|
♠
www.motgoctroi.com
mến chào bạn
Con người gây tranh căi
Lữ Giang
Trong chiến tranh và sau chiến tranh Việt Nam, con người nổi
tiếng nhất trên lănh vực nghệ thuật lại là con người gây
nhiều tranh căi trên lănh vực chính trị, nhất giữa những
người ở hai bên chiến tuyến đối nghịch, đó là Trịnh Công Sơn.
Sự tranh căi đă gia tăng khi mới đây Trịnh Cung và Liên
Thành đă đưa ra ánh sáng một số bí mật mới liên quan đến
cuộc đời chính trị của Trịnh Công Sơn. Sự tranh căi đă lên
cao khi có sự can thiệp của nhà cầm quyền Việt Nam.
Ngày 13.8.2009, UBND tỉnh B́nh Định đă ra quyết định đ́nh
chỉ phát hành cuốn sách "Trịnh Công Sơn - Vết chân dă
tràng" của tác giả Nguyễn Thị Thanh Thúy, bút hiệu là
Ban Mai, v́ lư do cuốn sách này vi phạm Luật Xuất Bản.
Tin tức cho biết, theo sự đánh giá của hội đồng thẩm định
địa phương, tác phẩm này “có
nội dung thiếu khách quan; xuyên tạc sự thật lịch sử; xúc
phạm những trí thức, nhạc sĩ khác...”
UBND tỉnh B́nh Định cũng đề
nghị xem xét, xử lư vi phạm của NXB Lao Động, Trung Tâm Văn
Hóa Ngôn Ngữ Đông-Tây về việc ấn hành tác phẩm này.
Được biết, cuốn sách “Trịnh Công Sơn – Vết chân dă tràng”
đă được Nhà Xuất Bản Lao Động và Trung Tâm Văn Hóa Ngôn Ngữ
Đông-Tây xuất bản từ tháng 8/2008, nhưng đến nay mới được
nhà cầm quyền nêu lên. Sự phê phán được tập trung vào Chương
IV của cuốn sách dưới đề tựa "Trịnh Công Sơn và chiến
tranh Việt Nam", trong đó trích lại hầu hết những lời ca
của Trịnh Công Sơn liên quan đến cuộc chiến Việt Nam, chẳng
hạn như:
Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu,
Một trăm năm nô lệ giặc Tây,
Hai mươi năm nội chiến từng ngày...
hay
Với
da vàng Việt nam vỡ nát,
Xương thịt đó thiêng liêng vô cùng,
với những câu nhận định của tác giả
Ban Mai như: "Cho đến ngày
nay, quan điểm về tên gọi cuộc chiến vẫn là điều tranh căi",
"Cái bi thảm nhất là ở chỗ: cùng là người Việt Nam, nhưng
người Việt lại bắn giết người Việt"...
Tác giả c̣n đi xa hơn khi đặt câu hỏi:
“Thân phận da vàng người Việt ngày nay đă thực sự thoát
đời nô lệ ngoại bang chưa?"...
Một bài báo đăng trên nhật báo Nhân
Dân của đảng CSVN đă viết rằng cuốn sách
"phỉ báng xương máu của bao thế hệ
cha anh đă ngă xuống tô thắm nền ḥa b́nh của đất Việt".
Trước khi bàn về tác phẩm của tác giải Ban Mai, chúng tôi
xin tŕnh bày lại rơ ràng hơn tiểu sử của Trịnh Công Sơn và
những bí mật về sự dính líu của ông vào cả hai bên đối đầu
trong cuộc chiến Việt Nam, v́ đây là những điểm then chốt đă
đưa tới những tranh căi.
