Trong một cuốn video được phổ biến
trên đài truyền h́nh Al-Aqsa TV và Website
memritv.org của Hồi Giáo ngày 2.5.2008, ông Sheik
Ali Al-Faqir, cựu Bộ Trưởng Tôn Giáo của Jordan đă
thề sẽ chinh phục Tây Ban Nha và Roma và tuyên bố:
“Nước Mỹ và Cộng Đồng Âu Châu sắp đến ngày tận số”
(America and the EU will soon come to an end). Đây
là một bài kích động ḷng cuồng tín tôn giáo rất
hùng hồn. Trước đó, một số giáo sĩ và lănh tụ cao
cấp khác của Hồi Giáo cũng đă đưa ra những lời kích
động tương tự. Vấn đề được đặt ra là các giáo sĩ và
lănh tụ cao cấp của Hồi Giáo đă đưa ra những lời
kích động ḷng cuồng tín tôn giáo lúc này để làm ǵ?
1.- Ali Al-Faqir: “Chúng ta sẽ cai
trị thế giới như tiên tri Mohammad đă nói”.
Bài phát biểu của cựu Bộ Trưởng Sheik
Ali Al-Faqir rất hùng hồn và khá dài. Dưới đây chúng
tôi chỉ ghi lại những điểm chính:
“Chúng ta sẽ phải đương đầu với một
trận tuyến rộng hơn và mạnh hơn. Trận tuyến này khởi
sự từ Palestine, ở Iraq, ỏ Afghanistan, ở Chechnia.
Cái ǵ đă khởi sự nó phải hoàn tất. Nó không dừng
lại.
“Chúng ta phải tuyên bố rằng
Palestine, từ Sông
(Jordan) đến Biển
(Mediterrannean)
là đất của Hồi Giáo, và Tây Ban Nha – Andalusia,
cũng là đất của Hồi Giáo. Đất Hồi giáo bị kẻ thù
chiếm đoạt sẽ lại trở thành đất của đạo Hồi. Hơn thế,
chúng tôi c̣n tiến xa hơn các nước này nữa, những
nơi đă có lúc bị mất. Chúng tôi tuyên bố rằng chúng
tôi sẽ chinh phục Rôma, giống như Constantinople đă
có lần bị chinh phục, và cũng như nó sẽ bị chinh
phục lại...
“Sự tồn tại của chủ nghĩa Zionist đă
đạt tới sự hoàn thành, và nó bắt đầu suy thoái, cho
đến khi nó sẽ suy tàn và đi đến tận số. Hoa Kỳ đă
chiếm cứ, la lối dọa nạt, tức giận đến sủi bọt mép,
và tuyên bố, giống như Pharaoh,
‘Ta là Thượng đế tối
cao của ngươi’,
nhưng nó sẽ đến ngày tận số, và
chúng đă bắt đầu nhận thấy ngày tàn của chúng đang
gần kề.”
Sau đó Al-Faqir đă ám chỉ khi b́nh
luận về ưu thế đang trên đà tuột dốc của Mỹ và Âu
Châu:
“Chúng ta đă bắt đầu đọc thấy trên
báo chí Mỹ và Âu Châu rằng ‘vinh quang của chúng ta
đang tàn tạ, và chúng ta không có thể làm được ǵ để
cứu văn’”.
“Sáng nay, trên đài truyền h́nh Al-Jazeera
tôi thấy các khoa học gia và các lư thuyết gia
về chiến lược người Mỹ nói rằng nước Mỹ sắp đến ngày
tàn. Họ đă nói điều ấy trước đây về Liên Bang Sô
Viết, và, quả thực, Sô Viết đă đến ngày tận số,
c̣n bây giờ th́ chúng tôi nói Mỹ và Liên Hiệp Âu
Châu sẽ đến ngày tàn, chỉ c̣n sức mạnh đang lên của
Hồi giáo là thắng thế.”
“Các chuyên gia, các nhà b́nh luận Mỹ
và Âu Châu mới đây đă thảo luận về sự đi xuống rơ
rệt nơi quyền lực của Hoa Kỳ, nhất là nơi sức mạnh
kinh tế.
