Luật cá lớn nuốt cá bé

 

   Tài liệu thống kê sơ khởi cho biết cuộc chiến tranh Iraq kéo dài từ tháng 3 năm 2001 đến 31.10.2006 đă khiến 2.818 quân nhân Mỹ bị giết, 21.419 bị thương; 655,000 thường dân, 155 giáo sư đại học và 250 bác sĩ người Iraq bị chết, và có ít nhất 6.000 bác sĩ và giáo sư đă phải bỏ nước ra đi.

   Trong chiến tranh Việt Nam, nước Mỹ có 58.156 quân nhân tử trăn, 2.338 mất tích khi thi hành nhiệm vụ, khoảng 75.000 bị tàn tật, trong đó có 23.214 bị tàn phế 100%, 5,283 bị mất chân tay, v.v.

 

   Về bom đạn:  Trong Thế Chiến II, v́ nước Đức là nước gây chiến nên lănh nhiều bom đạn nhất. Tính trung b́nh, cứ mỗi cây số vuông bị dội xuống 5,4 tấn bom và mỗi người Đức phải lănh 27kg bom. Trong chiến tranh Việt Nam, Miền Bắc phải lănh bom đạn rất nặng nề: Tính trung b́nh, cứ mỗi cây số vuông Mỹ đổ xuống 6 tấn bom và mỗi người dân miền Bắc lănh 45,5kg bom.

   Ba tỉnh bị lănh bom nhiều nhất là Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng B́nh. Riêng tỉnh Quảng B́nh bị oanh tạc nặng nề nhất v́ nằm sát với miền Nam Việt Nam. Người ta ước lượng từ 1965 đến 1972 đă có khoảng 40.000 phi vụ oanh tạc Quảng B́nh và khoảng 3.000 trận pháo kích do các tàu chiến ở ngoài khơi hay phía Nam bờ Bền Hải bắn vào. V́ thế, Quảng B́nh gần như bằng địa. Không một chiếc cầu nào bắc qua quốc lộ 1 c̣n tồn tại và quốc lộ này không c̣n xử dụng được nữa. Dân chúng phải di tản ra khỏi vùng ven biển. Thành phố Đồng Hới được dời lên Cổn ở vùng núi phía Tây...

   Trên lănh thổ Iraq bây giờ, không chỗ nào được gọi là tiến tuyến và không chỗ nào được gọi là hậu phương: Tất cả đều được biến thành tiền tuyến. Không một chỗ nào được coi là an toàn. Hai bên đều xử dục bạo lực tối đa. Người ta chưa thể ước lượng được số bom đạn mà người dân Iraq phải gánh chịu, v́ cuộc chiến đang tiến hành.

 

   Về tiền bạc: Trong Thế Chiến II (1941-1945) Mỹ tốn 288 tỷ Mỷ kim. Trong chiến tranh Cao Ly (1950-1953) Mỹ tốn 263,9 Mỹ kim. Và trong chiến tranh Việt Nam (1964-1972) Mỹ tốn 346,7 tỷ Mỷ kim. Trong cuộc chiến Iraq hiện nay, Mỹ đă xài 340 tỷ Mỹ kim, tính ra trung b́nh mỗi ngày Mỹ tốn 250 triệu Mỹ kim.

   Cơ quan “The Center for Strategic and Budgetary Assessments” ước tính lại phí tổn chiến tranh của Mỹ theo thời giá và cho biết như sau: Trong chiến tranh Cao Ly Mỹ tốn khoảng 430 tỷ Mỹ kim và trong chiến tranh Việt Nam, Mỹ mất khoảng 600 tỷ Mỹ kim. C̣n với cuộc chiến Iraq hiện nay, các chuyên gia ước lượng rằng cho đến khi kết thúc, Mỹ phải tối ít nhất 700 tỷ Mỹ kim. Như vậy, cuộc chiến Iraq hiện nay là cuộc chiến đắt giá nhất từ trước đến nay.

   Với nước Mỹ, những tổn thất về tiền bạc nói trên chẳng có nghĩa lư ǵ. Những tổn thất đó chẳng những không làm cho sức mạnh của Mỹ yếu đi và kinh tế Mỹ kiệt quệ, trái lại nó càng làm cho sức mạnh của Mỹ trở thành vô địch, các nhà đại tư bản của Mỹ giàu thêm và nền kinh tế Mỹ vẫn mạnh.

