Đợi ǵ ở Obama?
Lữ Giang
Lễ tuyên thệ nhận chức Tổng Thống của ông Barack Obama
hôm 20.1.2009 được coi là lớn nhất trong lịch sử Hoa Kỳ.
Bài diễn văn ông đọc trong lễ nhận chức, nhận định về
thực trạng, phác họa những kế hoạch mà chính phủ ông sẽ
thực hiện trong 4 năm tới và quyết tâm đi đến thắng lợi
của chính phủ và của nhân dân Hoa Kỳ... đă làm nhiều
người phấn khởi. Ai cũng khen ông là một nhà hùng biện.
Một cuộc thăm ḍ của hăng thông tấn xă AP và tổ chức
nghiên cứu thị trường Growth from Knowledge (GfK)
vào ngày trước ngày ông Obama nhận chức, nhiều người Mỹ
tin rằng ông Barack Obama đi đúng hướng để thành công và
tin tưởng một cách lạc quan rằng ông có thể hồi sinh nền
kinh tế đang gặp khó khăn.
Châu Âu đă gởi tới Tổng thống Barack Obama lời chào mừng
nồng nhiệt và nhiều người Châu Âu bày tỏ sự tin tưởng
rằng đây là vị Tổng thống Mỹ mà họ có thể làm việc chung
và là người sẽ lắng nghe ư kiến và những mối quan tâm
của họ. Tạp chí Le Figaro dành 16 trang phóng sự đặt
biệt với chủ đề ''Nước Mỹ của Obama''
Tuy nhiên, Ngoại Trưởng Pháp
Bernard Kouchner nói ông
“chia sẻ sự ngưỡng mộ và t́nh cảm mà cả thế giới”
dành cho ông Obama, nhưng lại nói thêm:
"Tôi nghĩ chúng ta không nên
mong đợi ông ấy giải quyết ngay lập tức các vấn đề của
nước Mỹ. Ông Barack Obama không có phép thần thông."
Riêng Thủ tướng Nga Vladimir Putin
đă dội một gáo nước lạnh vào hy vọng của những người lạc
quan: "Tôi tin tưởng sâu
sắc rằng những thất vọng lớn nhất thường là từ sự mong
đợi quá lớn."
Sở dĩ có những quan điểm trái ngược nhau về ông Obama là
v́ những khó khăn của Hoa Kỳ và thế giới hiện nay quá
lớn và việc giải quyết không dễ dàng.
CÁC THÁCH THỨC NGHIÊM TRỌNG
Trong bài diễn văn nhận chức, ông Obama nh́n nhận những
thách thức nghiêm trọng sau đây:
“Ai cũng biết chúng ta hiện đang ở giữa cuộc khủng
hoảng. Đất nước chúng ta đang trong thời chiến, chống
lại một mạng lưới bạo lực và thù hận rộng khắp. Nền
kinh tế của chúng ta đă bị suy yếu một cách tồi tệ, một
phần là hậu quả của thói tham lam và vô trách nhiệm của
một số người, nhưng một phần cũng v́ chúng ta đă
thất bại khi thực hiện những lựa chọn khó khăn và chuẩn
bị cho đất nước đi vào kỷ nguyên mới.”
Đây là một h́nh thức quy trách nhiệm cho chính phủ
Bush..
Những kẻ có “thói tham lam vô trách nhiệm”
mà ông Obama đề cập nói trên là ai? Trong bài tiển ông
Bush đi, chúng tôi đă chứng minh, v́ quyền lợi riêng tư
của hai tập thể tài phiệt là các công ty khai thác dầu
lửa và các công ty đấu thầu quốc pḥng, chính phủ Bush
đă mở cuộc chiến Iraq bằng mọi giá, bất chấp mọi hậu quả.
Ngoài hai loại tài phiệt này ra, c̣n có hai loại tài
phiệt khác cũng thuộc loại “tham lam vô trách
nhiệm”, đă đưa nền kinh tế Hoa Kỳ và thế giới
đến chỗ khủng hoảng, đó là các tổ chức gian lận chứng
khoán ở thị trường Wall Street và các tổ chức lũng đoạn
thị trường địa ốc tại Hoa Kỳ.
Vụ gian lận thị trường chứng khoán Wall Street đă được
nói qua trong bài
“Nhỏ ăn nhỏ, lớn ăn lớn”.