VÀI NÉT VỀ TRỊNH CÔNG SƠN
V́ tiểu sử Trịnh Công Sơn không có ǵ “oanh liệt” và dính
líu quá nhiều đến VNCH nên các bài và sách trong nước khi
viết về tiểu sử Trịnh Công Sơn thường cố gắng đơn giản hoá,
“huyền thoại hoá” và bịa đặt thêm để tô điểm cho Trịnh Công
Sơn. Đa số đă mô tả về tiểu sử Trịnh Công Sơn gióng hệt nhau
như sau:
Trịnh Công Sơn sinh ngày 28 tháng 2 năm 1939 tại Lạc Giao,
tỉnh Dak Lak. Ông lớn lên ở Huế, tốt nghiệp tú tài ban Triết
tại Chasseloup Laubat, Sài G̣n, tốt nghiệp Đại học Sư phạm
(khoa Triết học) tại Qui Nhơn. Sau đó ông trốn lính,
vào Bảo Lộc tỉnh Lâm Đồng và làm nghề dạy học.
Chỉ một đoạn ngắn này thôi cũng đă sai quá nhiều chỗ:
Trịnh Công Sơn không hề học trường Chasseloup Laubat, không
hề tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm Quy Nhơn, v́ lúc đó Quy Nhơn
chưa có trường đại học và dù Quy Nhơn có trường đại học đi
nữa, Trịnh Công Sơn cũng không vào được v́ Trịnh Công Sơn
chưa hề có Tú Tài Toàn Phần. Trịnh Công Sơn cũng không hề
trốn lính lên Bảo Lộc dạy học.
Trịnh Công Sơn sinh vào giờ Th́n, ngày 10 tháng Giêng năm Kỷ
Măo, tức ngày 28.2.1939, tại xă Lạc Giao (nay là
phường Thống Nhất, Ban Mê Thuột),
tỉnh Dak Lak.
Năm 1943 Trịnh Công Sơn theo gia đ́nh chuyển về Huế. Ông học
trường tiểu học Nam Giao (nay là Trường An),
sau đó vào học trường Pellerin của các Sư Huynh ḍng La San
(Institut des Frères des écoles chrétiennes do
Saint Jean-Baptiste de La Salle lập),
rồi qua học trường Thiên Hựu (Institut de la
Providence) của Hội Thừa Sai Paris
(Société des Missions Étrangères de Paris) ở Huế. Đây
là hai trường nổi tiếng ở Huế, dạy chương tŕnh Pháp, nhưng
Trịnh Công Sơn chỉ mới lấy được bằng Tú Tài I (tức Tú Tài
Bán Phần) rồi ngưng học.
Năm 1962, Trường Sư Phạm Qui Nhơn được thành lập để đào tạo
hàng loạt những Giáo Học Bổ Túc, cung ứng cho các tỉnh thuộc
Vùng II. Tiêu chuẩn tối thiểu để nộp đơn là bằng Trung Học
đệ nhất cấp. Có hai loại khoá học: “Khoá Thường Xuyên" học
hai năm và "Khóa Cấp Tốc", học một năm. Khi ra trường, đa số
được bổ đi dạy tại các trường tiểu học ở các vùng quê. Trịnh
Công Sơn đă thi đậu vào khoá đầu tiên (khoá 1)
của trường này. Sĩ số giáo sinh là ba trăm người. Đa số là
người Huế, chiếm khoảng 60%. Số c̣n lại thuộc các tỉnh Quảng
Nam, Quảng Ngăi, B́nh Định, Phú Yên, Khánh Ḥa, Đà Lạt, Lâm
Đồng, PleiKu, KonTum. Khoá 1 khai giảng ngày 22.4.1962. Ông
Bùi Khương, cùng học khoá 1 với Trịnh Công Sơn, cho biết
khóa 1 đă ra trường cấp tốc chỉ sau một năm thụ huấn.
Những người cùng học khoá 1 với Trịnh Công Sơn ở Trường Sư
Phạm Qui Nhơn có kể lại một số sinh hoạt của Trịnh Công Sơn
tại trường nầy như sau:
Lúc đó, Trịnh Công Sơn say mê sáng tác và lưu tâm nhiều đến
phối khí ḥa âm. Chính trong thời gian này, Trịnh Công Sơn
đă sáng tác bài "Biển nhớ" và trường ca “Dă tràng xe cát”.
