|
♠
www.motgoctroi.com
mến chào bạn
Điệp viên giỏi nhất?
Lữ Giang
Trong hai ngày 20 và 21.10.2008 vừa qua, “Trung Tâm và Cơ
Quan Lưu Trử Lịch Sử Việt Nam”
(History of the Vietnam
Center and Archive)
thuộc Texas Tech University, Lubbock,
TX, đă mở một cuộc hội thảo về chủ đề “T́nh báo trong
chiến tranh Việt Nam”. Có bảy buổi thuyết tŕnh với
bảy đề tài lớn như: CIA ở Việt Nam, Chương tŕnh Phượng
Hoàng, Công nghệ và T́nh báo, Cuộc chiến bí mật ở Lào, Hoạt
động t́nh báo Nga và Việt Nam. Nhiều chuyên viên về t́nh báo
đang hay đă từng làm trong ngành t́nh báo của Mỹ và Nga đến
nói chuyện về kinh nghiệm của họ trong cuộc chiến. Đặc biệt,
ông Merle Pribbenow, một cựu nhân viên CIA đă nói về
“Những điệp viên vô danh nổi tiếng nhất trong cuộc chiến
Việt Nam”.
TRẬN CHIẾN TRUYỀN THÔNG
Sau khi chiến tranh Việt Nam chấm dứt, Hà Nội đă cho sáng
chế nhiều tập chuyện hay phim t́nh báo giả như Ván Bài Lật
Ngữa, Ông Cố Vấn, Những điệp vụ của kư giả Phạm Xuân Ẩn,
Thiếu tướng t́nh báo Phạm Xuân Ẩn, những điều chưa biết,
v.v. phịa ra những chuyện hoang đường về hoạt động t́nh báo
của Hà Nội trong chính quyền VNCH, để che đậy những thất bại
nặng nề mà cơ quan t́nh báo của họ phải gánh chịu, như đến
90% cán bộ cộng sản nằm vùng được cài lại sau hiệp định
Genève đă bị phá vỡ, hai trùm t́nh báo của miền Bắc được gởi
vào Nam chỉ huy ngành t́nh báo đă bị bắt, đó là Đại Tá Lê
Câu, chỉ huy quân báo, và Nguyễn Quốc Hương
(thường
gọi là Muời Hương),
chỉ huy về điệp báo, v.v.
Khi những phim và tài liệu này được Hà Nội cho phổ biến,
chúng tôi tưởng rằng chỉ có dân miền Bắc hay giới b́nh dân ở
miền Nam mới tin, c̣n những người biết rơ t́nh h́nh miền Nam
lúc đó chẳng ai tin. Tuy nhiên, sau đó chúng tôi rất buồn
khi thấy không phải chỉ giới b́nh dân ở miền Nam mà ngay cả
một số viên chức cao cấp hay trí thức của miền Nam cũng tin!
Một vài người viết b́nh luận hay lịch sử cũng đă trích dẫn
những tài liệu giả nói trên như là bằng chứng lịch sử và chỉ
trích t́nh báo VNCH quá yếu kém! Chúng tôi đă nói nhiều lần,
một tên cán bộ t́nh báo hạ cấp như Vũ Ngọc Nhạ, thư kư đánh
máy công nhật B3 ở Sở Cầu Đường, chưa bao giờ được gặp bất
cử thủ tướng hay tổng thống nào của VNCH, thế nhưng có người
đă tin Vũ Ngọc Nhạ đă từng làm cố vấn cho ba đời tổng thống:
Ngô Đ́nh Diệm, Nguyễn Văn Thiệu và Dương Văn Minh!
