo và đất nước, nhất là VNCH, vào những ngày đen tối.
Một số người đă cố t́nh đồng hoá các nhà sư có nhiều tham
vọng chính trị này với Phật Giáo và dùng Phật Giáo làm cái
thuẩn che cho họ. Đó chỉ là tṛ lập lờ đánh lận con đen.
GÂY HẤN VỚI CHÍNH QUYỀN
Chúng tôi đă đưa ra những sự kiện lịch sử và pháp lư chứng
minh Dụ số 10 ngày 6.8.1950 do Bảo Đại kư và ban hành không
hề ưu đăi Thiên Chúa Giáo (Phật Giáo không nói đến các Hoa
Kiều Lư Sự Hội!) như Ủy Ban Liên Phái Phật Giáo đă rêu rao.
“Sử gia” Trần Gia Phụng đă viết về Dụ số 10 khi ông chưa hề
đọc Dụ này. Ông Diệm cũng không hề “thêm dụ bổ túc”
Dụ số 10 để “tăng cường sự hạ giá và kềm chế đối với
Phật giáo” như Thích Trí Quang đă bịa đặt. V́ thế, ở
đây chúng tôi không nói đến Dụ số 10 nữa mà chỉ nói đến việc
Phật Giáo đấu tranh đă dùng thể thức treo cờ tôn giáo do
chính phủ ấn định như là cái cớ để gây hấn với chính quyền.
1.- Thể thức treo cờ và lư do
Thể thức treo cờ quốc gia và cờ các tôn giáo trước tiên được
ấn định trong Nghị Định số 78/NV/NV/85 của Bộ Nội Vụ ban
hành vào tháng 9 năm 1957, sau đó được sửa đổi do Nghị Định
số 189/BNV/NA/PS ngày 12.5.1958 chứ không phải đến tháng 7
năm 1963 mới có nghị định ấn định thể thức treo cờ như ông
Trần Gia Phụng đă nói. Theo các nghị định này, cờ tôn giáo
chỉ được treo ở những nơi thờ phượng hay tư gia, không được
treo ngoài các cơ sở tôn giáo.
Đến năm 1962, Bộ Nội Vụ đă nhắc lại các nguyên tắc treo cờ
này. Lư do ấn định việc treo cờ đă được Thiếu Tướng Trần Tử
Oai, Giám Đốc Nha Chiến Tranh Tâm Lư, tŕnh với Phái Đoàn
Điều Tra Liên Hiệp Quốc như sau:
“Tổng Thống đi kinh lư tại các vùng cận Sài G̣n, thấy giữa
rừng cờ Phật Giáo chỉ có một lá quốc kỳ rách rưới và bạc màu.
Mặt khác, trong các buổi lễ Công Giáo, cờ Ṭa Thánh Vatican
cũng đă được xử dụng một cách quá đáng. Tổng Thống quyết
định chỉnh đốn lại t́nh trạng này. Ông muốn quốc kỳ, tượng
trưng cho dân tộc và quốc gia Việt Nam, phải được đặt vào
chỗ danh dự. Tổng Thống đă chỉ thị ông Bộ Trưởng Nội Vụ
chỉnh đốn lại theo tinh thần đó. Năm 1962, ông Bộ Trưởng Nội
Vụ đă ban hành văn kiện ấn định thể thức treo cờ tại những
nơi thờ tự trong những buổi lễ tôn giáo”.
Thiếu Tướng nhấn mạnh:
“Như thế, sự quy định của Chính Phủ về
vấn đề treo cờ là chung cho tất cả các tôn giáo không có
thiên vị tôn giáo nào.”