Mùa Giáng sinh 1962, Trịnh Công Sơn đă
cùng với một số bạn bè thành lập một ban Kích Động Nhạc để
vui chơi và thử nghiệm. Trong thời gian học ở trường
Pellerin và Thiên Hựu, Trịnh Công Sơn đă chịu ảnh hưởng khá
nhiều của loại nhạc plain chant (b́nh ca)
và chorale (hợp xướng)
của Công Giáo. Do đó, theo yêu cầu của nhà trường và cũng v́
muốn thử sức ḿnh trong lănh vực này, Trịnh Công Sơn đă phối
hợp với các sinh viên trường Sư Phạm Ghềnh Ráng thành lập
một Ban Hợp Xướng tŕnh diễn trong dịp lễ Giáng Sinh.
Tốt nghiệp khoá 1 Trường Sư Phạm Quy Nhơn, Trịnh Công Sơn
được bổ nhiệm đi dạy học ở Bảo Lộc, Lâm Đồng. Sau đó Trịnh
Công Sơn làm hiệu trưởng một trường tiểu học ở Bảo Lộc.
Trước 30.4.1975, tại Quy Nhơn không hề có trường đại học nào.
Trường Cao Đẳng Sư Phạm Quy Nhơn mới được nhà cầm quyền CSVN
thành lập năm 1977 với nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng giáo viên
trung học phổ thông cho các tỉnh khu vực duyên hải Nam Trung
bộ và Tây Nguyên. Như vậy không thể có chuyện Trịnh Công Sơn
học Trường Đại Học Sư Phạm Quy Nhơn ban Triết.
Ngày 5.12.2003, Trường Cao Đẳng Sư Phạm Quy Nhơn được đổi
thành Trường Đại Học Quy Nhơn.
DÍNH LÍU VÀO CHÍNH TRỊ
Sau khi chính phủ Ngô Đ́nh Diệm bị lật đổ, phong trào đấu
tranh của Phật Giáo để tiến tới nắm chính quyền ngày càng
lên mạnh, trong đó các bạn bè của Trịnh Công Sơn ở Huế đang
đóng vai tṛ then chốt trong chiến dịch này, dưới quyền lănh
đạo của hai Thượng Toạ Thích Trí Quang và Thích Thiện Minh.
Do đó, năm 1965 Trịnh Công Sơn đă tự ư bỏ dạy học, trở về
Huế hoạt động.
Đám bạn bè chính của Trịnh Công Sơn đang hoạt động chống
chính phủ VNCH lúc đó gồm có Ngô Kha, Hoàng Phủ Ngọc Tường,
Trần Viết Ngạc, Lê Khắc Cầm, Thái Ngọc San, Chu Sơn, Đỗ Long
Vân, Nguyễn Văn, Lê Tử Thành, Bửu Ư, Nguyễn Tuấn Khanh, Phan
Duy Nhân, Lê Hiếu Đằng... Trong đám bạn bè và “chiến hữu”
này có hai người thân nhất và có ảnh hưởng nhiều nhất đối
với Trịnh Công Sơn nhất là Ngô Kha và Hoàng Phủ Ngọc Tường.
Đầu tháng 4/1966, khi nghe tin chính phủ Nguyễn Cao Kỳ đưa
quân ra Đà Nẵng dẹp loạn, theo lệnh của Thượng Tọa Thích Trí
Quang, ngày 5.4.1966 “Đoàn Thanh Niên Quyết Tử” được
thành lập, lúc đầu gồm 66 sinh viên, do Nguyễn Đắc Xuân,
sinh viên Đại Học Sư Phạm Huế làm Đoàn Trưởng. Ngày
8.4.1966, một bộ phận của đoàn này được gởi vào chi viện cho
Đà Nẵng. Theo Thiếu Tá Liên Thành, cựu Trưởng Ty Cảnh Sát
Huế, chính Đoàn Thanh Niên Quyết Tử này đă phá kho súng của
2 Ty Cảnh Sát Quảng Trị và Huế, lấy khoảng 4000 ngàn súng
gồm tiểu liên, Shotgun, và súng lục, 120 thùng lựu đạn M 26,
khoảng 100 xe Jeep Cảnh Sát và toàn bộ máy móc truyền tin
rồi dùng xe, máy móc truyền tin và súng của Cảnh Sát tuần
tiểu và canh gác trong thành phố. Cũng chính đoàn này về sau,
đă theo lệnh Thích Trí Quang, đưa hàng trăm bàn thờ xuống
đường.