Chúng tôi càng thất vọng hơn khi đọc cuốn “Perfect Spy”
(Người điệp viên hoàn hảo) của
Giáo Sư Larry Berman thuộc đại học UC Davis viết về Phạm
Xuân Ẩn. Ông Vũ Ánh đă ca tụng Larry Berman như là một nhân
vật biết “phối kiểm và phỏng vấn đối tượng trên 100 giờ,
tránh tối đa việc để cảm tính vào bài viết”. Nhưng khi đọc
cuốn sách này, chúng tôi thấy Larry Berman đă ghi nhận toàn
những lời chứng láo phét của cán bộ Việt Cộng về những
chuyện mà chúng ta biết chắc không thể có hay xẩy ra ở miền
Nam Việt Nam.
Dĩ nhiên, Hà Nội nói rất ít hay không nói đến các điệp viên
có nhiều công trạng của họ, chẳng hạn như:
Đại Tá Đinh Văn
Đệ, Chủ Tịch Ủy Ban Quốc Pḥng Hạ Viện VNCH, một tay chân
thân tín của Tổng Thống Thiệu; Lê Hữu Thúy được Đỗ Mậu nuôi
dưỡng ở Cục An Ninh Quân Đội, đă bị Đoàn Công Tác Đặc Biệt
bắt và dùng vào việc khai thác các cán bộ cộng sản nằm vùng
bị bắt. Nhưng sau cuộc đảo chánh ngày 1.11.1063, Đỗ Mậu bao
che cho Lê Hũu Thúy hoạt động trở lại. Nay Thúy đang làm Cục
Phó Cục T́nh Báo Hải Ngoại của Hà Nội và đă đưa Đỗ Mậu về
Việt Nam tuyên truyền cho chế độ và chống lại Giáo Hội Ấn
Quang, v.v.
Nh́n chung, tuy dùng nhiều phim ảnh và sách báo để ca tụng
Vũ Ngọc Nhạ và Phạm Xuân Ẩn như là những “siêu điệp viên” và
cho thăng tới cấp tướng, những trong thực tề Hà Nội không
tin dùng hai tên này, luôn đặt trong t́nh trạng quản chế gắt
gao và để cho sống lây lất. Nói cách khác, Hà Nội chỉ dùng
Vũ Ngọc Nhạ và Phạm Xuân Ẩn như như con bài để tuyên tuyền
mà thôi và về phương diện này, Hà Nội thành công lớn!
Trung Tâm và Cơ Quan Lưu Trử Lịch Sử Việt Nam ở Lubbock, TX,
đă được thành lập từ năm 1989 để những chứng nhân của cuộc
chiến, dù thuộc bên này hay bên kia, có thể đến tŕnh bày
các sự kiện lịch sử mà họ đă chứng kiến hoặc t́m thấy, nhưng
cả những nhân vật của VNCH lẫn Hà Nội đă không thành công
khi nói chuyện tại đây, bởi v́ họ chưa bỏ được thói quen
thay v́ tŕnh bày những sự kiện mà họ được biết một cách
khách quan, họ thường chỉ đưa ra những sự kiên mà họ muốn
dùng để biện minh hay kết án đối phương, trong đó những lời
biện minh hay kết án này có khi chiếm đến 3/4 bài thuyết
tŕnh, nên các bài thuyết tŕnh của họ không c̣n giá trị ǵ
cả.
Lần này, người thuyết tŕnh không phải là một viên chức Việt
Nam mà là một cựu nhân viên CIA của Mỹ. Dĩ nhiên, CIA nắm
toàn bộ hệ thống t́nh báo của họ ỏ Việt Nam, nhưng luật pháp
và nghề nghiệp không cho phép một cơ quan t́nh báo như CIA
tiết lộ tài liệu hay tŕnh bày trước công luận bất cứ hoạt
động nào của họ, kể cả trả lời “Yes” hay “No”. Nhưng CIA có
thể cho phép nhân viên của ḿnh, nhất là những người đă về
hưu hay rời cơ quan, được phép tiết lộ một số sự kiện nào đó
mà họ thấy không phương hại đến an ninh quốc gia, không ảnh
hưởng đến hoạt động nghề nghiệp và không gây tranh luận. V́
thế, chúng ta hăy nghe đài BBC giới thiệu về Merle Pribbenow
và tóm lược những câu chuyện được ông kể lại.