Ở đây chúng tôi xin nói thêm những
nét chính về nhóm lũng đoạn thị trường địa ốc.
Trong nhiều thập niên qua, các tổ chức tài trợ tín dụng
địa ốc thường lèo lái thị trường địa ốc để bảo đảm số
tiền lời của họ không bị biến động nhiều mỗi khi có thay
đổi lăi suất. Luật cung cầu của thị trường coi như bỏ đi:
Mỗi khi Ngân Hàng Dự Trử Liên Bang (viết tắt
là FED) đưa lăi xuất xuống, họ
thường nâng giá nhà lên để tiền lời họ thu vô không thay
đổi. Giá nhà một khi đă đưa lên, rất khó trở lại mức cũ.
Trái lại, mỗi khi FED đưa lăi suất lên, nhất là khi lên
khá cao, họ thường phải hạ giá nhà xuống để số người mua
nhà không giảm. Việc điều chỉnh giá nhà theo kiểu này đă
làm thị trường địa ốc bất ổn liên tục. Người mua nhà có
khi lời lớn và có khi trắng tay! Ngoài ra, các công ty
tài trợ địa ốc c̣n cố t́nh làm ngơ cho những người mua
nhà làm các giấy chứng nhận lợi tức giả để chấp nhận tài
trợ.
Trong năm 2008, có quá nhiều người mua nhà mất việc hay
lợi tức bị giảm sút, không c̣n khả năng trả tiền nhà,
nhiều tổ chức tài trợ tín dụng địa ốc bị sụp đổ. Ngày
11.7.2008 thị trường tài chính Hoa Kỳ choáng váng sau
khi ngân hàng tài trợ tín dụng thế chấp IndyMac Bank
Corporation phải tạm đóng cửa v́ không c̣n khả năng
thanh toán. IndyMac là một trong những định chế tài
chính lớn nhất ở Mỹ v́ có tích sản lên đến 32 tỷ. Hai tổ
chức lớn khác là Fannie Mae và Freddie Mac cũng gặp khó
khăn tương tự. Kể từ khi cuộc khủng hoảng địa ốc bùng
lên vào tháng 8 năm 2008, tài sản của Fannie Mae và
Freddie Mac đă bị mất đi 11 tỷ đô la. Chỉ trong nội một
phiên giao dịch chứng khoán, cổ phẩn của hai ngân hàng
này đă sụt giá đến gần 50%. Từ hôm 15 đến 21.1.2009, FED
đă phải phải mua lại các khoản bảo hiểm cho vay của ba
tổ chức Fannie Mae, Freddie Mac và Ginnie Mae với một số
tiền lên đến 52,6 tỷ!
Trên đây chỉ là một số vụ đă được đua ra ánh sáng. C̣n
rất nhiều nhóm tài phiệt thường đứng đàng sau để trục
lợi.
Một thách thức thứ hai đă được ông Obama coi là nghiêm
trọng và tuyên bố cương quyết đối phó. Ông nói một cách
mạnh mẻ:
“Ngày hôm nay, chúng ta tới để tuyên bố chấm dứt
những lời than văn vụn vặt cùng những lời hứa hẹn dối
trá, những lời tố cáo lẫn nhau và những lời nói giáo
điều nhàm chán, những thứ đă bóp nghẹt nền chính trị của
chúng ta quá lâu.”
Có lẻ để thể hiện chủ trương này, hôm 23.1.2009 hăng
thông tấn AP cho biết, Tổng Thống Obama chuẩn bị kư sắc
lệnh băi bỏ lệnh cấm sử dụng quĩ liên bang để tài trợ
cho các tổ chức quốc tế tuyên truyền và thực hiện việc
phá thai. Lệnh cấm này thường được nhắc đến với cái tên
“chính sách Mexico City” nhằm ngăn chận
việc sử dụng tiến thuế của công dân Hoa Kỳ để tài trợ
cho các tổ chức quốc tế tuyên truyền và cổ vũ việc phá
thai.
Trong thời gia tranh cử, ông Obama né tránh không nói ǵ
đến vấn đề kiểm soát súng (gun control)
hoặc hôn nhân đồng tính (gay marriage).