Theo lời kêu gọi của Thích Trí Quang, gần nửa quân nhân Phật
tử thuộc Sư Đoàn I Bô Binh, các đơn vị Địa Phương Quân,
Nghĩa Quân đă buông súng trở về thành phố tham gia cuộc nổi
loạn. Đầu tháng 5/1966, Ngô Kha đă tập hợp các quân nhân ly
khai này lại thành một tổ chức mang tên “Chiến Đoàn
Nguyễn Đại Thức” để chống lại chính quyền.
BỊ ĐẨY VỀ PHÍA KẺ THÙ
Những nỗ lực tạo bạo loạn để cuớp chính quyền của nhóm Thích
Trí Quang đă bị Quân Đôi VNCH dẹp tan, Giáo Hội Phật Giáo Ấn
Quang liền đứng hẵn về phe Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.
Nhiều thành phần chủ chốt trong nhóm tranh đấu của Thích Trí
Quang đă bỏ thành phố đi vào chiến khu theo Việt Cộng, chẳng
hạn như Hoàng Phủ Ngọc Tường (dạy học),
Hoàng Phủ Ngọc Phan (SV Y Khoa),
Nguyễn Đắc Xuân (SV Đại Học Sư Phạm),
Trần Quang Long (SV Đại Học Sư Phạm),
Lê Minh Trường (Sinh Viên Mỹ Thuật),
Huỳnh Sơn Trà (SV Y Khoa),
Nguyễn Văn Sơ (SV Đại Học Sư Phạm),
Ngô Yên Thi (SV Văn Khoa), Trần
Bá Chữ (SV Đại Học Sư Phạm)
v.v. Đa số c̣n lại bị cơ quan an ninh VNCH bắt giữ, một số
ẩn trốn trong quần chúng.
Theo cựu Thiếu Tá Liên Thành, Cảnh Sát Huế đă khám phá ra
Trịnh Công Sơn là một trong những người đă giúp đưa hai anh
em Hoàng Phủ Ngọc Tường (giáo sư trường Quốc Học)
và Hoàng Phủ Ngọc Phan (SV Y Khoa)
vào chiến khu. Hai tên này đă từ nhà sách Khánh Quỳnh đến
nhà tên Nguyễn Chính, một cán bộ cộng sản, ở đường Nguyễn
Trường Tộ, bên này cầu Phủ Cam, rồi sau đó qua nhà Trịnh
Công Sơn ở bên kia cầu Phủ Cam. Lê Cảnh Đạm, lúc đó đang làm
Tổng Thư Kư Đại Học Y Khoa Huế, với sự hộ tống của Tôn Thất
Dương Tiềm, đă lái chiếc xe màu trắng của bà Tuần Chi
(nguyên hiệu trưởng trường Đồng Khánh)
đến đón Tường và Phan lên chùa Thiên Mụ rồi từ đó, đi bộ
vượt Long Hồ, Ngọc Hồ, vượt nguồn tả sông Huơng đến mật khu
sau núi Kim Phụng.
LỆ THUỘC VÀO ĐÀN ANH
Như chúng tôi đă nói ở trên, Hoàng Phủ Ngọc Tường và Ngô Kha
là hai người thân nhất và có ảnh hưởng nhất đối với Trịnh
Công Sơn, cả hai đă trở thành cán bộ cộng sản, một tên hoạt
động trong chiến khu c̣n một tên hoạt động nội thành.
1.- Hoàng Phủ Ngọc Tường:
Quê xă Triệu Long, huyện Triệu Hải, tỉnh Quảng Trị, sinh
ngày 9.9.1937 tại thành phố Huế. Ông học hết bậc trung học ở
Huế rồi vào Sài G̣n học khóa I Trường Đại Học Sư Phạm Sài
G̣n, ban Việt Hán, và tốt nghiệp năm 1960. Trở về Huế, ông
dạy triết ở trường Quốc Học và học Đại Học Văn Khoa Huế. Năm
1964, ông đậu cử nhân triết.