ĐIỆP VIÊN BA MINH
Merle Pribbenow là cựu nhân viên CIA và chuyên gia tiếng
Việt, từng phục vụ ở Sài G̣n từ 1970 đến 1975. Sau khi rời
khỏi CIA năm 1995, ông dành thời gian để dịch các sách lịch
sử của Việt Nam và viết về cuộc chiến.
Trong bài thuyết tŕnh ở hội thảo nói trên, Pribbenow mô tả
ba nhân vật hoạt động cho ba cơ quan t́nh báo khác nhau:
CIA, Pḥng T́nh Báo Chiến Lược của Trung Ương Cục Miền Nam,
và T́nh báo Quân đội Liên Xô.
Trong cuốn “Decent Interval” nói về sự sụp đổ của Sài G̣n,
cựu phân tích gia của CIA, Frank Snepp, khi nói về cuộc tổng
tấn công miền Nam năm 1975, đă dành sự công nhận đáng kể cho
một người vô danh mà ông gọi là “điệp viên trong hàng ngũ
thân cận của Tổng thống Thiệu.”
Nhiều tác giả nói nội dung cuộc họp tháng 12-1974 giữa Tổng
thống Nguyễn Văn Thiệu và các tướng lĩnh đă bị tiết lộ
Theo Snepp, người điệp viên cộng sản này đă gửi cho Bộ Chính
Trị Bắc Việt nội dung cuộc họp tháng 12-1974 giữa Tổng thống
Nguyễn Văn Thiệu và các tướng lănh để đưa ra chiến lược của
miền Nam trước viễn cảnh quân đội Bắc Việt tấn công vào năm
sau, 1975.
Sự mô tả của Snepp dựa vào một đoạn trong hồi kư “Đại
thắng Mùa Xuân” của Đại tướng Văn Tiến Dũng. Tướng Dũng
nói nội dung cuộc họp này đă được t́nh báo Bắc Việt lấy được.
Merle Pribbenow nhận xét cho đến ngày hôm nay, ngoài đoạn
văn của tướng Văn Tiến Dũng, Hà Nội chỉ đưa ra thêm một tiết
lộ khác liên quan bản phúc tŕnh t́nh báo này. Tiết lộ đó
nằm trong hồi kư “Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn
thắng: Hồi ức”, của Đại tướng Vơ Nguyên Giáp, ấn hành
năm 2000. Trong hồi kư, tướng Giáp nói vào sáng ngày
12.12.1974, t́nh báo quân đội cho ông biết về những mệnh
lệnh của Tổng thống Thiệu tại cuộc họp.
Cả hai nguồn chính thức của Hà Nội đều không cho biết ai là
người cung cấp thông tin. Vậy nhà t́nh báo ấy là ai?
Kể từ khi kết thúc chiến tranh, Đảng Cộng Sản đă công bố
thông tin về nhiều điệp viên hoạt động bên trong chính quyền
Việt Nam Cộng Ḥa. Trong số các điệp viên nổi tiếng này,
liệu có ai là người chuyển cho miền Bắc nội dung cuộc họp kể
trên?
Mạng lưới Vũ Ngọc Nhạ - Huỳnh Văn Trọng bị phá vỡ năm 1969.
Một điệp viên cao cấp khác nằm trong ngành t́nh báo miền
Nam, Đặng Trần Đức, th́ đă trốn vào vùng căn cứ cách mạng
sáu tháng trước ngày có cuộc họp tháng 12-1974. Nhà t́nh báo
Phạm Xuân Ẩn, và Đinh Văn Đệ, khi đó là Chủ Tịch Ủy Ban Quốc
Pḥng Quốc Hội VNCH, cũng là các ứng viên. Tuy nhiên, cả hai
không có khả năng tiếp cận nội dung cuộc họp này, trừ phi
một nhân viên VNCH đă tuồn ra cho họ.