“Viết trong tờ báo Los Angeles Times,
nhà b́nh luận về an ninh quốc gia Fred Kaplan nói
rằng “những hành động ngu xuẩn” của Tổng thống
George W. Bush đă đẩy nhanh đà suy giảm ảnh hưởng
của Mỹ. Kaplan viết: “Chúng ta đă là một siêu
cường suốt hơn nửa thế kỷ. Nay chúng ta chỉ đứng
trên các nước hạng trung trong một thế giới không có
ai nắm quyền làm chủ.”
“Parag Khanna, một nghiên cứu sinh
tại New America Foundation, có viết trong báo New
York Times rằng Mỹ đang “thi đua – và thua cuộc –
trong một thị trường địa chính trị
(geopolitical)”,
với lư luận rằng việc toàn cầu hóa đă làm xói ṃn
tính ưu việt của Mỹ.
“Fareed Zakaria, biên tập viên mục
Quốc tế của báo Newsweek, cho in một đoạn văn trích
từ cuốn sách mới xuất bản của ông, trong số báo
Newsweek ra ngày 12 tháng 5. Zakaria lư luận rằng
một “chuyển đổi mạnh như địa chấn” về quyền lực và
quan điểm đă đưa thế giới đi vào một giai đoạn hậu
Mỹ quốc, giai đoạn mà Hoa Kỳ sẽ không c̣n ảnh hưởng
vô địch rộng lớn như nước này có được trong những
thập niên mới qua...”
2.- Yunis al-Astal: Roma sẽ bị chinh
phục
Đây không phải là lần đầu tiên một
giáo sĩ hay một nhân vật cao cấp của Hồi Giáo đưa ra
những lời kích động như vậy. Hôm 11.4.2008, một cuốn
video được phát h́nh trên đài truyền h́nh Al-Aqsa
của Hamas, Yunis al-Astal, một giáo sĩ Hồi Giáo cao
cấp và là thành viên của Hamas, đồng thời là một
thành viên Quốc Hội Palestine, cũng đă tiên đoán
rằng Rôma, “thủ đô của Công Giáo”, sẽ sớm bị chinh
phục bởi người Hồi Giáo. Yunis al-Astal đă nói với
các tín đồ của ông ta:
“Rất mau chóng, theo thánh ư của
Allah, Rôma sẽ bị chinh phục như thành
Constantinople theo lời tiên đoán của tiên tri
Mohammad. Ngày nay, Rôma là thủ đô của người
Công Giáo, hay thủ đô Thập Tự Quân, là nơi đă công
bố sự thù nghịch của nó đối với Hồi Giáo”.
Yunis al-Astal tiên đoán rằng Rôma
sẽ là “một vị trí tiền phương cho những cuộc chinh
phục Hồi Giáo, mà sẽ nhanh chóng lan tràn khắp Âu
Châu, sau đó đến lượt Bắc Mỹ và Nam Mỹ, ngay cả Đông
Âu nữa”.
Yunis al-Astal kích động:
“Allah đă chọn anh em cho chính Ngài
và cho tôn giáo của Ngài để anh em phục vụ như guồng
máy đẩy đưa đất nước này đến chỗ thành công, an ninh
và củng cố quyền lực và ngay cả những cuộc chinh
phục thông qua da'wa
(thuyết phục) và bạo lực để
chiếm các thủ đô và toàn thế giới.”
Tháng 6 năm ngoái, al-Astal đă tuyên
bố rằng nghĩa vụ của phụ nữ Palestine là phải tử đạo
qua những cuộc nổ bom tự sát.
3.-
Bin Laden: Tranh hí họa là một phần trong “cuộc
thánh chiến mới” chống Hồi giáo
Một thông điệp thu thanh của Bin
Laden được đưa lên mạng lưới của phiến quân hôm
19.3.2008, đe dọa sẽ tiến hành cuộc tấn công mới và
“mạnh mẽ” vào Âu Châu để trả đũa việc những bức
tranh hí họa tiên tri Mohammad, lúc đầu được in trên
báo chí tại Đan mạch, rồi năm 2008 được in lại trên
nhiều tờ nhật báo tại Aâu Châu.
Bin Laden gọi những tranh hí họa là
một phần trong “cuộc thánh chiến mới” chống Hồi
giáo, trong đó “Giáo Hoàng của Vatican đóng một vai
tṛ lớn và lâu dài.”