(Phúc tŕnh của Phái Đoàn Liên Hiệp Quốc, số 73)
2.- Lư do Phật Giáo Huế phẩn nộ
Mặc dầu đă có văn kiện ấn định thể thức treo cờ của chính
phủ, dưới thời chính phủ Ngô Đ́nh Diệm, hàng năm ở Huế lễ
Phật Đản đều được tổ chức rầm rộ trên các đường phố, cờ Phật
Giáo treo thoải mái, các hoành môn dọc đường và lễ đài đều
được Công Binh VNCH dựng giúp. Việc treo cờ thoải mái này đă
được Thích Trí Quang chính thức xác nhận trong “Tiểu
truyện tự ghi” mà chúng tôi đă trích dẫn ở trên:
“Phật đản th́ cờ Phật giáo đầy 2 bên đường từ Huế ra Lavang”.
Hàng năm, các giáo xứ công giáo như Phủ Cam, Kim Long, Gia
Hội... cũng đều có rước kiệu linh đ́nh, nhưng chỉ tổ chức
trong khuôn viên giáo xứ. Nhưng năm 1962, một cuộc ruớc kiệu
của công giáo đă diễn ra ngoài phố khiến một số nhà sư và
Phật tử cho rằng Công Giáo bắt đầu lấn lướt.
Nhà thờ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp của Ḍng Chúa Cứu Thế được xây
cất ở số 80 Nguyễn Huệ, Huế. Công tác xây cất đă được khởi
sự từ tháng 1 năm 1959, khi TGM Ngô Đ́nh Thục chưa về Huế.
Công tác này kéo dài đến tháng 8 năm 1962 mới hoàn tất. Lễ
khánh thành nhà thờ này được tổ chức vào ngày thứ bảy
12.8.1962. Dĩ nhiên, Đức TGM Ngô Đ́nh Thục được mời đến chủ
lễ. Sau khi làm phép nhà thờ mới, một cuộc rước kiệu Đức Mẹ
Hằng Cứu Giúp đă được tổ chức đi qua các đường xung quanh
nhà thờ.
V́ giáo xứ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp tọa lạc ngay giữa phố, nên
muốn rước kiệu, Ḍng Chúa Cứu Thể đă phải xin dùng các đường
phố quanh nhà thờ để rước. Thấy có Đức TGM Ngô Đ́nh Thục chủ
lễ, chính quyền địa phương đă “xum xoe” khác thường. Họ huy
động cơ quan cảnh sát và thông tin yểm trợ khá rầm rộ. Hàng
năm Phật Giáo rước kiệu ngoài đường phố th́ không sao cả.
Nay Công Giáo rước kiệu th́ một số nhà lănh đạo Phật Giáo
Huế cảm thấy “gai mắt” và “nóng mặt”.
3.- Thách đố chính quyền
Để “đáp lễ” hiện tượng nói trên và thách đố chính quyền, các
tăng sĩ ở Thưa Thiên – Huế quyết định tổ chức Lễ Phật Đản
tại Huế năm 1963 thật lớn với một cuộc rước từ chúa Điệu Đế
đến chùa Từ Đàm trên quảng đường dài trên 3 cây số, qua các
đường phố chính của thành phố Huế: Trần Hưng Đạo, cầu Trường
Tiền, Lư Thái Tổ... đến chùa Từ Đàm. Trên các đường chính
của thành phố như Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Duy Tân, Phan Bội
Châu, Nam Giao... đều có dựng quyền môn và treo cờ Phật Giáo
mà không hề xin phép chính quyền. Thậm chí cờ Phật Giáo c̣n
được giăng đầy trên cầu Trường Tiền bắc ngang qua sông Hương.
Ngoài ra, “khắp mọi nhà, mọi nẽo đường đều có treo cờ,
treo đèn, bày hương án bái vọng.”
(Tuệ Giác, Việt Nam Phật Giáo tranh đấu sử, Hoa Nguyên, Sài
G̣n 1964, tr. 81).