   Số bom đạn c̣n lại sau Thế Chiến II và sản xuất thêm, Mỹ đă đem ném hết ở Việt Nam, sau đó  các nhà đại tư bản quốc pḥng Mỹ đấu thầu sản xuất thứ mới tối tân hơn, công nhân Mỹ có nhiều công ăn việc làm hơn. Những ǵ Mỹ đă làm ở Việt Nam, cũng đang làm ở Afghanistan và Iraq. V́ thế, chúng ta đă chứng kiến, chính phủ của Tổng Thống Bush, dưới sự chỉ đạo của Disk Cheney, đă đi vào chiến tranh Iraq bằng mọi giá, bất chấp luật pháp quốc tế, v́ dù kết quả có như thế nào đi nữa, các nhà đại tư bản quốc pḥng Mỹ vẫn thắng lớn, nền kinh tế Mỹ nhờ đó đứng vững và tiếp tục đi lên.

 

   CON ĐƯỜNG NAM TIẾN

   Nhà văn Lỗ Tấn của Trung Hoa đă từng nói: “Lịch sử Trung Quốc là lịch sử ăn thịt người.” Nhưng chúng tôi không nghĩ rằng đó là một biệt lệ của Trung Quốc. Trong lịch sử nhân loại, “Luật cá lớn nuốt cá bé” bao giờ cũng là luật phổ biến của nhân loại, xưa cũng như nay. Cách thức Mỹ tấn công Iraq giữa cái thời công pháp quốc tế đang được đế cao là một thí dụ điển h́nh.

   Trên đường đi chinh phục thế giới, có lúc người Mỹ dùng “diễn biến ḥa b́nh”, có lúc dùng vũ lực thô bạo, có lúc tiến, có lúc thoái hay thoái để tiến theo kiểu “lùi một bước để tiến hai bước.”

   Việt Nam cũng đă có một thời làm “đế quốc” như ai và cũng đă áp dụng các chiến thuật không khác ǵ Mỹ ngày nay. Trong tháng vừa qua, chúng tôi có nhận được tác phẩm “Quảng B́nh, chín trăm năm nh́n lại”, 1075 – 1975” của ông Nguyễn Đức Cung, trong đó tác giả đă mô tả lại những bước thăng trầm trong lịch Quảng B́nh, khởi sự từ bước đầu “Nam Tiến” của người Việt, v́ Quảng B́nh là đất địa đầu của nước Chiêm Thành nối tiếp với Việt Nam. Phải công nhận rằng đây là một tác phẩm nghiên cứu rất công phu, có thể giúp chúng ta h́nh dung được cha ông chúng ta đă hành xử như thế nào để đưa toàn bộ nước Chiêm và một phần nước Chân Lạp vào lănh thổ của Việt Nam.

   Dĩ nhiên, ngoài khía cạnh “Nam Tiến”, tác giả cũng đă nghiên cứu nhiều vấn đề khác của Quảng B́nh như dấu tích tiền sử và lịch sử, dấu tích Chămpa, những sơn kỳ thủy tú và địa danh, v.v. Nhưng chúng tôi chú ư tới khía cạnh Nam Tiến như một khám phá đặc biệt.

   Nguyễn Đức Cung tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm Ban Sử Địa, Cao Học Sử Học và là một Dân Biểu của Việt Nam Cộng Ḥa. Ông đă cống hiến cho chúng ta nhiều tác phẩm nghiên cứu về sử học khác như “Lịch sử vùng cao qua Vũ Man Tạp Lục Thư”, dịch bộ “Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên, v.v.