Bản tin của hảng thông tấn Zenit ngày
20.3.2008 cho biết Linh mục Federico Lombardi, Giám
Đốc Văn Pḥng Báo Chí Ṭa Thánh ṇi rằng những cáo
buộc của Osama bin Laden cho rằng Đức Giáo Hoàng
Benedict XVI giữ một vai tṛ lớn và lâu dài trong
cuộc thánh chiến chống Hồi Giáo, là hoàn toàn vô căn
cứ.
Việc các giáo sĩ và lănh tụ Hồi Giáo
lên tiếng kích động ḷng hận thù tôn giáo v́ nhiều
lư do:
1.- Bản chất của Hỗi Giáo được xây
dựng trên ḷng cuồng tín tôn giáo.
Như chúng tôi đă trích dẫn, Kinh
Koran dạy:
"Ta sẽ gieo kinh hoàng nơi trái tim
của những kẻ ngoại đạo. Các con hăy chặt đầu chúng
và hăy cắt rời tất cả các đầu ngón tay của chúng".
(I will cast terrors into the hearts
of those who disbelieve. Therefore, trike of their
heads and strike off every fingertips of them -
Koran 8:12).
Kinh Koran nói rơ với các tín đồ Hồi
Giáo rằng họ có thể giết người ngoại đạo mà không
phải chịu trách nhiệm về hành vi sát nhân này v́ đó
là việc Thiên Chúa làm:
"Không phải các con đă giết chúng mà
Thiên Chúa mới là đấng đă giết chúng và không phải
các con đă đập tan kẻ thù mà Thiên Chúa mới là đấng
đă dẹp tan chúng"
(You did not slay them but it was God
who slew them. You did not smite when you smote the
enemy but it was God who smote - Koran 8:17).
Kinh Koran coi những kẻ ngoại đạo đă
đi theo sự sai lầm, v́ thế, khi gặp những kẻ ngoại
đạo nơi chiến trường, chặt đầu chúng hoặc bắt chúng
bỏ tù.
(The unbelievers follow falsehood.
When you meet the unbelievers in the battlefield,
strike off their heads or make them prisoners -
Koran 47: 4).
2.- Đối phó với những biến cố
được coi là bất lợi cho Hồi Giáo.
Chúng tôi xin đưa ra hai trường hợp
điển h́nh:
Trường hợp thứ nhất
là tháng 9 năm 2005, nhật báo Jyllands Posten của
Đan Mạch đă mở cuộc thi các hí họa về Mohammad và có
12 búc h́nh dự thi được chấm trúng tuyển, trong đó
có một bức h́nh đă làm Hồi Giáo nổi giận, đó là bức
h́nh Mohammad với chiếc khăn truyền thống của người
A rập được quấn trên đầu trông giống như một quả bom
có ng̣i nổ. Đến đầu năm 2008 vừa qua, nhiều tờ báo
và tạp chí ở Châu Âu đă lần lượt đăng lại những bức
hí họa này. Trước những sự thách thưc đó, Bin Laden
phải lên tiếng nói rằng các bức hí hoạ này là một
phần trong “cuộc thánh chiến mới” chống Hồi giáo và
dọa tấn công vào Châu Âu để trả đũa.
Trường hợp thứ hai
là đêm Vọng Phục Sinh 23.3.2008 tại Roma, Đức Giáo
Hoàng Benedict XVI đă đích thân rửa tội cho một nhân
vật Hồi Giáo nổi tiếng là ông Magdi Allam, Phó Giám
Đốc của tờ báo nỗi tiếng ở Ư là tờ Il Corriere della
Sera. Ông Yaha Sergio Yahe Pallavicini, Phó Chủ Tịch
Liên Đoàn Hồi Giáo Italia đă nói với thông tấn xă
Reuters rằng theo ông, "Allam lẽ ra nên kín đáo
chọn một linh mục tại Viterbo, nơi ông ta sống để
được rửa tội". Việc "bội giáo công khai"
này sẽ gây tức giận trong thế giới Hồi Giáo.
3.- Làm nóng lại “tinh thần Hồi Giáo”
Lư do thứ ba có lẽ quan trọng hơn cả,
đó là để đối đầu với cuộc “thánh chiến” đang diễn
ra, các giáo sĩ và các nhà lănh đạo Hồi Giáo cần có
nhiều “cảm tử quân” trong khi cuộc chiến kéo dài đă
khiến đa số các tín đồ Hồi Giáo bắt đầu chán nản. Họ
thấy cần hâm nóng lại long cuồng tín tôn giáo.
