Bịt miệng lịch sử?
Lữ Giang
Sau 30.4.1975 nhiều người Việt ở
miền Nam thường nhắc đi nhắc lại câu nói sau đây của
Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu được coi như là một thứ chân
lư: "Đừng nghe những
ǵ Cộng sản nói, mà hăy nh́n kỹ những ǵ Cộng Sản làm!"
Điều đáng tiếc là khi dạy người khác như vậy, chính ông
Thiệu lại không biết “nh́n kỹ những ǵ Cộng Sản
làm” và “Đồng Minh” làm, cứ hành động
theo cảm tính và sự suy nghĩ nông cạn của ḿnh, để miền
Nam bị mất một cách quá tức tưởi! Ngay cả khi Kissinger
qua Trung Quốc “bàn giao” miền Nam cho Mao Trạch Đông,
ông cũng không hề “ngửi thấy” được ǵ hết!
Một số người cho rằng miền Nam mất
là do Mỹ bỏ. Nhưng vấn đề được đặt ra là tại sao Mỹ
không bỏ Đài Loan hay Đại Hàn mà bỏ VNCH? Nghe đoạn băng
ghi lại cuộc nói chuyện giữa Tổng Thống Nixon và Cố Vấn
Kissinger vào ngày 3.8.1972, chúng ta mới hiểu được các
nhà lănh đạo Mỹ đă nghĩ như thế nào khi quyết định bỏ
miền Nam. Tất cả có thể được rút gọn lại trong một chữ
mà Kissinger đă dùng: “Incompetence”
(Sự bất lực)!
Thật ra, hai chữ “Corruption and Incompetence” đă
được người Mỹ dùng khá nhiều trong các bài nhận định về
cơ cấu chính quyền miền Nam.
VNCH có một quân đội rất thiện chiến và anh dũng, có
tinh thần chống cộng rất cao, được trang bị bằng những
vơ khí tối tân..., nhưng lại có một cấp lănh đạo quốc
gia quá yếu kém về cả chính trị lẫn quân sự, nên đă để
mất miền Nam. Trong loạt bài kéo dài tới đây, chúng tôi
sẽ nói rơ từng vụ việc, từ vụ giết Phạm Ngọc Thảo, dùng
Huỳnh Văn Trọng nói chuyện với MTGPMN rồi bỏ rơi Huỳnh
Văn Trọng khi CIA khám phá ra... Có nhiều người cần biết
những sự thật này th́ cũng nên cho biết.
Trong bài trước chúng tôi đă đưa ra những tài liệu với
nhiều chi tiết chứng minh Đại Tá Nguyễn Văn Thiệu và Sư
Đoàn 5 do ông chỉ huy là lực lượng chính được CIA dùng
để lật đổ và giết Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, đưa miền Nam
vào những ngày đen tối. Có thể nói, không có Đại Tá
Nguyễn Văn Thiệu và Sư Đoàn 5, CIA không thể tổ chức
được cuộc đảo chánh ngày 1.11.1963.
LẤY NÓN
CỐI ÚP LỊCH SỬ
Người Việt có câu tục ngữ “Lấy thúng úp voi”,
tức cố che giấu một chuyện không thể che giấu được. Ca
dao cũng có câu:
Cha đời lấy thúng úp voi,
Úp qua, úp lại cũng ḷi cái đuôi.
Mặc dầu vậy, hiện nay có nhiều người c̣n hành động khôi
hài hơn, đó là “lấy nón cối úp lịch sử”
hay “lấy nón cối úp sự thật”!
Trong 34 năm qua, thỉnh thoảng Bộ Ngoại Giao và cơ quan
CIA của Mỹ đă cho giải mă dần những tài liệu mật liên
quan đến cuộc chiến Việt Nam, số tài liệu này hiện nay
đă lên đến trên nữa triệu trang. Ngoài ra, các cuộc khảo
cứu của các học giả và các sử gia cũng đă khám phá ra
rất nhiều sự kiện lịch sử mới liên quan đến cuộc chiến
này. Những tài liệu đó đă giúp chúng ta nh́n lại lịch sử
cuộc chiến Việt Nam một cách chính xác hơn.