Bản “Tổng Kết Nội Vụ Phật Giáo” số 10364/CSĐB/4M ngày
21.10.1963 của Ty Cảnh Sát Quốc Gia Thừa Thiên gởi Thiếu
Tướng Đỗ Cao Trí, Chủ Tịch Ủy Ban Điều Hành Trung Nguyên
Trung Phần, đă cho biết như sau:
“Tỉnh hội Phật giáo đă tự động cho giăng nhiều dây giáo kỳ
dọc theo quốc lộ 1 từ cầu Bạch Hổ đến cầu An Ḥa, từ cầu An
Ḥa đến cầu Ba Đ́nh dọc theo đường Lê Văn Duyệt và tại một
vài đường lớn và đường kiệt trong Thành Nội, hoặc họ c̣n tự
tiện thiết lập lễ đài tại những địa điểm không được xin phép
trước như lễ đài ở khoảng đất trước điếm Cảnh Sát Tây Lộc
(Trái
với Thông Tư số 7554-TT/BC/TQ/2 ngày 27.4.1963 và Phúc văn
số 7553-TT/BC/TQ/2 ngày 2.5.1963 của Ṭa Tỉnh Trưởng Thừa
Thiên).
Những hoạt dộng khiêu khích nói trên của Phật Giáo Thừa
Thiên - Huế đều đă được báo cáo cho ông Ngô Đ́nh Cẩn biết,
nhưng ông Cẩn bảo cứ phớt lờ đi cho họ làm, coi như không có
chuyện ǵ xẩy ra cả. Tuy nhiên, ông Diệm lại bị trúng kế của
Phật Giáo Huế!
Bổng nhiên, theo khẩu lệnh của Tổng Thống, ngày 6.5.1963,
trước lễ Phật Đản chỉ có hai ngày, ông Quách Ṭng Đức, Đổng
Lư Văn Pḥng của Phủ Tổng Thống, đă gởi đến các ṭa hành
chánh tỉnh và thành phố trên toàn quốc công điện mang số
9195 nói về thể thức treo cờ tôn giáo. Cơ quan thông tin Huế
vác loa đi đọc công điện này trên nhiều khu phố. Do đó, từ
sáng sớm ngày 7.5.1963, tin “triệt hạ cờ Phật Giáo”
đă được loan truyền khắp thành phố Huế. Ông Nhu rất bất b́nh
về chuyện này v́ ông Diệm đă tự ư hành động mà không hề bàn
hỏi với ai.
Cho đến bây giờ vẫn chưa có thể xác định được ai đă thông
báo cho Tổng Thống Diệm biết việc Phật giáo Huế đang thách
đố chính quyền lúc đó. Có người nghi TGM Ngô Đ́nh Thục.
4.- Tuyên bố khai chiến
Ḥa Thượng Trí Quang cho biết:
“Một cuộc hội nghị mật được diễn ra và quyết định đoàn rước
Phật sẽ bắt đầu vào 8 giờ sáng mai 8.5.1963. Đoàn rước kỷ
niệm Phật đản 2507 tại trung tâm Huế khởi hành từ chùa Diệu
Đế lên chùa Từ Đàm sẽ là một cuộc biểu t́nh có tổ chức,
chính thức mở màn cho cuộc vận động của Phật giáo Việt Nam
dưới h́nh thức công khai.”
(Thích Trí Quang, “Cuộc vận động của Phật Giáo Việt Nam”,
Tuần báo Hải Triều Âm số 2 ngày 30.4.1964).
Khi buổi lễ bắt đầu, Thượng Tọa Thích Trí Quang đă lên diễn
đàn tuyên bố:
“Lấy tư cách Hội Trưởng Phật Giáo Trung Phần, tôi ra lệnh
các đạo hữu từ nay treo cờ Phật Giáo tại các chùa, khuôn (hội)
cũng như tại tư gia, đó là lệnh của tôi. Tôi xin gánh lấy
trách nhiệm và hậu quả trước chính quyền.”
(Tổng Kết Nội Vụ Phật Giáo số 10.364-CSĐB-4/M ngày
21.10.1963, Ty Cảnh Sát Quốc Gia Thừa Thiên, tr. 3).