Ngoài ra, nhiều thành phần trí thức
Hồi Giáo đă nhận ra con đường sai lầm mà các giáo sỹ
và lănh tụ Hồi Giáo đang lao đầu vào, nên đang hô
hào tạo một bầu không khí mới để Hồi Giáo có thể
sống chung hoà b́nh với cộng đồng nhân loại.
Ngày 24.12.2007, một số học giả hàng
đầu đại diện của Hồi Giáo đă gửi lời Chúc Mừng Giáng
Sinh đến tất cả các người Kitô Giáo trên toàn thế
giới. Lời Chúc Mừng Giáng Sinh này do nhóm 138 học
giả hàng đầu của các giáo phái Hồi Giáo Sunni,
Shi'ite, Sufi và các nhà học giả khác. Chính các vị
học giả này trong tháng 10 vừa qua đă kư tên trong
một bức thư gửi các nhà lảnh đạo Kitô Giáo trên toàn
thế giới đề nghị một cuộc đối thoại và kêu gọi kiến
tạo hoà b́nh cho thế giới.
Trong thư chúc mừng Giáng Sinh, các
học giả Hồi Giáo nhắc tới ư nghĩa Thượng Đế đă từ
chối không cho Abraham đưa con ḿnh làm lễ vật hy
sinh. Đó là một bài dạy mọi tín hữu phải quư trọng
mạng sống con người. Bức thư viết: “Xin cho năm mới
nhân phẩm và sự linh thánh của con người được tôn
trọng. Xin cho năm mới mọi người biết hối cải và ăn
năn trước Thượng Đế, biết tha thứ cho nhau và chung
sống giữa các cộng đồng.
Trước những cao trào như thế, các
giáo sĩ và các nhà lănh đạo Hồi Giáo đấu tranh nhận
thấy rằng cần phải kích động mạnh ḷng cuồng tín tôn
giáo mới có thể kéo các phần tử cực doan tham gia
vào cuộc chiến của họ. Giáo sĩ al-Astal đă từng công
khai kêu gọi các phụ nữ Palestine phải tử đạo qua
những cuộc nổ bom tự sát!
Mohammad, người thiết lập Hồi Giáo,
cũng đă từng chủ trương chinh phục cả thế giới,
nhưng ước nguyện của ông đă không thành.
Trong thế kỷ thứ 7, Mohammad đă
khởi xướng thánh chiến (Jihad) với những người
không tin Hồi Giáo. Người A-rập hưởng ứng rất mạnh
mẽ, một phần v́ mộ đạo, một phần muốn chiếm đoạt tài
sản của những người bại trận. Suốt cả thế kỷ thứ 7,
Hồi Giáo chiến thắng không ngừng. Họ bắt kẻ địch
phải lựa chọn: Nộp cống cho họ và thừa nhận Allah
hay là chết. Nhiều người theo Do Thái Giáo và Thiên
Chúa Giáo đă bỏ đạo theo Hồi Giáo. Nhờ vậy, Hồi Giáo
đă lập được những chiến công vào hạng oanh liệt nhất
trong lịch sử thế giới. Phía Đông họ chiếm Syria và
Ai Cập (634 - 639), Ba Tư (642) rồi tiến đến Ấn Độ
và Tân Cương. Phía Tây họ chinh phục được Bắc Phi
rồi từ đó tiến qua chiếm Tây Ban Nha. Qua thế kỷ thứ
8, Đế quốc A-rập đă mở rộng từ sông Hằng
(Ấn Độ) đến
Đại Tây Dương. Nhưng Đế Quốc A-rập tồn tại không lâu
v́ nội bộ chia rẽ, bị phân chia ra ba trung tâm, một
tại Cairo ở Ai Cập, một tại Baghdad ở Cận Đông và
một tại Cordoue ở Tây Ban Nha. A-rập không c̣n là
thủ đô của Hồi Giáo nữa. Sau này, khối A-rập lại
được chia thành nhiều nước nhỏ theo bộ tộc. Khối Hồi
Giáo lại chia ra nhiều hệ phái khác nhau, nên càng
yếu dần.