 

   KHỞI ĐẦU LÀ ĐI KHẨN HOANG LẬP ẤP

   Trong tác phẩm “Quảng B́nh, chín trăm năm nh́n lại”, 1075 – 1975”, tác giả đă trích dẫn khá nhiều tác phẩm có giá trị để cho chúng ta có thể h́nh dung được cuộc hành tŕnh Nam Tiến của cha ông ta ngày xưa như thế nào:

   Trong tác phẩm “Lư Thường Kiệt, lịch sử ngoại giao và tôn giáo triều Lư Hoàng Xuân Hăn có ghi như sau: “Về phương nam, địa giới đă rơ ràng, v́ có dăy Hoành Sơn ngăn đôi hai nước Chiêm và Việt. Dân Chàm cũng như dân ta, sinh nhai về cày cấy. Gần biên giới chung, dân ta và dân Chàm sống trên hai đồng bằng Châu Hoan và Bố Chánh cách xa nhau, nên ít sinh sự xâm lấn lẫn nhau, trừ phi những vụ giặc bể tràm vào cướp ven bể rồi bỏ đi mà thôi.”

   Thế rồi, theo tác giả, có thể coi như năm 1075 là khởi điểm của cuộc Nam Tiến đầu tiên trong lịch sử Việt Nam. Đợt thứ hai xẩy ra vào khoảng thế kỷ 12, dân Việt ở phía Bắc đi vào Nam không dừng lại ở châu Bố Chính mà đi thẳng vào Lâm B́nh, v́ đất đai ở đây màu mỡ hơn. Nói đến cuộc Nam Tiến trong từng đợt, thiết tưởng phải đề cập đến những con người chủ chốt thực hiện chương tŕnh và thành phần dân chúng tham gia...

   Trong cuộc Nam Tiến đầu tiên, phải nhắc đến chính sách của Lư Nhân Tông và vai tṛ của Lư Thường Kiệt. Khi đó, giặc Lư Giác nổi lên ở Diễn Châu, phía bắc tỉnh Nghệ An. Lúc đó vua thấy Lư Thường Kiệt đă già nên không muốn giao cho đi đánh dẹp. Lư Thường Kiệt liền tâu: “Tôi từ trước chưa học mưu lược của kể làm Tướng. Thế mà đánh Chiêm phạt Tống, may mà được thành công. Đó là nhờ Đức thiêng của Bệ hạ, và sự gắng sức của các tướng thần. Nay nhờ ơn nước, tôi được ngôi cao, lộc trọng thế này. Nếu cứ ngồi yên xem Giác làm kiêu th́ tôi sẽ chết không nhắm được mắt.” Thế là vua giao cho Lư Thường Kiệt đem quân đi đánh. Lư Giác thua bỏ chạy qua Chiêm Thành. Sau đó, Lư Thường Kiệt đi thanh sát vùng Quảng B́nh và Quảng Trị hiện nay và cho di dân vào đó.

   Linh mục Cadière, nhà nghiên cứu lịch sử miền Trung nổi tiếng, có ghi lại như sau: “Khi vua Thái Tông (đúng ra là Thánh Tông) đi đánh Chiêm trở về, xuống chiếu rằng Bố Chính (Quảng B́nh) đất rộng, dân thưa, liền với châu Hoan, vậy quân dân ai đến đó khẩn hoang sẽ được lợi lớn...”

   Sử gia Joseph Buttinger của Hoa Kỳ cho biết thêm: Trong thời b́nh, quân đội thường hay mở rộng đất canh tác bằng cách khai hoang rừng rú, tát cạn ao đầm và xây dựng đê điều, đường sá, kênh rạch. Lính tráng cũng được gởi vào phía nam đến miền đất đai cướp đoạt từ tay Champa để bảo vệ và thực dân hóa những vùng ph́ nhiêu ở miền trung Việt Nam.”

   Sau khi lớp dân nghèo từ Thanh Hóa, Nghệ An, Hải Dương... kéo nhau vào khai hoang, Đô Đốc Bùi Tá Hán, Trấn Quận Công, đă nghiên cứu và đưa ra chính sách khẩn hoang sau đây:

   1.- Quan huyện ở các địa phương phụ trách việc tiếp dân và điều hành công việc.

   2.- Hộ nào đến trước th́ ở nhờ vào địa phận xă có đồn địa của quân đội.

   3.- Quan huyện xuất kho trợ cấp mỗi hộ 5 tháng lương ăn.

   4.- Quân đội ở các đồn điền chặt gỗ trong rừng, cắt tranh trên núi làm nhà ở, giao cho mỗi hộ tạm thời xử dụng.