Các nhà sư ở Huế đă biến thể thức treo cờ tôn giáo do chính
phủ ấn định thành “lệnh triệt hạ cờ Phật Giáo”
để bắt đầu mở chiến dịch khai chiến với chính quyền.
Câu chuyện trên đây có nhiều chi tiết rất phức tạp. Ở đây
chúng tôi chỉ kể tóm tắt. Nếu cần, chúng tôi sẵn sàng bóc
“củ hành” ra.
LÁ BÀI NGÔ Đ̀NH THỤC
Nếu chỉ dựa vào lệnh thi hành quy tắc treo cờ tôn giáo để
phát động cuộc đấu tranh, rất khó làm cuộc đấu tranh bùng
lên mạnh, mặc dầu các nhà lănh đạo Phật Giáo Huế đă biến quy
tắc đó thành “lệnh triệt hạ cờ Phật Giáo” (vọng
ngữ). V́ thế, các nhà lănh đạo Phật Giáo ở Huế đă nghĩ
ra một thủ đoạn khác là KÍCH ĐỘNG L̉NG HẬN THÙ TÔN GIÁO bằng
cách ghép Đức TGM Ngô Đ́nh Thục vào “lệnh triệt hạ cờ
Phật Giáo”. Chính Thích Trí Quang đă công khai nói
rằng TGM Ngô Đ́nh Thục đă giả mạo số giáo dân trong tổng
giáo phận Huế để “vận động” làm Hồng Y bằng cách triệt hạ cờ
Phật Giáo!
Ông Trần Gia Phụng cho rằng điều kiện để Ṭa thánh Vatican
xét phong hồng y và “việc vận động để được phong hồng y là
hoàn toàn chuyện khác.” Nhưng ở trong Giáo Hội Công Giáo
không bao giờ có chuyện “vận động” để được phong Giám Mục
hay Hồng Y. Ai có ư định này không bao giờ được phong. Số
giáo dân cũng không phải là yếu tố để được phong Hồng Y.
Điều 351 Bộ Giáo Luật ghi rơ rằng Đức Giáo Hoàng tự chọn
những giáo sĩ “trổi vượt về đạo lư, tác phong, đạo đức
và khôn ngoan trong cách xử sự công việc” để làm
Hồng Y. Không điều luật nào nói đến tiêu chuẩn “số giáo dân”
cả. Chuyện này là do một số tăng sĩ Phật Giáo phịa ra rồi
ghép cho TGM Ngô Đ́nh Thục để kích động Phật tử.
Việc xử dụng ḷng hận thù tôn giáo để làm động lực đấu tranh
đă không ngừng lại sau khi chế độ Ngô Đ́nh Diệm bị CIA lật
đổ. Thích Trí Quang nói: “Ngô
đ́nh Diệm đổ rồi, đúng như tôi dự đoán, vấn đề Phật giáo
không phải kết thúc mà là bắt đầu.” Để thực
hiện kế hoạch tiếp theo là thống lănh Phật Giáo và tiến tới
thành lập một chính phủ Phật Giáo (theo báo cáo của ông
Cabot Lodge), lá bài gây hận thù tôn giáo để kích động
Phật tử vẫn được tiếp tục xử dụng. Thiếu Tá Đặng Sỹ, người
có liên hệ đến biến cố trước đài phát thanh Huế đêm 8.5.1963
đă kể lại:
Ngày 23.11.1963, Quân Đoàn I nhận được một công điện của Hội
Đồng Quân Nhân Cách Mạng yêu cầu cho Thiếu Tá Đặng Sỹ vào
Sài G̣n tŕnh diện Trung Tướng Chủ Tịch Hội Đồng. Công điện
do Thiếu Tướng Đỗ Mậu (mới được thăng chức) kư tên
với danh nghĩa là Ủy Viên Chính Trị Hội Đồng Quân Nhân Cách
Mạng. Ngày 24.11.1963, Thiếu Tá Đặng Sỹ đến Sài G̣n. Ông bị
đưa về Cục An Ninh Quân Đội lúc khoảng 1 giờ chiều và bị
tống giam ngay vào pḥng biệt giam số 1. Ông thấy ở bên phải
ông là pḥng giam Việt Cộng, bên trái ông là pḥng biệt giam
số 2, có Thiếu Tá Hồ Châu Tuấn thuộc Lực Lượng Đặc Biệt.