Tuy nhiên, nhiều người không chịu nghiên cứu, không đọc
tài liệu, cứ suy nghĩ và lập luận theo cảm tính và cảm
t́nh cá nhân, bất chấp lịch sử đă thật sự diễn biến như
thế nào.
Chúng tôi đă nhiều lần nói rằng cuộc chiến Việt Nam là
“những chương bi thảm” đối với cả VNCH lẫn
đảng CSVN, v́ thế cả hai bên đều rất ghét sự thật lịch
sử, và cả hai bên đều chủ trương phải viết lịch sử
“theo lề đường bên phải” để che đậy những sai
lầm và bảo vệ những huyền thoại đă được tạo ra. Đảng
CSVN c̣n đưa cả huyền thoại vào sách giáo khoa để đánh
lừa giới trẻ!
Ngày 24.7.2009, Thủ tướng Nguyễn
Tấn Dũng đă ban hành Quyết định số 97/2009/QĐ-TTg về các
lĩnh vực cá nhân được thành lập tổ chức khoa học và công
nghệ (KH&CN). Mục
đích chính của quyết định này là ngăn chận các nhà
nghiên cứu nói lên các quan điểm của ḿnh liên quan đến
các vấn đề “nhạy cảm”, bị coi là không phù hợp với quan
điểm của chế độ. Quyết định này bắt đầu có hiệu lực từ
ngày 15.9.2009.
Điều 2 của quyết định quy định
rằng các ư kiến phản biện,
"không được công bố công khai với danh nghĩa hoặc gắn
với danh nghĩa của tổ chức khoa học công nghệ".
Điều 4 yêu cầu "rà soát
lại các tổ chức KH&CN do cá nhân đă thành lập để hướng
dẫn đăng kư lại hoạt động".
Để chống lại quyết định “bịt miệng”
này, Viện Nghiên Cứu Phát Triển (Institutes of
Development Studies, viết tắt là IDS),
đă quyết định “tự giải thể” và một số cá nhân trong tập
thể này đă đưa ra những lời phát biểu chống đối quyết
định 97.
Hôm 14.10.2009, Văn Pḥng Chính
Phủ đă họp và Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng đă yêu cầu xử lư
"những phát biểu thiếu
tinh thần xây dựng của một số cá nhân" thuộc IDS. Văn
Pḥng này cho rằng Viện ISD đă nhận tiền của nước ngoài
và có hoạt động chống đối Nhà nước".
Ở hải ngoại, tuy không có “Đảng lănh đạo và Nhà Nước
quản lư”, không có công an nhân dân... như ở trong
nước, nhưng một số người, nhất là nhóm tự coi ḿnh là “công
an nhân dân chống cộng”, lúc nào cũng đ̣i hỏi các
nhà chính trị và các cơ quan truyền thông Việt ngữ phải
“đi theo lề đường bên phải”, không được
nói hay viết những ǵ bị họ coi là “không có lợi cho
việc chống cộng” hay “không có lợi cho VNCH”...,
mặc dầu đó là những sự thật không thể chối căi được. Nói
một cách khác, họ muốn áp dụng tại hải ngoại một chế
độ rập khuôn như chế độ toàn trị ở trong nước, một
chế độ mà gần như ngày nào họ cũng đưa lên Internet hàng
ngàn bài để chửi rủa đủ 36 kiểu!
Ở trong nước, những ai bất tuân, sẽ bị nhà cầm quyền
dùng bạo lực để “bịt miệng”. Đây là một h́nh thức răn đe,
ngăn cản không cho các nhà đấu tranh vượt ra khỏi “lề
đường bên phải”. Tuy nhiên, bất chấp những sự răn đe,
nhiều nhà đấu tranh vẫn tiếp tục nói lên lẽ phải, nói
lên sự thật, bênh vực cho công lư, tranh đấu cho tự do
dân chủ.