Tháng 7 năm 1798, Hoàng Đế Napoléon
của Pháp tranh giành với Anh con đường thông thương
qua Ấn Độ, đă đem quân chiếm Alexandria, xâm nhập
vào Ai Cập, mở đầu cho thời kỳ bị thực dân thống
trị. Thế giới Hồi Giáo từ Maroc tới Indonesia đă bị
đặt dưới sự đô hộ của các nước thực dân Tây Phương.
Các nước Hồi Giáo vừa là nguồn tài nguyên vừa trở
thành thị trường tiêu thụ của Tây phương. Nhiều cuộc
kháng chiến đă được tổ chức để chống lại, nhưng
không thành công. Phải sau Đại Chiến Thứ II, các
nước Hồi Giáo mới được trao trả độc lập dần. Tháng 5
năm 1971, Hội nghị Islam đă được triệu tập nhằm tạo
sự đoàn kết và hợp tác giữa các quốc gia Hồi Giáo.
Số người theo Hồi Giáo không ngừng tăng lên. Năm
2005, Hồi Giáo có 1 tỷ 164 triệu tín đồ, chỉ sau
Thiên Chúa Giáo với 1 tỷ 943 triệu. Hindus 761 triệu
và Phật Giáo 353 triệu. Tại Bắc Mỹ, Hồi Giáo có
khoảng 5.500.000 người. Có khoảng 30 quốc gia tuyên
bố Islam là quốc giáo.
Tuy nhiên, theo thống kê các nước Hồi
Giáo tŕnh lên Liên Hiệp Quốc năm 2006, số tín đồ
Hồi Giáo lần đầu tiên đă vượt qua số tín đồ Công
Giáo. Trong khi tổng số tín đồ Công Giáo vẫn giữ ở
mức 17,4% dân số thế giới, và tổng số t́n đồ Thiên
Chúa Giáo nói chung vẫn là 33%, số tín đồ Hồi Giáo
được báo cáo đă lên đến 19,2%.
Chưa có cơ quan độc lập nào kiểm
chứng về các con số mà các nước Hồi Giáo đă tŕnh
lên, nhưng số tín đồ Hồi Giáo tăng nhanh không có ǵ
lạ, v́ đa số các nước Hồi Giáo vẫn c̣n công nhận chế
độ đa thê và có tập quán sinh nhiều con. Nhưng dù
dân số các Hồi Giáo có tăng nhanh, các nước này cũng
khó ngoi đầu lên được v́ có một nền văn hoá quá
thấp. Trong cộng đồng Thiên Chúa Giáo, số người học
xong bậc trung học chiếm tỉ lệ 98%, trong khi tỉ lệ
này chưa tới 50% trong thế giới Hồi Giáo. Khoảng 40%
người Thiên Chúa Giáo theo học đại học trong khi
người Hồi Giáo chưa tới 2%!
Nhin chung, về phương diện quân sự,
chính trị, kinh tế, văn hóa và đời sông, khối Hồi
Giao rất yếu kém, họ không bao giờ có thể chinh phục
thế giới như ngày xưa được nữa. Các giáo sĩ và lănh
tụ Hồi Giáo chỉ bạo mồm để che đậy sự yếu kém của
ḿnh và thu hút các phần tử quá khích đứng về phía
họ mà thôi.
Nhiều chính phủ và tổ chức quốc tế
muốn đưa Hồi Giáo về sống chung cuộc sống hoà b́nh
với nhân loại, nhưng ước mong này rất khó thành.
Sau vụ một người Hồi Giáo quá khích
giết giáo sĩ Swami Shraddhanand thuộc Ấn giao vào
tháng 12 năm 1926, Thánh Mahatma Gandhi tuyên
bố:
“Những người Hồi Giáo có một thử
thách cam go phải vượt qua. Chắc chắn họ được tự do
sử dụng gươm và súng. Lưỡi gươm là biểu hiệu của Hồi
Giáo. Nhưng người Hồi Giáo được sinh ra trong môi
trường sẵn có gươm và gươm vẫn tồn tại đến ngày nay.
Gươm là luật tối thượng. Sứ điệp của Chúa Jesus
chứng tỏ bị vô hiệu hóa v́ môi trường ấy không sẵn
sàng chấp nhận sứ điệp của Ngài. Do đó, với sứ điệp
của đấng Tiên Tri
(tức Mohammad) thanh gươm vẫn là
biểu tượng của người Hồi Giáo. Hồi Giáo muốn nói ư
nghĩa ḥa b́nh, phải bỏ gươm vào bao.”