Sau khi cuộc nổi loạn của nhóm Thích Trí Quang bị dẹp tan,
Hoàng Phủ Ngọc Tường đă đi vào chiến khu và được giao nhiệm
vụ viết báo ở Ban Tuyến Huấn Thành Uỷ Huế.
Trong biến cố Tết Mậu Thân, Hà Nội cho thành lập Liên Minh
Các Lực Lượng Dân Tộc, Dân Chủ và Hoà B́nh do giáo sư Lê Văn
Hảo làm chủ tịch, Hoà Thượng Thích Đôn Hậu và bà Tuần Chi
làm phó chủ tịch, Hoàng Phủ Ngọc Tường làm tổng thư kư.
Những người này được đưa tới Chỉ Huy Sở Tiền Phương của Mặt
Trận Huế ở núi Kim Phụng, phía tây Huế. Hoàng Phủ Ngọc Tường
được giao phụ trách viết “Lời hiệu triệu” của Liên Minh, thu
băng và đem phát thanh trên các đường phố Huế. “Lời hiệu
triệu” kêu gọi quần chúng nổi dậy.
Nhiều nhân chứng cho biết Hoàng Phủ Ngọc Tường là người chủ
tŕ các phiên xử tại trường tiểu học Gia Hội, tuyên án tử
h́nh rất nhiều người. Nhưng Hoàng Phủ Ngọc Tường phủ nhận
điều này và nói rằng lúc đó ông đang ở núi Kim Phụng với các
thành viên trong Liên Minh. Dù sự thật như thế nào đi nữa,
Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng là kẻ đồng loả với những người
phạm tội ác chống lại nhân loại.
Sau vụ Mậu Thân thất bại, Hoàng Phủ Ngọc Tường đă trở lại
chiến khu ở vùng A Lưới, phía tây nam Huế, nhưng không được
giao nhiệm vụ ǵ. Năm 1972, khi Cộng quân chiếm được một
phần tỉnh Quảng Trị, Hoàng Phủ Ngọc Tường được cử làm Trưởng
Ty Văn hoá tỉnh Quảng Trị. Nhưng chức vụ này chỉ có trên
danh nghĩa.
Sau khi Việt Cộng chiếm miền Nam, Hoàng Phủ Ngọc Tường đă về
lại Huế và được giao cho giữ chức Phó chủ tịch Hội Văn học
Nghệ thuật B́nh Trị Thiên. Trịnh Công Sơn đă từ Sài G̣n ra
Huế với hy vọng sẽ núp bóng Hoàng Phủ Ngọc Tường và bạn bè
cũ để nối tiếp sự nghiệp của ḿnh. Nhưng, theo Trịnh Cung,
bỗng dưng cả thành phố Huế lên cơn sốt đả đảo Trịnh Công Sơn
và Phạm Duy. Các biểu ngữ được giăng ở các trường đại học và
Trịnh Công Sơn phải lên Đài truyền h́nh Huế đọc bài tự kiểm
điểm. Sau đó, Trịnh Công Sơn phải đi vùng kinh tế mới cuốc
đất làm rẩy. Khoảng năm 1978, Trịnh Công Sơn mới có thể trở
về Sài G̣n. Sau khi Trịnh Công Sơn qua đời, Hoàng Phủ Ngọc
Tường đă viết cuốn “Cây đàn
lia và hoàng tử bé” để nói
về Trịnh Công Sơn.
Có tài liệu nói rằng Hoàng Phủ Ngọc Tường là đảng viên đảng
CSVN, nhưng chúng tôi không tin, v́ đảng CSVN không bao giờ
thu nhận một trí thức thường có những triết lư vụn vặt như
Hoàng Phủ Ngọc Tường. Ông chỉ được phụ trách một số công tác
lặt vặt như Chủ tịch Hội Văn nghệ Quảng Trị, Tổng biên tập
tạp chí Sông Hương, Cửa Việt, v.v.
Hoàng Phủ Ngọc Tường đă bị tai biến mạch máu năo và bị liệt
nữa người cách đây khoảng 10 năm và hiện đang sống với vợ là
Lâm Thị Mỹ Dạ ở 280/8 Phan Bội Châu, thành phố Huế.