Theo giả thuyết của tác giả Merle Pribbenow, người điệp viên
có nhiều khả năng nhất trong trường hợp này không phải là
một sĩ quan miền Nam cao cấp, cũng không làm việc tại Phủ
Tổng thống, cũng không nằm trong nhóm tùy tùng thân cận của
ông Thiệu.
Tên người này là Nguyễn Văn Minh (tức Ba
Minh). Sinh năm 1933 ở Sài G̣n
trong một gia đ́nh gốc Bắc, ông Minh làm hạ sĩ quan phụ
trách tài liệu mật trong văn pḥng của Đại Tướng Cao Văn
Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng.
Mặc dù nhân viên cấp thấp này không thể được dự cuộc họp
trong Phủ Tổng thống năm 1974, nhưng biên bản và mệnh lệnh
được đưa ra trong cuộc họp có thể đi qua tay người thư kư
này. Bài báo trên tờ Quân đội Nhân dân năm 2005 không nhắc
đến cuộc họp tháng 12-1974, nhưng cho biết ông Ba Minh
thường xuyên chuyển đi các loại thông tin tương tự, như kế
hoạch của các quân khu miền Nam, nội dung trao đổi giữa
tướng Cao Văn Viên với các viên chức Mỹ.
Bốn năm sau khi gia nhập quân đội VNCH, năm 1963 ông Minh
được đưa vào làm tại văn pḥng của tướng Nguyễn Hữu Có, và
vài năm sau, ông chuyển lên văn pḥng của Tổng Tham Mưu
Trưởng Cao Văn Viên.
Năm 1973, sau Hiệp định Ḥa b́nh Paris, Pḥng T́nh Báo Chiến
Lược của Trung Ương Cục Miền Nam t́m kiếm các nguồn t́nh báo
mới. Có vẻ như liên lạc giữa họ và Ba Minh đă mất nhiều năm,
và chỉ đến lúc đó, liên hệ mới được nối lại. Theo tài liệu
của Việt Nam, sau khi được liên hệ, ông Minh nhanh chóng trở
thành người báo tin thường xuyên và có giá trị.
Ông thức đêm để chép tay các bức điện, kế hoạch (v́
lư do an ninh, ông không chịu sử dụng máy ảnh để chụp tài
liệu) Từ đầu năm 1974 đến khi kết
thúc cuộc chiến, Ba Minh đă chuyển cho phía cộng sản một
khối lượng lớn các báo cáo quân sự.
Ngày 30.4.1975, khi xe tăng Bắc Việt tiến vào trụ sở Tổng
Tham Mưu Trưởng, Ba Minh đă chờ họ tại đó. Ông trao ch́a
khóa pḥng tướng Viên và trao lại các hồ sơ mật.
Sau này, ông Nguyễn Văn Minh được phong làm “Đại Tá Anh
Hùng T́nh Báo”, như một sự tưởng thưởng cho công trạng
của ông vào những năm cuối của cuộc chiến.
ĐIỆP VIÊN VƠ VĂN BA
Orrin DeForest, một nhân viên CIA phục vụ sáu năm ở Việt
Nam, nhắc đến con người này với mật danh “Reaper” trong cuốn
sách “Slow Burn: The Rise and Bitter Fall of American
Intelligence in Vietnam.” Một chuyên viên khác của CIA,
John Sullivan, nói ông ta là
“điệp viên giỏi nhất mà
chúng ta từng có ở Việt Nam.” C̣n trong cuốn tiểu sử về
sếp CIA ở Sài G̣n Ted Shackley, tác giả David Corn dẫn ra
một sự đánh giá thời hậu chiến của CIA rằng điệp viên này là
“nguồn tin đáng tin cậy nhất về ư định của cộng sản”
ở Việt Nam.