   5.- Trích ruộng thực điền trong số ruộng đất ở các đồn điền giao cho mỗi hộ một ít để tạm thời canh tác.

   6.- Khuyên mọi người cày trồng khoai lang, rau ngắn ngày, để sau ba tháng là có hoa lợi dùng.

   7.- Khuyên mọi người sau mùa cấy hái, hăy nỗ lực khai hoang làm ruộng tư, ai có công khai phá, th́ số lượng đó sẽ thành sở hữu riêng. Không được bao chiếm đồng bằng và rừng rú.

   8.- Khuyên nhà quan nhà dân, không luận giàu nghèo, mỗi khi nấu cơm, nên ghế thêm khoai lang hoặc ngô (bắp) hai mươi phần trăm thay gạo.

Những người di dân thường đă hội nhập như thế nào? Trong tác phẩm Việt sử: Xứ Đàng Trong”, Phan Khoang viết: Trong số người di dân ấy, những người cùng một họ (tộc) thường tụ tập một nơi, rồi lập thành một làng (xă). Người ta thấy có những làng mà tiếng Nôm gọi là “nhà Phan” và tên chữ là xă Phan xá; nôm gọi là “nhà Vàng” và tên chữ là Hoàng xá; nôm gọi là “nhà Ngô” và tên chữ là Ngô xá, và Vũ xá là làng người họ Vũ, v.v. Các làng ấy đă được thành lập ở châu Lâm B́nh, châu Minh Linh, tức là miền nam tỉnh Quảng B́nh và miền bắc tỉnh Quảng Trị ngày nay, c̣n ở châu Bố Chánh, tức miền bắc tỉnh Quảng B́nh th́ không có những làng lấy tên họ mà đặt như thế...”

 

   ĐẾN BIẾN ĐẤT CHIÊM THÀNH ĐẤT VIỆT

   Sau khi việc định canh và định cư tạm ổn định Đô Đốc Bùi Tá Hán đă đưa ra những hướng dẫn xây dựng gia đ́nh và xóm làng để biến đất Chiêm thành đất Việt. Những hướng dẫn đó như sau:

   1) Làm nền nhà theo kiểu tám cột, ba gian, lợp bốn năm tấm rui, vuông bốn gốc. Các nhà liên kết thành xóm ấp, gần gũi có nhau, giúp đỡ cùng nhau.

   2) Mỗi xóm đào một cái giếng, lấy nước trong sạch để ăn uống. Nhà nào có sức người, sức của, nên đào một cái giếng để dùng riêng.

   3) Phụ nữ không dùng quần không đáy (váy), đồng loạt dùng quần như nam giới, nhuộm đà hay chàm để phân biệt nam nữ.

   4) Làm nồi đồng nồi đất ở cổ có lỗ quay, dùng đũa bếp mà bưng xuống, tiện việc đun nấu.

   5) Cày bừa đều dùng ách, mắc hai trâu kéo; trên mỏ cày có thêm trạnh phụ, làm cho cùng một công cày mà bội tăng đất thục, đó là cái lợi của việc đổi mới kỷ thuật.

   6) Khuyến khích các nghề như: thợ rèn, thợ mộc, thợ đúc, thợ dệt vải, thợ dệt chiếu, thợ chằm tơi nón. Khi làm được hàng hóa, đem ra chợ bán không đóng thuế chợ.

   7) Đối với các việc hôn nhân, tang, tế, cần tránh hội họp ăn uống kéo dài, phí sức, tốn của. Việc hôn nhân, tang tế nên giữ lễ, nhưng phải tiết kiệm. Các nhà thờ phụng ông bà, cha mẹ, chỉ nên cúng tế vào các ngày giỗ chạp và vào dịp Tết mà thôi.

   8) Các xă thôn xây dựng chùa để nhân dân cúng lễ.

   9) Dân chúng nhiều người chưa phục thủy thổ nên sinh bệnh tật, mỗi xă thôn nên mời một thầy thuốc chữa trị cho dân, Nên trích một ít ruộng công cấp cho thầy thuốc để động viên vợ con họ.