2.- Ngô Kha:
Trịnh Công Sơn chịu ảnh hưởng của Ngô Kha nhiều hơn Hoàng
Phủ Ngọc Tường v́ những lư do sau đây: Mặc dù lớn hơn Trịnh
Công Sơn đến 4 tuổi, Ngô Kha là em rể của Trịnh Công Sơn.
Trịnh Công Sơn có 2 người em trai và 5 người em gái. Người
em gái lớn nhất là Trịnh Vĩnh Thúy đă lấy Ngô Kha. Ngô Kha
lại là người có học thức, rất sâu sắc, có đầu óc thực tế và
có mưu lược, nên được Trịnh Công Sơn mến phục. Trịnh Công
Sơn thường hành động theo sự hướng dẫn hay chỉ đạo của Ngô
Kha.
Ngô Kha sinh năm 1935 tại làng Thế Lại, thành phố Huế, tốt
nghiêp Đại Học Sư Phạm Huế khoá 1 (1958-1959)
về môn Văn, và dạy Việt Văn tại trường Quốc Học, Huế. Năm
1962, Ngô Kha đậu thêm cử nhân luật khoa ở Huế.
Trong cuộc bạo loạn của Phật Giáo năm 1966, Ngô Kha thuộc
thành phần chỉ đạo, đúng đàng sau giựt dây anh em hoạt động.
Như đă nói ở trên, chính Ngô Kha đă dứng ra lập “Chiến
Đoàn Nguyễn Đại Thức” để chống lại Quân Lực VNCH. Sau
khi Huế thất thủ, Ngô Kha không đi vào chiến khu như Hoàng
Phủ Ngọc Tường mà ở lại nội thành hoạt động dưới sự chỉ đạo
của Thành Ủy Huế. Ngô Kha đă bị bắt và bị đưa đi an trí ở
Phú Quốc hai năm rồi bốn năm, đến năm 1970 mới được thả về.
Năm 1971, Ngô Kha đă bị bắt lại, nhưng cũng được phóng thich
sau một thời gian ngắn. Tuy nhiên, Ngô Kha vẫn tiếp tục hoạt
động cho Cộng Sản.
Ngô Kha đă lập nhóm trí thức đấu tranh Tự Quyết gồm Trần
Viết Ngạc, Lê Khắc Cầm, Thái Ngọc San, Chu Sơn và Trịnh Công
Sơn. Năm 1972, Ngô Kha lại lập thêm Mặt Trận Văn Hóa Dân
Tộc Miền Trung do chính Ngô Kha làm Chủ Tịch, đặt dưới sự
chỉ đạo của Thành ủy Huế.
Trịnh Cung kể lại: Chúng tôi
đi bộ từ ngă tư Phú Nhuận về hướng cầu Kiệu, khi gần đến
chân cầu, Ngô Kha nói với tôi: “Cậu vào chiến khu với ḿnh
đi, có người dẫn đường đang chờ”.
Anh không đi vào rừng mà về Huế rồi bị
bắt và chịu một cái chết bi thảm.
Theo dơi các hoạt động của Ngô Kha, Cảnh Sát Huế đă quyết
định bắt Ngô Kha vào ngày 30.1.1973 và sau đó Ngô Kha bị mất
tích luôn. Năm 1981, nhà cầm quyền CSVN ở Huế đă có quyết
định công nhận Ngô Kha là liệt sĩ.
Chu Sơn, một thành viên trong nhóm Tự Quyết của Ngô Kha bị
cảnh sát bắt năm 1974, có tiết lộ rằng ngày 28.1.1973, trước
khi bị bắt 2 ngày, Ngô Kha có viết cho ông một lá thư khá
dài nói lên những suy nghĩ của ḿnh trước thời cuộc và cách
thế ứng xử của ông trong một giai đoạn quan yếu của chiến
tranh. Ngô Kha cũng đă tiết lộ:
“Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng, đồng bào miền Bắc, chính
phủ và đảng Cọng sản ở Hà Nội cổ vũ và ủng hộ nhiệt t́nh
phong trào Phật giáo và xem phong trào này như là một đồng
minh, một bộ phận của mặt trận chính trị đánh Mỹ”.