Frank Snepp, một nhà phân tích t́nh báo có đôi lần gặp con
người này, gọi ông ta là “điệp viên hàng đầu của chúng ta”
ở Việt Nam. Văn pḥng của CIA ở Sài G̣n th́ đơn giản gọi ông
này là
“nguồn tin Tây Ninh.” Sau 1975, những người
cộng sản mô tả nhân vật này là “điệp viên nguy hiểm trung
thành với CIA”
và nói CIA xem ông ta là “điệp viên có
giá nhất tại Đông Dương” của CIA.
Tên của người này là Vơ Văn Ba. Theo các ghi chép của phía
cộng sản, nhân vật này sinh năm 1923, là một đảng viên cộng
sản phụ trách tuyển mộ đảng viên mới ở khu vực Ṭa Thánh Cao
Đài và thành phố Tây Ninh.
Có những ghi nhận khác nhau về cách làm thế nào và nhờ ai mà
điệp viên này được tuyển mộ cho CIA. Orrin DeForest nói chú
của ông Ba, ban đầu theo Việt Minh nhưng sau trở thành sĩ
quan phục vụ trong ngành An Ninh Quân Đội của miền Nam, đă
thu dụng người cháu. David Corn và John Sullivan viết rằng
chú của Ba, người mà họ chỉ nói là một sĩ quan miền Nam, đă
tuyển Ba làm chỉ điểm cho cảnh sát quốc gia Việt Nam Cộng
Ḥa.
Trước khi CIA vào cuộc, có vẻ Ba làm việc một thời gian cho
quân đội Mỹ. Theo John Sullivan, một người trong CIA nói Ba
từng làm cho t́nh báo cho quân đội Mỹ.
Không lâu sau khi đến tỉnh Tây Ninh năm 1969, sĩ quan CIA
đầu tiên phụ trách Ba đă nhanh chóng chuyển điệp vụ mà lâu
nay tiến hành khá nghiệp dư trở thành một hoạt động t́nh báo
chuyên nghiệp, đặt dưới sự kiểm soát trực tiếp của CIA.
Từ nay ông Ba được yêu cầu báo cáo về những mục tiêu chiến
lược, các kế hoạch hành động mang tính chất toàn quốc, chứ
không c̣n là những mục tiêu chiến thuật cấp thấp. Ông Ba ở
trong vị trí lợi thế để lấy được những thông tin chiến lược
v́ trong suốt giai đoạn này, trụ sở chính của Trung Ương Cục
Miền Nam đặt rất gần chỗ ông, có lúc bên trong tỉnh Tây Ninh,
có lúc ở tỉnh B́nh Long kế cận. Các báo cáo của người này
được chuyển qua các kênh thông tin của CIA, và chỉ một số ít
người biết về sự tồn tại của Ba.
Để bảo đảm bí mật, chỉ một sĩ quan Cảnh Sát Đặc Biệt miền
Nam và một nhân viên người Việt ở văn pḥng CIA ở Tây Ninh
được phép gặp mặt Ba ở Tây Ninh. Chỉ thỉnh thoảng Ba mới gặp
nhân viên CIA người Mỹ và cũng chỉ gặp ở địa điểm mật tại
Sài G̣n.
Thông tin mà ông Ba cung cấp thường xuyên được sử dụng trong
các đánh giá của t́nh báo Mỹ về kế hoạch của phe cộng sản.
Ngoài ra, mặc dù Ba chuyên môn theo dơi các khía cạnh chính
trị chứ không phải quân sự, nhưng thỉnh thoảng ông cũng báo
trước các cuộc tấn công ở khu vực Tây Ninh.