   10) Xă thôn nào hộ khẩu tăng nhiều, số trẻ em phát triển, nên rước một ông đồ, lập nghĩa thục (trường tư) để dạy lễ nghĩa và văn học cho con em. Cần trích một ít ruộng công cấp cho gia đ́nh thầy đồ yên tâm dạy học.

   11) Từ huyện Hy Giang đến huyện Tuy Viễn cần đắp một con đường thiên lư (rộng hai trượng rưỡi), làm cầu cống, nếu qua sông lớn th́ dùng thuyền đ̣, cứ 17 hải lư đặt một “dịch trạm” để lính giao dịch chuyển độ công văn.

   12) Làm nông phải coi trọng thủy lợi; các huyện cần xem xét t́nh h́nh nước sông trong huyện để đắp đê điều dẫn nước vào ruộng. Nếu là vùng trũng, ruộng bị úng th́ khai kênh rút nước để tiện cày cấy. C̣n như ruộng cao ở hai bên bờ sông, th́ nên ngăn sông làm bờ xe nước để đưa nước vào ruộng.

   13) Làm thuyền nan trét dầu rái để thay thuyền ván, như vậy sẽ nhẹ và nhanh, vào sông ra biển đều thuận lợi.

   Đọc những hướng dẫn do Đô Đốc Bùi Tá Hán đưa ra nói trên (khoản 3), chúng tôi khám phá ra tại sao đàn bà miền Bắc có thể mặc váy hay mặc quần, c̣n đàn bà miền Trung và miền Nam chỉ mặc quần. Váy được gọi là “quần không đáy”!

 

   SỬ DỤNG SẮC MẠNH ĐỂ XÂM CHIẾM

   Đến thời Hồ Quư Ly, năm 1402, Đỗ Măn, Nguyễn Vị và Nguyễn Bằng Cử đem đại binh sang đánh Chiêm Thành. Chúa Chiêm Thành là Ba Đích Lại hoảng sợ, sai người cậu là Bố Điền đem dâng các sản vật địa phương và dâng đất Chiêm Động để xin rút quân. Nhưng khi Bố Điền đến nơi, Hồ Quư Ly bắt ép phải thay tờ biểu dâng cả đất Cổ Lũy (thuộc Quảng Ngăi ngày nay)!

   Nhưng cuộc Nam Tiến đă trở thành quy mô kể từ khi nhà Nguyễn được thiết lập tại miền Nam. Gần như đa số người Việt đều biết chuyện “Hoàng Sơn nhất đái...” trong sử Việt. Nhưng tác giả đă cho chúng ta biết thêm nhiều chi tiết đặc biệt.

   Quảng B́nh c̣n nhiều vết tích của thời Trịnh - Nguyễn phân tranh (1600 - 1619). Trong thời kỳ chiến tranh giữa nhà Mạc và nhà Lê (1533 - 1592), Nguyễn Kim đă khởi nghĩa giúp nhà Lê đánh nhà Mạc, lấy lại được đất Thanh Hóa và Nghệ An rồi đem quân ra đánh Sơn Nam, bị hàng tướng của nhà Mạc là Dương Chấp Nhất đánh thuốc độc chết, binh quyền giao lại cho người con rễ là Trịnh Kiểm.

   Nguyễn Kim người Gia Miêu, huyện Tống Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ông có hai con trai là Nguyễn Uông và Nguyễn Hoàng, và một người con gái là Ngọc Bảo.

   Năm 1549, thời Lê Trung Tông, Nguyễn Uông làm quan đến chức Lănh Quận Công Tướng Quân, c̣n Nguyễn Hoàng là Đoan Quận Công. Hai anh em đều tỏ ra có nhiều tài năng. Trịnh Kiểm sợ họ Nguyễn tranh mất quyền liền kiếm chuyện giết Nguyễn Uông đi. Nguyễn Hoàng sợ Trịnh Kiểm hại, đă ra Hải Dương hỏi Trạng Tŕnh Nguyễn Bỉnh Khiêm. Trạng Tŕnh bảo: “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân”, có nghĩa là một dăy Hoành Sơn mà có thể yên được muôn đời (Hoành Sơn là núi Đèo Ngang ở giữa Hà Tỉnh và Quảng B́nh). Nguyễn Hoàng liền nói với chị là Ngoc Bảo xin Trịnh Kiểm cho vào trấn phía Nam. Năm 1558, Trịnh Kiểm tâu vua Lê Anh Tông cho Nguyễn Hoàng vào trấn ở Thuận Hóa (gồm Quảng B́nh, Quảng Trị và Thừa Thiên bây giờ). Nguyễn Hoàng liền đưa vợ con vào trấn ở xă Ái Tử, huyện Đăng Xương, tỉnh Quảng Trị ngày nay.