Cựu Thiếu Tá Liên Thành cho biết cảnh sát đă theo dơi và
biết Trịnh Công Sơn thường liên lạc với Lê Khắc Cầm - em
ruột của giáo sư Lê khắc Pḥ - một cán bộ quan trọng của cơ
quan Thành Ủy Huế. Nhưng chúng tôi tin rằng tầm cở như Trịnh
Công Sơn không đủ uy tín để được Thành Ủy Huế giao cho làm
bất cứ công tác ǵ. Trịnh Công Sơn chỉ làm liên lạc giữa Ngô
Kha và Lê Khắc Cầm mà thôi, v́ lúc đó Ngô Kha đang bị theo
dơi rất sát, không dám tiếp xúp với các cán bộ của Thành Ủy
nên phải qua trung gian của Trịnh Công Sơn.
ĐIỆP VIÊN CỦA CẢNH SÁT
Biết được Trịnh Công Sơn thường quan hệ với nhóm bạn bè đi
theo Cộng Sản hay thân cộng ở Huế, Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc
Gia Thừa Thiên - Huế quyết định dùng Trịnh Công Sơn làm mật
báo viên của Cảnh Sát Đặt Biệt trong giới học sinh, sinh
viên và trí thức ở Huế. Trịnh Công Sơn đang ở vào t́nh trạng
có thể bị bắt giữ bất cứ lúc nào v́ trốn quân dịch và có
bằng chứng đang liên lạc với Việt Cộng, nên khi Cảnh Sát yêu
cầu, Trịnh Công Sơn đành chấp nhận.
Trịnh Công Sơn được cấp một Sự vụ lệnh đặc biệt trong đó
chứng nhận Trịnh Công Sơn là viên chức Cảnh Sát Đặc Biệt
thuộc BCH/CSQG Thừa Thiên-Huế. Yêu cầu các cơ quan Quân, Dân,
Chính giúp đỡ trong khi thừa hành phận sự. Nhiệm vụ của
Trịnh Công Sơn là cung cấp cho CSĐB các tin tức về địch mà
Cảnh Sát cần biết như danh tánh các tổ chức và cá nhân hoạt
động dân vận và trí vận cho Thành Ủy Huế, các đường dây liên
lạc và trạm liên lạc nội thành của Việt Cộng, kế hoạch hành
động của địch, v.v.
V́ Trịnh Công Sơn có khi ở Huế, có khi đi nơi khác nên công
tác cũng có lúc gián đoạn, nhưng Trịnh Công Sơn đă làm việc
cho CSĐB đến ngày Huế mất. Có những tin tức Trịnh Công Sơn
đă báo cáo chính xác, nhưng cũng có những tin không báo cáo.
Trịnh Công Sơn thường không báo cáo về các trạm liên lạc và
nơi hội họp của nhóm Bửu Chỉ, Ngô Kha, Trần Hoài, Hoàng thị
Thọ, Phạm thị Xuân Quế, v.v.
ĐƯỢC THUÊ LÀM NHẠC PHẢN CHIẾN
Kể từ năm 1968, nhóm tư bản quốc pḥng đàng sau hậu trường ở
Mỹ quyết định đi tới chấm dứt cuộc chiến tại Việt Nam v́ mục
tiêu của họ đă đạt. Một chiến dịch phản chiến đă được các cơ
quan truyền thông lớn của Mỹ phát động. Các nhóm phản chiến
c̣n đưa Thiền Sư Nhất Hạnh từ Pháp qua Mỹ để yểm trợ cho
phong trào này.
Ở Việt Nam, cơ quan t́nh báo Hoa Kỳ cũng đă thuê Trịnh Công
Sơn đặt nhạc phản chiến để làm giảm xuống tinh thần chiến
đấu của cả hai bên.
Ôi da vàng Việt Nam vỡ nát
Xương thịt đó thiêng liêng vô cùng.
Khắp đất nước tràn đầy xác người:
Xác người nằm quanh đây, trong mưa lạnh này.