Tuy nhiên, vẫn có những câu hỏi về sự trung thành của ông Ba
đối với CIA. Mấy lần kiểm tra ông bằng máy thử nói dối đều
có kết quả không làm CIA hài ḷng. Năm 1971, hai năm sau khi
CIA tuyển mộ Ba, họ phát hiện rằng Ba vẫn ngầm liên lạc và
báo cáo cho t́nh báo quân đội Việt Nam Cộng Ḥa. CIA ngay
lập tức liên lạc và yêu cầu quân đội Miền Nam ngừng mọi giao
thiệp với Ba. Một số sĩ quan CIA cũng đặt câu hỏi làm sao Ba
lại không bị Việt Cộng phát hiện mặc dù các điệp viên cộng
sản đă xâm nhập vào toàn bộ các tổ chức t́nh báo của miền
Nam, những nơi biết về sự tồn tại của con người này. Nhưng
rốt cuộc, sự chính xác trong các báo cáo của Ba làm tan biến
mọi hồ nghi, và giới t́nh báo miền Nam và Mỹ xem Ba là tài
sản quư giá của họ.
Những người cộng sản cũng ngày một nhận ra là họ có kẻ phản
bội trong hàng ngũ. Những thiệt hại ở khu vực Tây Ninh năm
1969, những dấu hiệu là đối phương biết trước ư định tấn
công, khiến những người cộng sản nghi ngờ trong nội bộ của
họ có điệp viên. Một nữ cán bộ được cử điều tra tại Tây Ninh,
nơi Ba có nhiệm vụ tuyển mộ và tổ chức chi bộ đảng. Nhưng nữ
điều tra viên này lại bị an ninh miền Nam bắt được khi bà đi
vào địa giới do Việt Nam Cộng Ḥa kiểm soát, và bà bị giam
cho đến hết cuộc chiến. Không có tư liệu cho biết liệu có
phải ông Ba đă báo cho an ninh miền Nam bắt người này hay
không.
Cuộc truy t́m nội gián trở nên gấp rút tới mức, theo một
loạt các bài báo đăng trên báo chí Việt Nam năm 2004, một
trong những điệp viên cao cấp của cộng sản trong chính quyền
miền Nam, Nguyễn Văn Tá
(tức Ba Quốc),
được giao nhiệm vụ săn lùng nội gián vào năm 1972.
Ông Ba Quốc đoán rằng hồ sơ mà ông muốn có thể nằm trong một
tủ khóa ở Nha Điệp Báo
(ban K)
thuộc Phủ Đặc Uy Trung Ương T́nh Báo. Ông vào được nơi này
và định mở khóa, nhưng lại có người vào bất th́nh ĺnh,
khiến ông đành bỏ dở. Hai năm sau, các hoạt động của chính
ông Ba Quốc bị phát hiện và ông phải trốn vào căn cứ cách
mạng ở đồng bằng sông Cửu Long.
Hồ sơ mật về ông Vơ Văn Ba được an toàn cho đến ngày Sài G̣n
sụp đổ hôm 29.4.1975. Khi quân đội cộng sản chiếm văn pḥng
Phủ Đặc Uûy Trung Ương T́nh Báo ở Sài G̣n, Viễn Chi, Cục
Trưởng Cục T́nh Báo của Bộ Công An Bắc Việt, được nói là đă
t́m thấy hồ sơ về Ba trong ngăn khóa của Nguyễn Khắc B́nh,
Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia.
Cho đến khi cuộc chiến gần kết thúc, ông Ba tiếp tục có
những báo cáo giá trị cho CIA. Thế nhưng đến tháng một năm
1975, khi Bộ Chính Trị Đảng Cộng Sản Bắc Việt ra Nghị Quyết
tổng tấn công để “dứt điểm” Miền Nam Việt Nam, Vơ Văn Ba đă
không báo động trước cho CIA về Nghị Quyết nầy. Đây không
phải lỗi của Ba mà là do Cộng Sản nghi là có người phản bội
trong hàng ngũ của họ, thành ra giới lănh đạo Trung Ương Cục
Miền Nam đă quyết định không phổ biến Nghị Quyết mới cho cấp
dưới.