   Nguyễn Hoàng sinh năm 1525. Sách “Thực Lục” mô tả Nguyễn Hoàng như sau: “Tướng vai lân, lưng hổ, mắt phượng, trán rồng, thần thái khôi ngô, thông minh, tài trí, người thức giả đều biết là bậc phi thường.

   Năm 1600, nhân nhóm Phan Ngạn, Ngô Đ́nh Hàm và Bùi Văn Khuê nổi lên chống họ Trịnh ở Nam Định, Nguyễn Hoàng giả vờ đem quân đi dẹp loạn rồi theo đường biển vào luôn Thuận Hóa và cho người con thứ sáu là Nguyễn Phúc Nguyên vào trấn đất Quảng Nam. Từ đó trở đi, Nam Bắc phân biệt.

   Năm 1613, trước khi qua đời, Nguyễn Hoàng đă gọi Nguyễn Phúc Nguyên vào và bảo: “Đất Thuận, Quảng này bên bắc th́ có núi Hoành Sơn, sông Linh Giang, bên nam th́ có núi Hải Vân và núi Bi Sơn, thật là một nơi trời để cho người anh hùng dụng vơ. Vậy ta phải thương yêu nhân dân, luyện tập quân sĩ để mà gây dựng cơ nghiệp về muôn đời”.

   Từ khi Nguyễn Hoàng vào trấn ở phía nam rồi, mỗi lúc một ít, người Việt chinh phục toàn bộ đất Chiêm Thành. Năm 1611, Nguyễm Hoàng đem quân vào đánh chiếm nước Chiêm Thành, lập ra phủ Phú Yên gồm hai huyện Đồng Xuân và Tuy Ḥa. Năm 1653, vua nước Chiêm Thành là Bà Thấm mở cuộc tấn công để lấy lại Phú Yên, Chúa Nguyễn Phúc Hiền sai quan Cai Cơ là Hùng Lộc sang đánh. Bà Thấm phải dâng thư xin hàng. Chúa Nguyễn để từ sông Phang Lang (tức Phan Rang ngày nay) trở vào cho Bà Thấm, c̣n từ sông Phan Lang trở ra lập thành Thái Ninh Phủ, sau đổi thành phủ Diên Khánh, tức Khánh Ḥa bây giờ, và đặt Hùng Lộc làm Thái Thú.

   Năm 1693, vua nước Chiêm Thành là Bà Tranh bỏ không triều cống, Chúa Nguyễn Phúc Chu sai Tổng Binh là Nguyễn Hữu Khánh đem quân vào đánh, bắt được vua Bà Tranh và các thần tử là Tả Trà Viên, Kế Bá Tử, và thân thuộc là Bà Ân đem về Phú Xuân. Sau đó, biến đất Chiêm Thành thành Thuận phủ (tức B́nh Thuận sau này) và cho Tả Trà Viên và Kế Bá Tử làm Khám Lư, và ba người con của Bà Ân làm Đề Đốc giữ Thuận phủ. Vua cũng bắt người chiêm mặc y phục như người Việt.

   Qua năm sau, vua cho đổi Thuận phủ thành Thuận Thành Trấn và cho Kế Bá Tử làm Tả Đô Đốc. Năm 1697 Chúa Nguyễn đặt phủ B́nh Thuận, biến đất Phan Lư (Phan Rí) và Phan Lang (Phan Rang) thành huyện Yên Phúc và huyện Ḥa Đa. Tứ đó, nước Chiêm Thành mất hẳn.

 

   THÂN PHẬN CỦA NGƯỜI CHÀM

   Qua các cuộc chính phục của người Việt như vậy, thân phận của người Chàm như thế nào?