Ở hải ngoại, nhóm “công an nhân
dân chống cộng” không thể xử dụng bạo lực như nhà
cầm quyền CSVN, v́ đây là nước Mỹ chứ không phải VNCH
nối dài. Họ cũng không đủ khả năng để phản biện theo
phương pháp khoa học. Thường họ chỉ nêu lên những phản
biện vớ vẫn như: Tài liệu do CIA giải mă hay tác giả
(như Liên Thành)
công bố là tài liệu giả, đáng nghi ngờ... Tại sao nó có
được những tài liệu đó? Không lẻ khi ra khỏi nước công
an để cho nó mang đi hay sao? Làm sao nó có thể nhớ đúng
từng chi tiết như vậy, v.v. Nhưng biện pháp phản biện cố
hữu vẫn là NÓN CỐI! Cứ căi không lại là tung NÓN CỐI.
Nh́n lại, chúng ta thấy những nỗ lực của nhà cầm quyền
CSVN cũng như NHÓM SỢ SỰ THẬT ở hải ngoại đều là những
nỗ lực vô vọng. Tài liệu lịch sử được tàng trử trong các
thư viện và văn khố trên khắp thế giới, dù có nhập cảng
hàng ngàn tấn nón cối của Việt Cộng c̣n lại, cũng không
thể phủ lấp được. Vă lại, những người muốn che giấu sự
thật cần biết rằng khoảng 10 hay 20 năm nữa, khi thế hệ
của chiến tranh Việt Nam qua đi, BẠO LỰC và NÓN CỐI sẽ
không c̣n, lúc đó ai sẽ nối tiếp “sự nghiệp” bịt miệng
lịch sử của họ?
Ngày nay, hệ thống mạng lưới toàn cầu đă đi tới được
những nơi hẻo lánh nhất của trái đất. Do đó, tin tức
không c̣n bị thu nhỏ ở từng địa phương. Một bài được
phóng lên từ Loan Lư, Thừa Thiên, hay từ Westminster,
California, chỉ vài phút sau đă đến được với cộng đồng
người Việt và cơ quan truyền thông Việt ngữ trên khắp
thế giới. Công an nhân dân ở Lăng Cô hay công an chống
cộng ở Bolsa không c̣n có thể bịt miệng được.
Émile François Zola nói: “La
vérité est en marche, rien ne peut plus l’arrêter”.
Sự thật đang tiến bước, không có ǵ có thể làm cho nó
ngưng lại được.
C̣n đại thi hào Johann Wolfgang
von Goethe nhấn mạnh: “Tôi
thích một sự thật có hại hơn một sự sai lầm có lợi. Sự
thật chữa được cái hại nó có thể gây ra.”
Nhà thơ Nguyễn Tài Năng có bài thơ
“Lấy
thúng úp voi”
như sau:
Trùm voi bằng thúng được đâu
Voi to thúng nhỏ hở đầu ḷi đuôi
Chớ ḥng lấy thúng úp voi,
Xấu mà che đậy cũng ḷi xấu ra.
Chi bằng em cứ thật-thà
Lỗi th́ nhận lỗi rồi ta sửa ḿnh.
“THÙ LAO” LÀM ĐẢO CHÁNH
Sau khi bài “Kẻ phản bội” được phổ biến,
nhiều người đă gọi điện thoại cho chúng tôi yêu cầu làm
sáng tỏ về số tiền mà CIA đă trả cho nhóm làm đảo chánh.
Chúng tôi xin nói rơ:
Số tiền 3.000.000 đồng
(42.000 USD) được Lucien đưa
cho Tướng Trần Văn Đôn được chia như thế nào, Tướng Trần
Văn Đôn đă ghi rơ trong Phiếu Đệ Tŕnh ngày 14.8.1971
(xem phụ đính của cuốn Việt Nam Nhân Chứng),
như:
-
Tướng Trần Thiện Khiêm 500.000$,
-
Tướng Tôn Thất Đính 600.000$,
-
Tướng Lê Nguyên Khang 100.000$,
-
Tướng Nguyễn Văn Thiệu 50.000$,
-
Đại Tá Trần Ngọc Huyến 100.000$,
-
Thiếu Tá Phan Ḥa Hiệp 100.000$
-
Đại Úy Đào Ngọc Diệp 100.000$.