Ông lên tiếng ủng hộ quyền phá thai khi bị chất vấn,
nhưng lại nhấn mạnh rằng ông ước muốn giảm số lượng phá
thai nhiều hơn.
Chúng tôi nghĩ rằng khi đặt những vấn đề như thế này vào
những thách thức trọng tâm cần phải giải quyết dứt khoát
trong nhiệm kỳ tổng thống khó khăn của ông, ông Obama đă
tự tạo ra cho ḿnh những khó khăn hơn là mở đường đi tới.
Các nhà phân tích cho rằng Tổng Thống Obama có đến 10
thách thức cần phải đối phó, trong đó có vụ rút quân
khỏi Iraq, tăng cường chống lực lượng Taliban, giải cứu
thị trường tài chánh, phục hồi thị trường lao động, bảo
hiểm y tế cho tất cả mọi người dân (có khoảng
45,7 triệu chưa có bảo hiểm),
v.v. Nhưng có lẽ ở trước mắt, có hai thách thức lớn nhất
mà ông Obama phải đương đầu, đó là cuộc khủng hoảng kinh
tế và cuộc chiến Iraq.
KHỦNG
HOẢNG KINH TẾ
Chúng ta nhớ lại cuộc suy thoái kinh tế Hoa Kỳ và thế
giới đă xẩy ra năm 1929. Ngày 29.10.1929, thị trường
chứng khoán Wall Street đă sụp đổ một cách tồi tệ và
ngày này đă được gọi là ngày Thứ Ba Đen. Sau đó, cuộc
khủng hoảng đă lan ra một cách nhanh chóng trên toàn
Châu Âu và mọi nơi trên thế giới, phá hủy nền kinh tế
của cả các nước phát triển: Thương mại quốc tế suy sụp.
Năng xuất từ thành thị đến nông thôn giảm từ 40% đến
60%. Các lĩnh vực xây dựng, khai mỏ và khai thác gỗ bị
ảnh hưởng lớn nhất.
Trước đây, các nhà kinh tế thường cho rằng một chu kỳ
kinh doanh thường có bốn giai đoạn: suy thoái, khủng
hoảng, phục hồi và hưng thịnh. Tuy nhiên, ngày nay
các nhà kinh tế đă đưa ra các biện pháp để cuộc khủng
hoảng kinh tế theo kiểu năm 1929 không xẩy ra nữa. Ngày
nay, được coi là suy thoái khi Tổng Sản Lượng Nội Địa
(GDP) thực tế giảm đến mức
độ âm. Ở Mỹ và Nhật Bản, người ta quy định rằng, khi
tốc độ tăng trưởng của GDP có giá trị âm suốt hai tam
cá nguyệt liên tiếp th́ mới gọi là suy thoái.
Một số đặc điểm thường gặp của suy thoái kinh tế là:
Tiêu dùng giảm mạnh, số tồn kho của các loại hàng hóa
lâu bền trong các doanh nghiệp tăng lên ngoài mức dự trù
khiến các nhà sản xuất phải giảm số lượng sản xuất, số
ngày làm việc của người lao động giảm xuống và tỷ lệ
thất nghiệp tăng cao. Lợi nhuận của các doanh nghiệp
giảm mạnh và giá chứng khoán giảm theo. Nhu cầu về vốn
cũng giảm làm cho lăi suất giảm xuống, v.v. Trong thời
kỳ nền kinh tế hưng thịnh, các dấu hiệu trên biến thiên
theo chiều ngược lại.
Một số nhà phân tích cho rằng nước Mỹ và thế giới đang
trở lại thời kỳ khủng hoảng kinh tế 1929 – 1930. Nhưng
ông Ben Bernanke, Chủ Tịch FED không đồng t́nh với luận
điểm này. Theo ông, đà đi xuống của nền kinh tế Mỹ hiện
nay được coi là dài thứ ba kể từ sau thập niên 30 của
thế kỷ trước, nhưng nó khác xa những ǵ trong quá khứ.
Ông nói rằng hồi đó sự tăng trưởng kinh tế Mỹ giảm đến
độ âm trong suốt một thập kỷ, cứ bốn người Mỹ lại có một
người thất nghiệp và các ngân hàng đổ vỡ hàng loạt. C̣n
t́nh trạng hiện nay chưa đến mức như vậy, Và ông kết
luận: "Hăy loại bỏ sự so sánh đó ra khỏi tâm trí
chúng ta.”