Khoảng 5 giờ chiều Đỗ Mậu đến. Trước hết ông nói chuyện với
Thiếu Tá Hồ Châu Tuấn, sau đó ông ra lệnh mở cửa đưa Thiếu
Tá Đặng Sỹ ra nói chuyện với ông. Sau khi hỏi thăm sức khỏe,
ông nói:
‘Tôi nói cho anh biết, anh phải khôn ngoan một chút.
Tôi xem hồ sơ anh và tôi cũng biết anh là một quân nhân rất
tốt, chiến đấu có nhiều huy chương, nhưng với cái công việc
anh làm khiến người ta phải đưa anh ra truy tố, những công
trạng đó không ăn thua ǵ nữa. Tôi nói cho anh biết, nhân
dân rất sáng suốt, và Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng cũng biết.
Anh là người chỉ thi hành lệnh thôi và lệnh đó là lệnh
của ông Thục, nên anh cứ khai rơ ràng Đức Cha Thục đă ra
lệnh cho anh, hoặc trực tiếp hoặc qua một trung gian.
Anh là một quân nhân, dưới áp lực của một người quyền cao
chức trọng, th́ anh phải làm thôi. Anh chỉ cần khai đơn sơ
như thế thôi. Cũng như bao nhiêu người khác, anh sẽ thấy,
giam năm mười buổi chi rồi cũng cho họ trở lại đơn vị thôi.
Anh khai cho ông Thục, anh sẽ được trả tự do. Nếu anh có khả
năng, tôi sẽ đề nghị cho anh đi làm tùy viên quân sự ở các
nước. Anh muốn đi Phi Luật Tân, đi Thái Lan hay đi đâu cũng
được hết. Thôi! Khôn ngoan mà sống anh Sỹ hè!”
Sáng hôm sau, Thiếu Tá Đặng Sỹ được dẫn lên pḥng thẩm vấn
để lấy lời khai. Trưởng Pḥng Thẩm Vấn lúc đó là Đại Úy Xuân,
nhưng ông này không trực tiếp nói chuyện với Đặng Sỹ mà giao
cho một Trung Úy. Trước sự chứng kiến của Đại Úy Xuân, viên
Trung Úy này đă đưa cho Đặng Sỹ xem một chỉ thị của Thiếu
Tướng Đỗ Mậu viết trên một miếng giấy nhỏ, có nội dung đại
khái như sau: “Lưu ư Đặng Sỹ đừng khai dài ḍng, chỉ
nói mục đích chính của cuộc đàn áp. Hỏi Ngô Đ́nh Thục đă ra
lệnh cho y khi nào.” Sau đó, viên Trung Úy này đi ra
và giao cho một Đại Úy (tạm dấu tên) vào lấy lời khai
Đặng Sỹ.
Đại Úy này vốn là một cấp dưới quyền của Thiếu Tá Đặng Sỹ
khi ông làm Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 1, Trung Đoàn 1 thuộc
Sư Đoàn 1 ở Huế, nên đă cho Thiếu Tá Đặng Sỹ xem một mănh
giấy nhỏ của Đỗ Mậu ra lệnh cho anh đừng cho Thiếu Tá khai
vớ vẫn dài ḍng mà bằng mọi cách, phải buộc Thiếu Tá khai
một lời duy nhất là đủ, đó là Giám Mục Ngô Đ́nh Thục đă ra
lệnh Thiếu Tá ngày nào và giờ nào, hoặc trực tiếp hoặc qua
trung gian một người khác. Viết chừng một trang thôi, rồi
buộc Thiếu Tá kư nhận là đủ. Anh nói điều này rất nguy hiểm
và lưu ư Thiếu Tá Sỹ phải rất thận trọng.