Triết gia Ấn Độ Swami Vivekananda đă
từng nói: “Trong kinh Koran có giáo lư dạy rằng con
người không tin vào những tín lư này th́ phăi giết
đi. Giết người ấy là sự thương xót. Hăy nghĩ đến
việc đổ máu. Đổ máu và niềm tin có liên hệ nhân
quả.”
Ông Ambedkar, người soạn ra bản hiến
pháp Ấn Độ đă nhấn mạnh: "Hồi Giáo phân chia thế
giới thành hai miền: Miền gọi là Dar-ul Islam (Abode
of Islam) là nơi của người Hồi Giáo. Miền kia gọi là
Dar-ul Harb (Abode of War) tức miền của chiến tranh.
Những quốc gia nào chưa do người Hồi Giáo kiểm soát
th́ phải gây chiến."
Ông Samuel Huntington, Giáo Sư Đại
Học Harvard đă có nhận xét:
“Kinh Koran và
niềm tin Hồi Giáo chứa đựng rất ít ư tưởng cấm xử
dụng bạo lực. Và ư niệm bất bạo động không có trong
giáo lư và việc hành đạo của Hồi Giáo.”
Tuy nhiên, trong những năm gần đây,
Tổ Chức Liên Lạc và Văn Hóa Hồi Giáo của Tehran,
Iran, do ông Mahdi Mostafavi làm Chủ Tịch, và Hội
Đồng Giáo Hoàng về Đối Thoại Liên Tôn Giáo của Toà
Thánh Vatican do Đức Hồng Y Jean-Louis Tauran làm
Chủ Tịch, đă thảo luận về đề tài “Đức tin và Lư trí
nơi Thiên Chúa Giáo và Hồi Giáo”. Trong phiên họp
lần thứ 6 vào cuối tháng 12 năm 2007, hai bên đă đưa
ra những nhận định chung như sau:
“Đức tin và lư trí” đều là quà tặng
của Thượng Đế ban cho nhân loại.
“Đức tin và lư trí” không tương phản
nhau, tuy nhiên, trong một số trường hợp, đức tin có
thể vượt lên trên lư trí, nhưng không hề chống lại
lư trí.
“Đức tin và lư trí”, từ bản chất, đều
có tính bất bạo động. Cả lư trí và đức tin đều không
nên đem dùng để bạo hành; bất hạnh thay, cả hai đă
có lúc bị sử dụng sai lạc để phạm tội bạo hành.
Trong bất cứ trường hợp nào, những vụ việc này không
thể đem lư trí hoặc đức tin ra để đặt thành vấn đề.”
Trong diễn từ đọc tại nhà thờ chính
ṭa Westminter ở London vào hôm 3.4.2008 vừa qua,
Cựu Thủ Tướng Anh Tony Blair kêu gọi hăy cứu tôn
giáo khỏi tay những kẻ cực đoan và hăy đánh giá đức
tin tôn giáo cao hơn nữa. Ông nói:
“Chúng ta không lo hiểm họa nên
mới lơ là sức mạnh của tôn giáo. Đức tin tôn
giáo, chính trong tự thân, là một điều tốt, và nên
được dùng làm sức mạnh thúc đẩy tiến bộ.”
Nhưng, theo ông, ảnh hưởng của lănh
đạo tôn giáo rất thường hay bị những kẻ quá khích
dùng làm công cụ. Ông nhận định:
“Mặc dầu những kẻ khủng bố Hồi Giáo
đă là những người nổi bật về chuyện lợi dụng đức
tin, nhưng hầu như mọi tôn giáo đều bị hoen ố bởi
chủ nghĩa cực đoan.”
Ông định nghĩa cực đoan là những kẻ
coi đức tin của ḿnh
“là phương tiện loại trừ người
khác khi người đó không chia sẻ cùng đức tin với
ḿnh.”
Ông cho biết ông đă thành lập tổ chức
“Faith Foundation” (Cơ sở Đức Tin). Mục tiêu của tổ
chức này là xử dụng sức mạnh của tôn giáo vào các dự
án có lợi, đáng kể là công cuộc chống nghèo đói trên
toàn thế giới.