   Sử gia Trần Trọng Kim kết luận: “Đă là đối địch th́ không sao tránh khỏi cái luật chung của tạo hóa là: khỏe c̣n, yếu chết. V́ vậy cho nên từ khi vua Thánh Tông nhà Lê đă lấy đất Quảng Nam và đă chia nước Chiêm ra làm ba nước rồi, th́ từ đó về sau thế lực nước ấy mỗi ngày một kém, dân t́nh mỗi ngày một suy. Chẳng những là đến nỗi mất nước với Chúa Nguyễn mà chủng loại Chiêm Thành bây giờ cũng chẳng c̣n được mấy ngh́n người nữa. Một nước trước như thế, mà nay như thế, dẫu rằng nước ấy đồng hóa với nước ta mặc ḷng, song nghĩ cũng thương tâm thay cho những nước yếu kém không tránh khỏi được cái họa: Cá nhỏ bị cá lớn nuốt.” (tr. 79 – 80).

   Trong cuốn T́m hiểu cộng đồng người Chăm tại Việt Nam”, Nguyễn Văn Huy viết:

“Người Chăm th́ ngược lại, đất đai là một vật thể thiêng liêng không thể sang nhượng và chối bỏ. Từ ngàn xưa cha ông đă ở đây th́ con cháu đời sau phải ở đó, không ai tự quyền rời bỏ quê cha đất tổ định cư nơi khác. Rời bỏ quê cha đất tổ là từ bỏ ḍng tộc, từ bỏ thần linh. Chính v́ thế, trong suốt ḍng lịch sử đương đầu với người Kinh, cộng đồng người Chăm chấp nhận mọi hy sinh và gian khổ để giữ đất và bám đất, cho dù quê hương không c̣n hay bị tước mất. Tất cả những lễ lạc trong triều chính và ngoài dân gian đều nhằm vinh danh các vị thần cai quản đất đai, v́ đất là nguồn sống và cũng là nơi ngự trị của các vị thần bảo vệ đất, che chở gia đ́nh và đồng tộc. Nếu v́ một lư do nào đó ngoài ư muốn một người Chăm phải rời bỏ quê hương đi nơi khác lập nghiệp, sinh hoạt tâm linh của người đó luôn gắn liền với nơi sinh quán cũ, v́ không ai được quyền mang bàn thờ tổ tiên và thần linh đi theo, con người lệ thuộc thần linh chứ không ngược lại. Hơn nữa nếu phải ly hương, người đó cũng không thể đi ra ngoài lănh thổ đă được thần linh che chỡ, nghĩa là chỉ giới hạn trong vùng đất của đồng tộc mà thôi. Đó là lư do giải thích tại sao tại người Chăm không di cư ra khỏi địa bàn cư trú của họ và tại nhiều nơi, nhất là ở B́nh Thuận, người Chăm định cư tại một làng cách xa nơi sinh quán cũ cả trăm cây số nhưng vẫn muốn lệ thuộc về hành chánh và nghi lễ tại làng cũ...”

   “Nhiều người sẽ hỏi dân số vương quốc Chiêm Thành xưa bây giờ ở đâu? Không lẽ đă bị tiêu diệt hết sao? Con số 100.000 người Chăm tại B́nh Thuận và Châu Đốc có phản ánh đúng sự thật không ?

   “Câu trả lời là không và dân chúng gốc Chăm vẫn c̣n nguyên vẹn. Người Chăm đồng bằng không đi đâu cả, họ đă ở lại trên lănh thổ cũ tại miền Trung và với thời gian đă trở thành công dân Việt Nam một cách trọn vẹn. Có thể nói không một người Việt Nam nào sinh sống từ lâu đời tại miền Trung nào mà không mang ít nhiều ḍng máu Champa trong người. Điều này cũng rất dễ khám phá, ít nhất là về h́nh dáng: da ngăm đen, vai ngang, mặt vuông, tóc dợn sóng, ṿm mắt sâu, mắt bầu dục hai mí, mũi cao, môi dầy, miệng kín. Cũng không phải vô t́nh mà cách phát âm của người miền Trung khác hẳn phần c̣n lại của đất nước, với nhiều âm sắc thấp của người Champa. Đó là chưa kể những danh từ có nguồn gốc Champa. Cũng không phải t́nh cờ mà các điệu múa hát của người Chăm trở thành những điệu múa hát trong cung đ́nh và ngoài dân gian thời Nguyễn. Nêu ra một vài trường hợp cụ thể trên chỉ để chứng minh một điều: dân cư vương quốc Champa cũ đă hội nhập hoàn toàn vào xă hội Việt Nam. Nhắc lại quá khứ của người Chăm cũng là nhắc lại quá khứ của cộng đồng người Việt tại miền Trung nói chung.”