(Bài
ca dành cho những xác người – 1968)
Huế Sài G̣n Hà Nội
Hai mươi năm tiếng khóc lầm than
Huế Sài G̣n Hà Nội trong ta đau trái tim
Việt Nam.
(Huế
– Sài G̣n – Hà Nội – 1969)
Những tiếng hát như thế mà cứ vang lên, ai mà c̣n chiến đấu
được?
Ngoài ba tập “Ca Khúc Da Vàng”, “Kinh Việt Nam”
và “Ta Phải Thấy Mặt Trời”, Mỹ c̣n giúp cho Trịnh
Công Sơn thực biện một cuốn phim mang tên “Đất Khổ”
được dịch ra tiến Anh là “Land of Sorrows” để nói lên
cảnh bi đát của một gia đ́nh ở Huế trong chiến tranh. Đây là
một cuốn phim dài khoảng 20 phút được tŕnh diển và quay rất
“professional”.
Nhưng không may cho Trịnh Công Sơn, những chi phiếu được
Asia Foundation (một cơ quan tài trợ t́nh báo
văn hoá của Mỹ) trả cho Trịnh Công
Sơn vẫn c̣n găm lại trên các tập nhạc phản chiến của Trịnh
Công Sơn được lưu giữ tại trụ sở của tổ chức này ở phía sau
Quốc Hội VNCH sau 30.4.1975 và Công An CSVN đă lấy được. Có
lẽ v́ thế phong trào chống Trịnh Công Sơn đă được phát động
ngay sau khi CSVN chiếm miền Nam một thời gian ngắn.
BỊ ĐẨY VÀO CON ĐƯỜNG NGHIỆT NGĂ
Những sự kiện chúng tôi vừa tŕnh bày trên cho thấy tham
vọng thành lập một chính quyền Phật Giáo tại miền Nam và
hoàn cảnh đă đưa đất nước, Giáo Hội Phật Giáo Ấn Quang và
những người theo họ đi vào những con đường nghiệt ngă với
những hậu quả nghiêm trọng c̣n kéo dài theo luật nhân quả
chưa biết đến bao giờ mới dứt.
Nếu không có tham vọng nói trên, những tuổi trẻ lúc đó chưa
chắc đă đi theo Việt Cộng. Việt Cộng đă đón tiếp và dùng họ
nhưng không tin, v́ tuy cùng đứng chung một chiến tuyến
nhưng mỗi bên đă nh́n về một hướng khác nhau.
Năm 1992, Trịnh Công Sơn đă viết:
"Có những ngày tuyệt vọng cùng cực, tôi và cuộc đời đă tha
thứ cho nhau. Từ buổi con người sống quá rẻ rúng tôi biết
rằng vinh quang chỉ là điều dối trá... Tôi không muốn khuyến
khích sự khổ hạnh, nhưng mỗi chúng ta hăy thử sống cùng một
lúc vừa kẻ chiến thắng vừa kẻ chiến bại. Nỗi vinh nhục đă
mang ta ra khỏi đời sống để đưa đến những đấu trường..."
(Trịnh Công Sơn,
Những Bài Ca Không Năm Tháng, nxb Âm Nhạc, 1995, trang 271).
Bài ca "Nối ṿng tay lớn" của Trịnh Công Sơn
cho đến nay vẫn chưa thực hiện được:
Rừng núi dang tay nối
lại biển xa
Ta đi ṿng tay lớn măi để nối sơn hà
Mặt đất bao la, anh em ta về
Gặp nhau mừng như băo cát quay cuồng trời rộng
Bàn tay ta nắm nối laị một ṿng Việt-nam.
Nhưng chúng tôi tin rằng khi thế hệ chiến tranh Việt Nam
không c̣n nữa, sẽ không c̣n sự phân tích hay tranh căi Trịnh
Công Sơn đứng bên này, bên kia hay bên nớ, và nhạc và lời ca
của Trịnh Công Sơn chắc chắn sẽ trở thành một loại nhạc và
lời ca đứng hàng đầu trong thời đại chúng ta.
Trong bài sau chúng tôi sẽ bàn đến cuốn “Trịnh
Công Sơn. Vết chân dă tràng”
của Ban Mai.
Lữ Giang
(Ngày 1.9.2009) |