Trong bài nói chuyện được phổ biến
trên truyền h́nh Al-Aqsa TV và Website memritv.org
của Hồi Giáo vào ngày 2.5.2008 như đă nói trên, ông
Sheik Ali Al-Faqir, cựu Bộ Trưởng Tôn Giáo của
Jordan có nhắc lại nhận định của b́nh luận gia Fred
Replan trong bài “Downsizing our dominance”
đăng trên tờ Los Angeles Times số ra ngày 3.2.2008:
“Viết trong tờ báo Los Angeles Times,
nhà b́nh luận về an ninh quốc gia Fred Kaplan nói
rằng “những hành động ngu xuẩn” của Tổng thống
George W. Bush đă đẩy nhanh đà suy giảm ảnh hưởng
của Mỹ. Kaplan viết: “Chúng ta đă là một siêu cường
suốt hơn nửa thế kỷ. Nay chúng ta chỉ đứng trên các
nước hạng trung trong một thế giới không có ai nắm
quyền làm chủ.”
Thật ra, ông Sheik Ali Al-Faqir đă
trích dẫn đoạn trên dựa vào hai câu sau đây của b́nh
luận gia Fred Kaplan:
“Những sự điên rồ của Tổng Thống Bush
đă đẩy nhanh đà suy giảm ảnh hưởng của Hoa Kỳ, nhưng
ông ta không thể bị chỉ trích về sự tấn công của ông
ta...
“Trong một nữa thế kỷ, chúng ta đă là
một siêu quyền lực được kiến trúc chặt chẽ. Nay
chúng ta chỉ đứng trên các nước hạng trung trong một
thế giới không có ai nắm quyền làm chủ – một thế
giới hoặc trở thành đa cực hoặc trôi dạt theo chiều
hướng ở trong t́nh trạng hổn loạn.”
Trong cuộc tranh cử tổng thống hiện
nay tại Hoa Kỳ, các ứng cử viên đă tranh luận khá
gay gắt về chính sách đối ngoại sắp tới và cách giải
quyết những di sản do Tổng Thống Buh để lại.
Chúng tôi xin nhắc lại: Hiến Chương
Liên Hiệp Quốc và Quốc Tế Công Pháp đă cấm mỗi quốc
gia thành viên không được xâm phạm sự toàn vẹn lănh
thổ và độc lập chính trị của quốc gia khác. Khi có
những sự vi phạm luật quốc tế, ḥa b́nh và an ninh
thế giới, chỉ Hội Đồng Bảo An mới có thẩm quyền thẩm
định và đưa ra các biện pháp chế tài. Các quốc gia
không được tự ư hành động ngoài những điều luật quốc
tế cho phép.
Nhưng trong bài diễn văn đọc trước
Đại Hội Đồng LHQ ngày 12.9.2002, Tổng Thống Bush đă
mô tả chế độ của Saddam Hussein là “một sự nguy
hiểm nghiêm trọng và tập trung” (a grave and
gathering danger) và ông nói nếu Liên Hiệp Quốc
không yểm trợ, Hoa Kỳ sẽ dành quyền ra tay trước,
không cần sự chấp thuận của Hội Đồng Bảo An.
Điều chắc chắn khi quyết định mở cuộc
tấn công vào Iraq mà không có sự chấp thuận của Hội
Đồng Bảo An, chính phủ Bush thừa hiểu rằng họ đă
vượt qua luật pháp quốc tế và sẽ gánh chịu những hậu
quả như đang diễn ra ngày nay, nhưng v́ quyền lợi
của khối tư bản đàng sau, họ cứ làm!
Trước khi có cuộc chiến Iraq, Hoa Kỳ
và các nước Tây Phương có chính sách phân khối Hồi
Giáo ra thành nhiều nhóm đối chọi nhau. Ngoài những
nước như Kwait, Saudi Arabia… đứng hẵn về phía Hoa
Kỳ và Tây Phương, Hoa Kỳ c̣n ngầm yểm trợ cho cho
Iraq và Iran đánh nhau, Syria quấy rối trong vùng...
Nhưng khi Hoa Kỳ mở cuộc tấn công Iraq, các nước Hồi
Giáo bị bắt buộc phải ngồi lại với nhau v́ sự tồn
vong của họ và các phần tử Hồi Giáo cực đoan có cơ
hội và môi trường hành động. Thành ra cuộc tấn công
Iraq đă làm cho thảm họa Hồi Giáo trở thành lớn hơn
với những khó khăn mà nhân loại đang phải đối phó
lúc này.