Tổng Cộng 1.550.000$.
Số c̣n lại là 1.450.000$ được chia
riêng cho các tướng:
Dương Văn Minh, Lê Văn Kim, Tôn
Thất Đính, Nguyễn Hữu Có,
Trần Ngọc Tám, Nguyễn Khánh và
Đỗ Cao Trí.
Tướng Trần Văn Đôn gọi số tiền này
là “thù lao các đơn
vị trong ngày cách mạng 1.11.1963”.
Không thể dựa vào sự phân chia số tiền “thù lao” nói
trên để xét định ai “có công” lớn, ai “có công” nhỏ
trong việc làm đảo chánh lật đổ và giết ông Diệm, v́
ngoài số tiền “thù lao” này ra, các tướng lănh đạo cuộc
đảo chánh và những người liên hệ đă được lănh một số thù
lao khác nữa.
Tài liệu "Check-List of
Possible U.S. Actions in Case of Coup,"
(Danh sách về những hành động Hoa Kỳ có thể làm trong
trường hợp có đảo chánh) của
Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ ngày 25.10.963 cho biết như sau về
số tiền cung cấp cho nhóm đảo chánh:
“Mendenhall also compiles a set of
options the Kennedy administration can take in support
of a coup aimed at the Diem government. Note that he
mentions providing money or other "inducements" to
Vietnamese to join in the plot. The CIA would actually
provide $42,000 to the coup plotters during the coup
itself (other amounts in support are not
known)”.
Xin tạm dịch:
“Mendenhall cũng đă hoàn thành một danh sách về những
sự lựa chọn mà chính quyền Kennedy có thể thực hiện để
yểm trợ cho một cuộc đảo chánh nhằm lật đổ chính quyền
Ngô Đ́nh Diệm. Cần lưu ư ông ta có đề cập đến vấn đề
cung cấp tiền bạc hay “các sự xui khiến” (inducements)
khác cho người Việt Nam tham dự vào âm mưu. Hiện tại,
CIA phải cung cấp 42.000 USD cho những người âm mưu đảo
chánh trong thời gian cuộc đảo chánh xẩy ra (những số
tiền yểm trợ khác không được biết).”
(JFKL:
Roger Hilsman Papers, Country File, box 4, folder:
Vietnam 10/6/63-10/31/63)
Ngoài ra, vài ngày trước cuộc đảo
chánh, Đại Sứ Lodge đă đề nghị Washington xử dụng một số
tiền khác của CIA để đấm mơm (buy off)
sự chống đối ngấm ngầm.
Sau đó, trong công điện gởi cho Đại Sứ Cabot Lodge ngày
30.10.1963, tức trước đảo chánh một ngày, ông McGeorge
Bundy, Cố Vấn An Ninh của Tổng Thống Kennedy, đă viết:
“Về phần những lời yêu cầu của các tướng, họ có
thể cần tiền vào giờ chót để mua chuộc những kẻ chống
đối ngấm ngầm. Trong phạm vi mà những số
tiền đó có thể được chuyển một cách kín đáo, tôi tin
rằng chúng ta có thể cung cấp cho họ miễn là chúng ta
được thuyết phục rằng cuộc đảo chánh đă được dự trù sẽ
được tổ chức một cách hoàn hảo để có cơ may thành công.”
(FRUS 1961
– 1963, Volume IV, tr. 487).