Ông cho biết ông và các cộng sự đang “soi chiếu lịch sử
để có những quyết sách đúng đắn, tránh những ǵ đă xảy
ra trong quá khứ.”
GIẢI QUYẾT
VỤ IRAQ
Trong một bài b́nh luận dưới dầu
đề “Giấc mơ Mỹ tại Iraq lâm thế kẹt” được
đọc trên đài BBC hôm 12.5.2004, phóng viên ngoại giao
Barnaby Mason đă có nhận định:
“Một mục đích của Washington là
bảo đảm chỗ đứng chiến lược lâu dài ở Iraq. Đă có lúc,
người ta cho rằng điều này sẽ thay thế các căn cứ quân
sự ở Saudi Arabia, Khó nói là viễn cảnh này sẽ c̣n tồn
tại vào lúc một chính quyền đại diện xuất hiện ở Iraq –
hay ngược lại, vào lúc nước này rơi vào hỗn loạn.”
Không cần dựa vào những phân tích và lư luận phiền phức,
chúng ta cứ nh́n vào thực tế là biết ngay Mỹ sẽ giải
quyết vụ Iraq như thế nào.
Tôi nhớ lại, năm 1975, khi Ban Mê
Thuộc vừa bị mất, tôi đi vào Thượng Viện VNCH để xem
t́nh h́nh như thế nào. Người đầu tiên mà tôi gặp là Nghị
Sĩ La Thành Nghệ, một đại thương gia của Sài G̣n lúc bấy
giờ. Ông hỏi tôi về t́nh h́nh. Tôi nói với ông tôi mới
nói chuyện với một tham vụ của Toà Đại Sứ Mỹ, ông ta bảo
chỉ có B-52 mới cứu văn được thôi, nhưng B-52 không c̣n.
Nghị Sĩ La Thành Nghệ liền nói:
Đúng rồi! Anh coi, các ngân
hàng, các cơ sở thương mại, các công sở của Mỹ ở đây đă
bắt đầu dẹp tiệm và di tản. Coi như miền Nam sắp mất rồi!
Bây giờ nh́n lại Iraq, chúng ta thấy t́nh trạng cũng
đang xẩy ra gần như vậy: Các công ty khai thác dầu lửa
sau gần 8 năm làm ăn khấm khá ở Iraq, bây giờ đang tim
đường rút v́ họ tin rằng Tổng Thống Obama không c̣n cách
nào khác hơn là sẽ Iraq hoá cuộc chiến, trao quyền dần
lại cho chính quyền Iraq và rút lui “trong danh dự”.
Các công ty khai thác dầu lửa cũng dự liệu rằng việc
khai thác dầu ở Saudi Arabia rồi cũng có thể gặp khó
khăn, chỉ c̣n lại Kuwait, nên họ đă bắt đầu chuyển đến
Nigeria và vịnh Guinea, phía tây bờ biển châu Phi, nơi
có trữ lượng dầu lửa lớn.
Mỹ đă lập một căn cứ quân sự tại cảng Djibouti và nhiều
nơi khác như Ghana, Senegal, Mali, Equatorial Guinea và
một quốc gia rất nhỏ ngự trị trên ḥn đảo Sao Tome. Các
công ty dầu lửa ước lượng vào năm tới họ có thể thu
hoạch dầu lửa ở Tây châu Phi khoảng 20% tổng số dầu lửa
trên thế giới. Đây là dấu hiệu cho thấy Mỹ đang tiến tới
một giải pháp “hoà b́nh trong danh dự” tại
Iraq.
Sự tốn kém về ngân sách quốc pḥng đă lên tới 622 tỷ
mỗi năm, do đó nếu không giải quyết dứt khoát vụ
Iraq, khó giải quyết được vấn đề kinh tế.
TIỀM NĂNG CỦA NƯỚC MỸ
Trong bài diễn văn nhận chức, Tổng Thống Obama có nói:
“Chúng ta vẫn là quốc gia thịnh vượng nhất, mạnh nhất
trên trái đất. Các công nhân của chúng ta không hề
làm việc kém hiệu quả hơn thời điểm cuộc khủng hoảng này
bắt đầu. Trí óc của chúng ta không hề kém sáng tạo, hàng
hoá và dịch vụ của chúng ta không hề kém cần thiết hơn
tuần trước, tháng trước hay năm ngoái. Năng lực của
chúng ta vẫn không hề bị sút giảm. Nhưng thời của sự bảo
vệ những lợi ích hẹp ḥi và lảng tránh những quyết định
không mấy thú vị của chúng ta - thời đó chắc chắn đă
trôi qua.”