   Trên đây là cách giải thích của ông Nguyễn Văn Huy được tác giả ghi nhận. Chúng ta phải nghiên cứu nhiều hơn nữa để biết một cách đích thực thân phận của người Chăm ở Trung Việt như thế nào.

   Hiện nay trên thế giới c̣n khoảng 400.000 người Chăm sinh sống tại nhiều nơi, đông nhất là tại Kampuchia (270.000 người), kế đến là Việt Nam (100.000 người), sau đó là Thái Lan (15.000 người) và cuối cùng là Liên Bang Mă Lai (năm 1979 đă tiếp nhận khoảng 10.000 người Chăm đến từ Kampuchia). Sau 30.4.1975, có khoảng 200 người Việt gốc Chăm (hơn 50 gia đ́nh) vượt biên và đa số đă định cư tại Hoa Kỳ.

 

   ÂM HƯỞNG CỦA CHĂMPA

   Khi chinh phục và sống ở vùng đất của người Chàm để lại, người Việt cũng đă chịu ảnh hưởng ít nhiều văn hóa của người Chàm, nhất là về phương diện nghệ thuật. Các điệu Nam Ai, Nam B́nh, Ḥ mái nh́... của Huế thấm nhuần khá nặng âm hưởng của nhạc Chàm và từ đó gây nhiều cảm hứng bàng bạc trong các tác phẩm mới về Huế như "Mưa trên phố Huế", "Huế thương", "Đêm tàn bến Ngự", "Ai ra xứ Huế, "Đây thôn Vĩ dạ", v.v.

   Xin độc giả thưởng thức một điệu Ḥ mái nh́ (Khuyết danh) khá quen thuộc:

   Núi Ngự B́nh mơ màng trăng gió

   Niềm tâm sự ai thấu rơ cho ḿnh;

   Đoái nh́n sông Hương nước chảy thanh thanh,

   Sông bao nhiêu nước dạ em si t́nh bấy nhiêu.

Núi Ngự B́nh trước tṛn sau méo,

Sông An Cựu nắng đục mưa trong,

Mặc ai một dạ hai ḷng,

Em ôm duyên thủ tiết loan pḥng đợi anh.

   Nước trong xanh bên thành con yến trắng

   Thẳng cánh c̣ bay tới cơi xa xăm.

   Anh đi mô không bóng không tăm,

   Năm canh em đợi ruột tằm héo hon.

 

   Trong bài Dẫn Nhập của cuốn “Quảng B́nh, chín trăm năm nh́n lại”, 1075 – 1975” tác giả Nguyễn Đức Cung đă viết như sau: “Trong bộ The Study of History, sử gia nổi tiếng người Anh Arnold J. Toynbee đă đưa ra nhận định: “Những miền nằm trên miền biên giới đều có sinh lực mạnh mẻ.” Thời tiền sử, Quảng B́nh là vùng “bản lề” của hai nền văn hóa Đông Sơn và văn hóa Sa Huỳnh, và thời hữu sử đó là đất biên cương tranh chiếm khá đẫm máu giữa hai dân tộc Chămpa và đại Việt trong nhiều thế kỷ.”

   H́nh như tiếng than của người Chămpa đă cuộn vào những câu ḥ mái đẩy sau đây:

   Trước bến Văn Lâu

   Ai ngồi ai câu

   Ai sầu ai thảm

   Ai thương ai cảm

   Ai nhớ ai mong

   Thuyền ai thấp thoáng bên sông

   Nghe câu mái đẩy chạnh ḷng nước non.

 

   Tú Gàn