Với những tài liệu được tiết lộ đă dẫn, chúng ta có thể
tin rằng số tiền CIA đă cung cấp cho nhóm tướng lănh làm
đảo chánh chắc chăn lớn hơn số tiền “thù lao” nói trên
nhiều, nhưng không thể biết được số tiền đó là bao nhiêu
v́ CIA đă xử dụng qũy mật, không ghi vào sổ sách nên
không thể biết rơ được. Ngay trong tài liệu cũng đă ghi
rơ “những số tiền yểm trợ khác không được biết”.
(FRUSS
1964 – 1968, Volum I, tr. 381).
TRANH NHAU
“CHIẾN LỢI PHẨM”
Sau cuộc đảo chánh ngày 1.11.1963, ông Vơ Văn Hải, chánh
văn pḥng của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, có làm ngay một
báo cáo cho Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạnh về tài sản của
chính phủ Ngô Đ́nh Diệm c̣n lại trong Dinh Gia Long.
Sáng ngày 3.11.1963, Tướng Dương Văn Minh đă kư giấy ra
lệnh cho Đại Úy Đặng Văn Hoa, chánh văn pḥng của Tướng
Đôn, đến Dinh Gia Long gặp ông Vơ Văn Hải và ông Quách
Ṭng Đức, Đổng Lư Văn Pḥng Phủ Tổng Thống, để nhận hồ
sơ và tiền bạc c̣n lại trong Phủ Tổng Thống. Ông Vơ Văn
Hải đă bàn giao cho Đại Úy Đặng Văn Hoa 2.390.000$
và 6.297 USD trước sự chứng kiến của ông Quách
Ṭng Đức.
Theo Tướng Trần Văn Đôn, số tiền
2.390.000$ ông đă dùng để chi tiêu các việc cần thiết và
“giúp đỡ các anh em binh sĩ” (?).
C̣n số tiền 6.297 USD, ông đă đưa cho Tướng Dương Văn
Minh 6.000 USD, số c̣n lại ông giao cho Tướng Trần Thiện
Khiêm khi Tướng Khiêm đi công tác Đại Hàn vào cuối tháng
12 năm 1963.
(Trần Văn
Đôn, Việt Nam nhân chứng, Xuân Thu, California 1989, tr.
242).
Một nguồn tin nói rằng Tổng Thống Diệm có gởi ở ḍng
Chúa Cứu Thế 10.000.000$ Việt Nam thuộc quỹ mật của Phủ
Tổng Tống. Số tiền này được gởi với mục đích khi có
chính biến, có thể dùng để tạm thời nuôi Liên Binh Pḥng
Vệ Phủ Tổng Thống và Lực Lượng Đặc Biệt. Tướng Dương Văn
Minh liền cho Tướng Trần Văn Minh đến lấy lại. Khi nhận
tiền, Tướng Trần Văn Minh có làm biên nhận đàng hoàng.
Nhưng Đại Tá Nguyễn Hữu Duệ, lúc
đó là Tư Lệnh Phó Lữ Đoàn Liên Binh Pḥng Vệ Phủ Tổng
Thống, cho biết ông Vơ Văn Hải có kể lại với ông rằng
ông Diệm cho ông biết khi về hưu ông sẽ về Huế sống với
bà cụ cố. Nếu cụ cố chết sẽ vào tu ở Ḍng Chúa Cứu Thế.
V́ thế, lương và phụ cấp của cụ đều gởi cho cha Toán là
quản lư của nhà Ḍng. Số tiền đă gởi cho cha Toán là hai
triệu tám trăm ngàn (hay ba triệu, ông không
c̣n nhớ rơ). Sau cuộc đảo
chánh, theo lời khai của ông Vơ Văn Hải, Hội Đồng Quân
Nhân Cách Mạng đă cho Tướng Trần Văn Minh đến gặp cha
Toán để lấy, v́ Tướng Trần Văn Minh là người Công Giáo
và có quen biết với cha Toán.
Sau khi giao số tiền cho Tướng Trần Văn Minh, cha Toán
sợ bị liên lụy nên đă lên Tây Ninh rối trốn qua
Cambodia, từ đó ông đi qua Pháp.