1.- Cái tên của đất nước này
Trước khi tŕnh bày về tiềm năng to lớn của nước Mỹ,
chúng tôi xin nói qua cái tên của đất nước này mà người
Việt thường dùng.
Thiền sư Lê Mạnh Thát, người theo thuyết “Phật giáo
siêu việt” và “Phật giáo là dân tộc” đă cho
rằng kinh Phật đầu tiên được viết bằng tiếng Việt, sau
đó được dịch ra tiến Tàu, và tiếng Việt đẻ ra tiếng Tàu.
Nhưng sự phân tích của các nhà ngữ học cho thấy cứ 7
tiếng Việt có 5 tiếng Tàu. Tên của đất nước này mà người
Việt gọi cũng được phiên âm từ chữ Hán ra.
Nước Mỹ có tên chính thức là “United States of
America”, viết tắt là U.S.A. Người Tàu dịch ra tiếng
Tàu và ta phiên âm Hán Việt thành “A Mỹ Lợi Gia
Hợp Chúng Quốc”, sau rút lại chỉ c̣n “Hợp Chúng
Quốc” Nhưng cũng có người viết là “Hợp Chủng Quốc” v́
tưởng rằng chữ “chủng” ở đây là chủng tộc. Thật sự,
trong chữ Hán, đó là chữ “chúng”, có nghĩa là nhiều.
Thuật từ America ngày xưa được dùng để chỉ các
vùng đất tây bán cầu. Tên này được đặt vào đầu thế kỷ 16
theo tên của nhà thám hiểm kiêm chuyên gia vẽ bản đồ
người Ư là Amerigo Vespucci. Chữ America được người Tàu
phiên âm ra chữ Tàu thành bốn âm và ta phiên ra Hán-Việt
là “A Mỹ Lợi Gia”, sau đó cắt bỏ đi ba âm,
chỉ c̣n giữ lại chũ “Mỹ” mà thôi.
Chũ Hoa Kỳ phát xuất từ cờ của Hợp Chúng Quốc có những
sao lấp lánh như bông hoa. Ngày nay người Tàu không dùng
chữ Hoa Kỳ nữa, chỉ có người Việt.
2.- Vận mệnh hiển nhiên
Sau khi tuyên bố độc lập vào năm 1776, người Mỹ đă tiến
dần về phía tây.
Các cuộc chiến tranh với người bản thổ Mỹ kéo dài cho
đến cuối thế kỷ 19 khi họ bị tước đoạt hết đất đai. Sau
đó, Mỹ mua vùng đất Louisiana của Pháp làm tăng gấp đôi
diện tích Hoa Kỳ. Một loạt các cuộc tiến công quân sự
của Hoa Kỳ vào Florida đưa đến việc Tây Ban Nha nhượng
lại vùng đất Florida và nhiều lănh thổ duyên hải Vịnh
Mexico khác cho Hoa Kỳ năm 1819. Hoa Kỳ sát nhập Cộng
ḥa Texas năm 1845.
Hiệp ước Oregon với Anh năm 1846 đưa đến việc Hoa Kỳ
kiểm soát vùng mà ngày nay là Tây Bắc Hoa Kỳ. Chiến
thắng của Hoa Kỳ trong Chiến tranh Mexico-Mỹ năm 1848
đưa đến việc Mexico nhượng lại California và phần nhiều
những vùng đất mà ngày nay là Tây Nam Hoa Kỳ.
Cơn sốt vàng California năm
1848–1849 càng hấp dẫn di dân về miền tây. Các đường sắt
mới xây dựng tạo cho người định cư dễ dàng di chuyển
khắp nơi hơn nhưng làm gia tăng các cuộc xung đột với
người bản thổ Mỹ và làm cho dân bản thổ ngày càng biết
mất. Các nhà đi chính phục đất đai trên đất nước này coi
đó là “Vận mệnh hiển nhiên”
(Manifest Destiny)!