Thiếu Tá Đặng Sỹ cám ơn Đại Úy này và nói ông sẽ t́m cách
đối phó. Cuộc hỏi cung trở thành một buổi diễn kịch.
PHẢN ỨNG CỦA CÔNG GIÁO
Sau khi được trả về pḥng giam, Thiếu Tá Đặng Sỹ đă t́m cách
liên lạc với một người quen ở trong Cục An Ninh Quân Đội nhờ
bí mật làm bản sao tờ chỉ thị viết tay của Đỗ Mậu và đưa đến
cho vợ ông đang ở đường Trương Minh Giảng, Sài G̣n, nói với
vợ ông phải đưa gấp cho Sư Huynh Bonnard, cậu của ông, đang
ở trường Taberd, Sài G̣n, để nhờ ông t́m cách thông báo ngay
cho các giáo sĩ quen biết để phá tan âm mưu nguy hiểm này.
Sư Huynh Bonnard đă hội kiến với Linh mục Trần Tử Nhăn ở
Ḍng Chúa Cứu Thế và quyết định sao chỉ thị của Đỗ Mậu ra
thành nhiều bổn và gởi đến những vị đang lănh đạo Giáo Hội
sau đây: Đức Tổng Giám Mục Sài G̣n Nguyễn Văn B́nh; Đức Giám
Mục Salavator Asta, Khâm Sứ Ṭa Thánh tại miền Nam Việt Nam;
Linh mục Nguyễn Văn Thuận, Tổng Đại Diện Giáo Phận Huế; Limh
mục Hoàng Quỳnh, một lănh tụ đấu tranh của khối Công Giáo,
v.v.
Nhận được tài liệu này, Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn B́nh đă
ra chỉ thị thành lập một ủy ban đặc biệt để nghiên cứu âm
mưu của Đỗ Mậu và t́m phương thức đối phó. Ṭa Tổng Giám Mục
Huế đă gởi ngay Linh mục Nguyễn Văn Trinh vào Sài G̣n để hội
kiến với các giáo sĩ và các tổ chức đầu tranh của người công
giáo.
Tôi nhớ Linh mục Phan Văn Thăm, Chủ nhiệm báo Thẳng Tiến, có
được mời đi dự cuộc họp của ủy ban. Khi về, linh mục cho
biết kết quả như sau: Ủy Ban nhận định rằng âm mưu của Đỗ
Mậu nhắm thực hiện hai mục tiêu sau đây:
(1) T́m cách buộc tội và tuyên án tử h́nh Đặng Sỹ:
V́ hồ sơ vụ án không có bằng chứng nào cho thấy Đặng Sỹ có
trách nhiệm trong vụ nổ trước đài phát thanh Huế tối
8.5.1963, nên Đỗ Mậu phải dụ Đặng Sỹ khai rằng ông đă nhận
chỉ thị của TGM Ngô Đ́nh Thục để thực hiện cuộc tàn sát đó.
Đây là một h́nh thức gián tiếp nhận tội và toà sẽ căn cứ vào
lời khai đó, tuyên án tử h́nh.
(2) Cố ư ghép TGM Ngô Đ́nh Thục vào nội vụ để kích động ḷng
hận thù tôn giáo làm động lực cho cuộc đấu tranh của Phật
Giáo.
Ủy Ban cũng nhận định rằng Đỗ Mậu có tŕnh độ thấp (tiểu
học), chỉ có thủ đoạn vặt chứ không thể nghĩ ra được âm
mưu thâm độc này. Phải có một tổ chức đứng đàng sau xúi giục
Đỗ Mậu làm. Vậy cần có những biện pháp đối phó với tổ chức
này. Giải pháp sơ khởi là ngầm thông báo cho một số Tướng
Lănh trong Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng biết âm mưu mà Đỗ
Mậu đang thực hiện. Nếu họ không có biện pháp, sẽ công bố
chỉ thị mật của Đỗ Mậu cho dư luận quốc tế và quốc nội biết.