(Nguyễn
Hữu Duệ, Nhớ lại những ngày ở cạnh Tổng Thống Ngô Đ́nh
Diệm, San Diego, California, 2003, tr. 21 – 22).
Số tiền này cũng không được nộp vào ngân khố. Không biết
các tướng đă chia chác với nhau như thế nào.
Ngày 26.5.1964, Đại Sứ Cabot Lodge có gởi cho Bộ Ngoại
Giao Hoa Kỳ một văn thư, trong đó có đoạn tŕnh như sau:
“Tướng Khánh nói với tôi ngày 25 tháng 5 rằng khi ông
Diệm bị bắn ông ta có trong tay một cái cặp chứa một
triệu đô la ‘loại tiền lớn nhất’. Khánh nói rằng Tướng
Minh đă lấy cái cặp đó và chưa bao giờ giao nộp. Khánh
nói thêm rằng cũng trong thời gian đó, Tướng Minh đă
chiếm đoạt 40 kg vàng thoi.
“Tôi khuyên Khánh không nên công bố chuyện đó ra cho
dân chúng biết để khỏi làm giảm sự tin tưởng của dân
chúng ở đó vào các tướng lănh. Ông ta hy vọng Tướng
Minh sẽ ra đi một cách thầm lặng.”
(I advised General Khanh not to make this public lest it
shake public confidence here in all generals. He hope
that General Minh will make his exit quietly.)
(FRUSS
1964 – 1968, Volum I, tr. 381)
THƯỢNG
CẤP KHEN RỒI NGUYỀN RỦA
Tướng Trần Văn Đôn kể lại lúc 4 giờ chiều ngày 3.1.1963,
khi Tướng Đôn và Tướng Kim đến Toà Đại Sứ Mỹ báo cáo kết
quả của cuộc đảo chánh, Đại Sứ Cabot Lodge ra đón từ
ngoài đường và nói bằng tiếng Pháp:
“C’est formidable! C’est magnifique!”
Tạm dịch:
Thật phi thường! Thật tuyệt với!
(Trần Văn
Đôn, Việt Nam nhân chứng, Xuân Thu, California, Hoa Kỳ
1989, tr. 288).
Tuy nhiên, chỉ ít lâu sau, khi t́nh h́nh miền Nam suy
sụp, Tổng Thống Johnson đă lên tiếng nguyền rủa quyết
định của nhóm đảo chánh và các tay sai.
Trong một cuốn băng dài 30 tiếng đồng hồ do thư viện
Johnson Library ở Austin, Texas, công bố ngày 28.2.2003,
cho biết vào ngày 1.2.1966, Tổng Thống Lyndon B. Johnson
đă nói chuyện bằng điện thoại với Thượng Nghị Sĩ Eugene
McCathy như sau:
Johnson:
... But they started with me on Diem, you remember.
McCathy:
Yeah.
Johnson:
[That] he was corrupt and he ought to be killed. So we
killed him. We all got together AND GOT A GODDAM BUNCH
OF THUGS and we went in and assassinated him. Now, we've
really had no political stability since then.
Xin tạm dịch:
Johnson:
... Nhưng ngài nhớ, lúc đầu họ nói với tôi về ông Diệm.
MacCarthy:
Có chứ.
Johnson:
(Rằng) ông ta tham nhũng và ông ta phải bị giết. V́ thế,
chúng ta đă giết ông ta. Tất cả chúng ta đă họp lại
với nhau VÀ XỬ DỤNG MỘT BỌN ÁC ÔN CÔN ĐỒ ĐÁNG NGUYỀN RỦA
để hạ sát ông ta. Bây giờ, chúng ta thật sự không có
sự ổn định chính trị [ở Miền Nam Việt Nam] từ lúc đó.”
“Bọn ác ôn côn đồ đáng nguyền rủa” mà Tổng Thống Johnson
nói ở đây là những ai?