Ngày nay, Hoa Kỳ đă có một nền kinh tế tư bản chủ nghĩa
với nhiều tài nguyên thiên nhiên phong phú, các cơ sở hạ
tầng phát triển tốt và hiệu xuất cao. Theo Quỹ Tiền tệ
Quốc tế, Tổng Sản Phẩm Nội Địa (GDP)
của Hoa Kỳ hiện nay hơn 13 ngàn
tỉ đô la, chiếm 20% tổng sản phẩm thế giới, lớn hơn
một chút so với tổng sản phẩm nội địa kết hợp của Liên
Hiệp Châu Âu năm 2006.
Hoa Kỳ là nước nhập cảng hàng hóa lớn nhất và là nước
xuất cảng đứng hạng nh́. Canada, Trung Hoa, Mexico, Nhật
Bản và Đức là các bạn hàng lớn nhất của Hoa Kỳ.
Nhưng nợ quốc gia của Hoa Kỳ lại lớn nhất thế giới; năm
2005 số nợ này chiếm 23% tổng số nợ toàn thế giới. Tính
theo phần trăm tổng sản phẩm nội địa (GDP),
nợ của Hoa Kỳ xếp thứ 30 trong số 120 quốc gia sẵn có số
liệu.
Vào những năm cuối của thế kỷ 20, một số giới bảo thủ
tại Mỹ đă họp lại và đưa ra một dự án có tên là “Dự
Án cho một thế kỷ Hoa Kỳ Mới” (Project
for the New American Century)
nhằm bảo đảm rằng Hoa Kỳ vẫn c̣n giữ được địa vị bá chủ
trên thế giới trong thế kỷ 21. Dự án này gồm 4 tham vọng
táo bạo sau đây:
(1) Gia tăng ngân sách quốc pḥng khổng lồ sẵn có bằng
chi tiêu về các chương tŕnh xă hội nội địa.
(2) Làm sụp đổ các chế độ chống lại các quyền lợi tập
thể của chúng ta.
(3) Dùng vũ lực để áp đặt chế độ dân chủ ở những vùng
không có lịch sử về tiến tŕnh dân chủ.
(4) Thay thế vai tṛ của Liên Hiệp Quốc ǵn giữ và mở
rộng trật tự thế giới.
Những tham vọng này đă biến mất sau khi Hoa Kỳ mở cuộc
tấn công vào Iraq và đang gánh chịu một t́nh trạng suy
thoái kinh tế khá nặng nề.
ĐỐI PHÓ VỚI THỰC TẾ
Bây giờ chúng ta mới biết được một số kế hoạch cứu văn
nền kinh tế do ông Obama đưa ra cho năm 2009, trong đó
có hai kế hoạch quan trọng nhất:
(1) Với cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay của Hoa Kỳ,
ông Obama muốn thực hiện dự án đầu tư lớn nhất về hạ
tầng kể từ thập niên 1950 tới nay. Các dự án này bao gồm
xây dựng lại cầu đường trên toàn quốc, tân trang và nâng
cấp công sở, trường học. Theo ông, việc làm này trước
mắt là tạo việc làm và kích thích người tiêu dùng mua
sắm. Chi phí cho kế hoạch hỗ trợ kinh tế này là từ 700
đến 1.000 tỷ đôla.
Tuy nhiên, một số người thuộc phe Cộng ḥa chỉ trích
rằng đảng Dân Chủ đang lợi dụng cuộc khủng hoảng kinh tế
hiện thời để đầu tư tiền vào các dự án dài hơn, hơn là
tập trung trong vài năm tới khi thâm hụt ngân sách kỷ
lục sẽ ảnh hưởng tới chi tiêu của chính phủ.
Ông Obama cũng muốn xin 300 tỷ để
cấp cho những người nộp thuế và các cặp vợ chồng hoàn
thuế khoảng từ 500-1000 đôla, với mục tiêu khuyến khích
chi tiêu thêm. Nhưng Thượng Nghị Sỹ Dân Chủ Kent Conrad,
Chủ tịch Ủy ban Ngân sách Thượng viện nói:
"Khi mọi người đang sợ sẽ bị
mất việc làm, nếu họ nhận được thêm 20 đô la mỗi tuần họ
không tiêu mà sẽ giữ tiết kiệm.”