Dầu sao, cũng phải yêu cầu các giáo xứ trên toàn quốc tổ
chức lại hàng ngũ để khi cần, đối phó với các biến cố có thể
xẩy ra.
Khi tin nói trên đến tai một vài Tướng Lănh trong HĐQNCM,
ngày 5.1.1964, Tướng Nguyễn Văn Quan đă được cử làm Giám Đốc
An Ninh Quân Đội, c̣n Tướng Đỗ Mậu được chuyển qua làm Tổng
Trưởng Thông Tin! Vấn đề coi như tạm yên. Nhưng các nhà lănh
đạo Công Giáo miền Nam lúc đó tin rằng nhóm chủ trương dùng
ḷng hận thù tôn giáo để tạo bạo loạn cướp chính quyền không
bao giờ chịu bỏ tham vọng của họ, nên đă cho h́nh thành
Khối Công Dân Công Giáo và Lực Lượng Đại Đoàn Kết để đối
phó với t́nh h́nh mới.
Khi Đỗ Mậu c̣n sống, chúng tôi đă công bố âm mưu này trên
báo Saigon Nhỏ số ra ngày 18.8.2000 và một vài số tiếp theo,
và thách Đỗ Mậu đối thoại với Thiếu tá Đặng Sỹ. Chúng tôi đă
cho người cầm tờ báo đến trao tận tay Đỗ Mậu và mời ông lên
truyền h́nh hay truyền thanh nói chuyện, chúng tôi sẵn sàng
chịu mọi chi phí, nhưng ông đă làm thinh.
Khi các tổ chức chính trị của Công Giáo nhập cuộc, các tổ
chức Phật Giáo đấu tranh bắt đầu mất ưu thế.
CHUYỆN ĐƯƠNG NHIÊN
Thích Trí Quang có tŕnh độ văn hóa thấp, tính t́nh nóng nảy
và bốc đồng, nhưng lại có tham vọng rất lớn: Thống lănh Phật
Giáo để tiến tới thành lập một chính phủ Phật Giáo do ông
làm quốc sư. Bà Trần Hoài Trân, Giáo Sư Đại Học Luật Khoa
Saigon, c̣n cho biết:
“Giấc mơ của nhóm Thượng Tọa Thích Quang là giấc mơ một nước
Việt Nam trung lập, độc lập và theo Phật Giáo, trong một
Đông Nam Á trung lập và Phật Giáo”.
Để đạt mục tiêu đó, Thích Trí Quang đă dùng bất cứ thủ đoạn
nào, trong đó có cả thủ đoạn kích động ḷng hận thù tôn giáo
để làm động lực đấu tranh. Nhưng Kinh Pháp Cú đă mở đầu như
sau:
“Trong các pháp, tâm dẫn đầu, tâm là chủ, tâm tạo tất cả.
Nếu đem tâm ô nhiểm tạo nghiệp nói năng hoặc hành động, sự
khổ sẽ theo nghiệp kéo đến như bánh xe lăn theo chân con vật
kéo xe.”
Cuộc đấu tranh của Phật Giáo do Thích Trí Quang lănh đạo mà
Đặng Văn Nhâm gọi là “Giặc Thầy Chùa” sụp đổ
và tan rả là chuyện đương nhiên. Lá bài Ngô Đ́nh Thục đă trở
thành gậy ông đập lưng ông. “Đại sử gia” Trần Gia Phụng
không thể dùng vọng ngữ để “hoá giải” hay “giải nghiệp”
những hậu quả do vọng ngữ tạo ra được.
Ngày 30.11.2009
Lữ Giang
|