Theo công điện ngày 27.8.963 của
Trạm CIA Sài G̣n gởi CIA trung ương,
Ủy Ban các Tướng Lănh
(Committee of Generals)
tổ chức đảo chánh do Tương Dương
Văn Minh cầm đầu gồm các tướng sau sau đây: Trần Thiện
Khiêm, Lê Văn Kim, Nguyễn Khánh và Nguyễn Ngọc Lễ. Các
tướng này đă họp và quyết định cuộc đảo chánh sẽ xẩy ra
trong ṿng một tuần lễ. Tướng Trần Văn Đôn cũng là một
thành viên của Ủy Ban, nhưng không đến họp v́ bị theo
dơi. Tướng Trần Tử Oai không phải là thành viên của Ủy
Ban, nhưng đồng ư hợp tác.
(FRUSS
1961 – 1963, Volume III, tr.653 – 654)
Tướng Trần Văn Đôn cho biết các sĩ quan sau đây đă nằm
trong nhóm đứng ra tổ chức đảo chánh:
|
Trung Tướng Dương Văn Minh, |
Trung Tướng Trần Văn Đôn, |
Thiếu Tướng Trần Thiện Khiêm, |
|
Thiếu Tướng Mai Hữu Xuân, |
Thiếu Tướng Tôn Thất Đính, |
Thiếu Tướng Nguyễn Khánh,
|
|
Thiếu Tướng Lê Văn Kim, |
Thiếu Tướng Trần Văn Minh, |
Thiếu Tướng Phạm Xuân Chiểu, |
|
Thiếu Tướng Lê Văn Nghiêm, |
Thiếu Tướng Đỗ Cao Trí, |
Đại Tá Nguyễn Văn Thiệu, |
|
Đại Tá Đỗ Mậu, |
Đại Tá Dương Ngọc Lắm, |
Đại Tá Nguyễn Văn Quan, |
|
Đại Tá Nguyễn Hữu Có, |
Đại Tá Trần Ngọc Huyến |
Đại Tá Nguyễn Khương.
|
Trong thực tế, những người sau đây đă tham gia trực tiếp
vào cuộc đảo chánh:
Trung Tướng Dương Văn Minh, Trung Tướng Trần
Văn Đôn, Thiếu Tướng Trần Thiện Khiêm, Thiếu
Tướng Tôn Thất Đính, Thiếu Tướng Mai Hữu Xuân,
Thiếu Tướng Lê Văn Kim, Đại Tá Nguyễn Văn
Thiệu, Đại Tá Đỗ Mậu..., và sau đó Tướng
Nguyễn Khánh nhảy vào nối tiếp.
LÀM MẤT
CHỦ QUYỀN QUỐC GIA
Chúng tôi nhắc lại, trong công điện gởi cho Bộ Ngoại
Giao lúc 2 giờ chiều ngày 7.9.1963, Đại Sứ Cabot Lodge
có kể lại lời ông Ngô Đ́nh Nhu đă nói với ông như sau:
“Tôi báo động về những ǵ sẽ xẩy ra trong Quân Lực. Nếu
tôi ra đi, Quân Lực sẽ nắm chính quyền. Bọn cóc nhái của
CIA và USIS này sẽ phá hoại nỗ lực chiến tranh.”
“I am alarmed by what's going on in the Armed Forces. If
I leave, the Armed Forces will take over the government.
'Ces grenouillards' (which I translate as "these
schemers" or 'these contrivers') of the CIA and USIS
will sabotage the war effort.”
(FRUS,
Volume IV, tr. 131. Document 72).
Sau đó, trong công điện gởi Bộ Ngoại Giao lúc 6 giờ 39
phút chiều 29.10.1963, Đại Sừ Lodge tŕnh rằng chiều
25.10.1963, ông Trần Trung Dung, cựu Phụ Tá Bộ Trưởng
Quốc Pḥng, đă nói với viên chức CIA rằng ông được biết
các tướng lănh dự định làm đảo chánh trong ṿng 10 ngày.