Thượng Nghị Sỹ Dân Tom Harkin tỏ ra hoài nghi về hiệu
quả của kế hoạch này.
(2) Tái phối trí lại lực lượng quân đội Mỹ tại Iraq và
Afghanistan. Các viên chức Bộ Quốc Pḥng cho biết có
khoảng từ 20 đến 30 ngàn lính sẽ được điều tới
Afghanistan vào mùa hè, tăng gấp đôi quân số hiện nay.
Một số cố vấn an ninh của ông Obama cho rằng biện pháp
này sẽ làm cho lực lượng tại Iraq suy yếu, nhưng ông
Obama cho rằng giải pháp rút quân khỏi Iraq vẫn nằm
trong nghị tŕnh của ông.
Cứu văn kinh tế theo kiểu nói trên, có lẽ nhà chính trị
nào của Mỹ cũng làm được. Nhưng có hai vấn đề quan trọng:
Vấn đề thứ nhất là Quốc Hội có dám chấp nhận ngân khoản
do ông Obama xin trong khi ngân sách ngày càng thâm hụt
nghiêm trọng không? Vấn đề thứ hai là ông Obama có thế
chế ngự được những “thói tham lam và vô trách
nhiệm của một số người” không?
Chúng tôi nhớ lại, trong cuộc bầu cử Tổng Thống Mỹ năm
2000, ngày 28.10.2000 chương tŕnh Agenda của Mỹ đă mở
cuộc
phỏng vấn b́nh luận gia và nhà văn Gore Vidal. Ông ta
nói:
“Ồ, chúng ta nắm
chắc hệ thống chính trị của nước Mỹ trong 50 năm gần đây.
Chúng ta có bầu cử nhưng không có quan điểm chính trị.
Chúng ta có một đảng chính trị - đảng công ty Mỹ quốc,
một đảng về tài sản - và đảng đó có hai nhánh. Một nhánh
được gọi là Dân Chủ, một nhánh được gọi là Cộng Ḥa...”
Nói cách khác, theo quan điểm của
Gore Vidal th́ nước Mỹ này do những nhà tài phiệt đứng
đàng sau điều khiển, nên ai lên làm Tổng Thống cũng thế
thôi. Tất cả mọi kế hoạch hay chương tŕnh được đưa ra,
trên h́nh thức được coi là chính sách quốc gia, nhưng
trong thực tế chủ yếu là phục vụ quyền lợi của giới đại
tư bản đă tài trợ cho ứng cử viên ra tranh cử. Thẩm Phán
Tối Cao Pháp Viện Liên Bang Felix Frankfurter đă nói:
“Những người thật sự
cai trị ở Washington là vô h́nh, và thực thi quyền hành
từ sau hậu trường.”
Chúng ta đă biết nhóm tài phiệt nào đứng sau ông Bush,
nhưng chúng ta chưa nhận ra được nhóm tài phiệt nào đứng
sau ông Obama. Họ đều là những kẻ “tham lam vô
trách nhiệm” như nhau. Không hiểu ông Obama có
khuyến cáo được họ chấp nhận “diet” một thời gian cho
đến khi thời kỳ khó khăn của nền kinh tế qua đi hay
không.
Dầu sao kinh nghiệm lịch sử cho thấy mỗi khi đất nước
này gặp nguy biến, các nhà tài phiệt và các nhà chính
trị có quan điểm và quyền lợi khác nhau, thường ngồi lại
với nhau để t́m giải pháp cứu vản. Họ không những chỉ
cứu văn nuớc Mỹ mà c̣n cứu văn tập thể của họ nữa. Đây
là một ưu điểm được mọi người ghi nhận.
Chúng ta tin rằng với tài nguyên
gần như vô giới hạn của ḿnh, nước Mỹ sẽ vượt qua được
cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay, đúng như bà Waltraud
Schelkle, giáo sư chính trị học của Đại học Kinh tế
London đă tin tưởng:
“Giải quyết vụ khủng hoảng này là một việc vượt khỏi khả
năng của bất kỳ người nào hay quốc gia nào, nhưng Châu
Âu vẫn trông mong rất nhiều ở Hoa Kỳ.”
Lữ Giang
Ghi chú:
Nếu t́m không thấy bài, cứ vào motgoctroi.com,
mục "Mỗi tuần một chuyện" sẽ thấy trong đó.