Theo ông biết các tướng lănh không tiếp xúc với các nhà
lănh đạo dân sự. Ông ta bày tỏ một vài sự quan tâm về
khả năng và ư định của các Tướng Lănh:
“Ông ta coi đa số các Tướng Lănh không ǵ khác lơn là
các trung sĩ được Pháp huấn luyện trong quân phục Tướng
Lănh”
(He consider majority of Generals no more than French
trained sergeants in Generals’ uniforms)
(FRUS,
Volume IV, tr. 457 – 458. Document 229).
Những lời tiên đoán này đă trở thành hiện thực! Khả năng
qúa yếu kém của các tướng được CIA thuê làm đảo chánh đă
làm miền Nam suy sụp một cách nhanh chóng. Trong cuốn
hồi kư “In Retrospect” xuất bản năm 1995, ông
McNamara, Bộ Trưởng Quốc Pḥng, có ghi lại như sau:
“Miền Nam bây giờ thiếu hẳn bất cứ truyền thống đoàn
kết quốc gia nào. Thay vào đó, những sự hận thù tôn
giáo, các phe phái chính trị, cảnh sát tham nhũng xâu xé
nhau, và chưa hết, sự bành trướng của chiến tranh du
kích quấy rối được người láng giềng miền Bắc yểm trợ...
Chỉ trong ṿng có 90 ngày của chính quyền Johnson mà
thay đổi đến hai chính phủ, và rồi trong ṿng chín tháng
kế tiếp đă có đến bốn chính phủ”.
(Robert S.
McNamara, sách đă dẫn, tr. 100 – 101)
Tháng 12 năm 1963, ông McNamara đă
đến Sài G̣n nghiên cứu t́nh h́nh. Theo tờ New York
Times, ông mô tả t́nh h́nh của miền Nam là "Laden
with gloom" (Nặng trỉu bóng đen)!
Từ một t́nh trạng suy sụp như vậy, người Mỹ đă nhảy vào
và nắm luôn chủ quyền tại miền Nam.
Trong tác phẩm “President Kennedy, Profile of Power”,
sử gia Richard Reeves đă ghi lại t́nh trạng tại miền Nam
sau khi chế độ Ngô Đ́nh Diệm sụp đổ và các tướng lănh
Việt Nam lên nằm chính quyền như sau:
“Người Mỹ, v́ các mục tiêu thực tế, đă cai quản đất
nước. Các tướng lănh Việt Nam cười trước các máy
quay phim, nhưng lo lắng và chờ đợi tiền và chỉ thị từ
Washington, thủ đô mới của miền Nam Việt Nam. Họ chờ
đợi những mệnh lệnh mà ông Diệm từ chối, sẵn sàng bắt
đầu công việc thắng cuộc chiến!”
(Richard
Reeves, President Kennedy, Profile of Power, Touchstone,
New York 1994, tr. 651).
Cũng có nhận định tương tự, trong
cuốn “The Vietnam War, 1945 - 1990”, Marilin B.
Young nói rằng ông Diệm đă
làm hỏng chính sách của Hoa Kỳ về phương diện chiến
thuật nên được Hoa Kỳ thay thế bằng một nhóm tướng lănh.
Khác với ông Diệm, họ lệ thuộc vào Hoa Kỳ và v́ thế sẵn
sàng theo những lời cố vấn của Hoa Kỳ không cần tranh
luận.
(Marilin
B. Young, The Vietnam War, 1945 - 1990, HarperCollins,
New York, 1991, tr. 104).
Một số tài liệu được dẫn chứng nói trên cũng đủ cho thấy
một số sĩ quan cao cấp của VNCH đă nhận chỉ thị và tiền
từ CIA để làm “cách mạng” với hậu quả là làm mất chủ
quyền quốc gia, đưa đất nước vào những ngày đen tối và
sau đó làm mất miền Nam. Không lẽ ngày nay chúng ta phải
“suy tôn” và “tưởng niệm” những người như thế sao?
Lữ Giang
(Ngày 19.10.2009)