Vào giữa tháng tư 1975, ông Ba cho CIA một loạt báo cáo cuối
cùng mô tả chung chung kế hoạch tấn công Sài G̣n của Bắc
Việt. Những báo cáo này được xem trọng đến mức chúng được
đưa vào bản phúc tŕnh năm 1976 của đại sứ Mỹ Martin trước
một ủy ban của Quốc Hội Mỹ về việc sơ tán khỏi Sài G̣n.
Nhưng vào lúc Ba chuyển những báo cáo này th́ số phận của
miền Nam đă được định đoạt. Thực tế, số phận của chính ông
Ba cũng được định đoạt, mặc dù lúc này ông chưa biết.
Điệp viên Vơ Văn Ba bị bắt đúng ngày 30-4-1975. Khi Sài G̣n
sắp sụp đổ, CIA đề nghị đưa Ba và gia đ́nh sang Mỹ. Nhưng
ông này lại từ chối, nói là muốn ở Việt Nam thay v́ khởi
nghiệp từ đầu ở xứ người trong lúc tuổi đă cao. CIA hứa họ
sẽ làm mọi cách để ngăn không cho hồ sơ về ông Ba rơi vào
tay đối phương. Tuy vậy, lúc đó quân đội cộng sản đă bắt
được và tra hỏi một người mà có lẽ biết hoạt động của ông Ba
rơ hơn ai hết.
Theo các ghi chép hậu chiến của Việt Nam, ông
Nguyễn Văn
Phong
(hay Nguyễn Sĩ Phong)
là một người di cư miền Bắc 33 tuổi làm việc cho văn pḥng
CIA ở Tây Ninh. Ông Phong là người liên lạc của Ba với CIA
kể từ 1969, ngay sau khi CIA tuyển mộ Ba. Sau nhiều năm làm
việc trực tiếp với Ba, sau này ông Phong rời khỏi Tây Ninh
và làm ở văn pḥng CIA ở Ban Mê Thuột.
Ngày 10.3.1975, lực lượng cộng sản nhanh chóng chiếm được
Ban Mê Thuột. Ông Phong và gia đ́nh chạy đến nhà của Paul
Struharik, đại diện của USAID và là nhân viên người Mỹ duy
nhất c̣n ở lại trong tỉnh. Nhưng ngôi nhà lập tức bị bao vây
và mọi người trong đó bị bắt.
Ông Phong thú nhận ông đă làm việc cho CIA và khai ra tên
của Vơ Văn Ba. Ngày 29.4.1975, quân cộng sản chiếm thành phố
Tây Ninh và bắt được Phan Tất Ngưu, sĩ quan miền Nam phụ
trách trường hợp ông Ba. Bản thân ông Ba bị bắt ngày 30
tháng 4.
Phía Việt Nam nói ông Ba tự sát ngày 8.6.1975 trong lúc đang
bị giam trong trại của Bộ Công an. Sự thật về cái chết của
Vơ Văn Ba – có phải đó là tự sát hay là một điều ǵ khác –
có lẽ sẽ không bao giờ được biết.
C̣n có thêm một đoạn kết khác cho câu chuyện về điệp viên
Tây Ninh. Vào năm 1980, trong cao trào thuyền nhân, Paul
Struharik, đại diện của USAID ở Buôn Mê Thuột và là người có
nhà bị bao vây hồi tháng Ba 1975, nhận được lá thư gửi về
địa chỉ nhà ông ở Mỹ. Lá thư được gửi từ Malaysia, và người
viết là Nguyễn Văn Phong.
Phong nói ông đă trốn được khỏi trại giam Bắc Việt bằng cách
nhảy khỏi xe trong lúc chuyển tù. Ông nói sau khi trốn thoát,
ông t́m thấy vợ con và cả nhà sắp ra đi trên con thuyền với
những người tị nạn vừa đến được bờ biển Malaysia. Theo Phong
viết th́ v́ thuyền của ông vẫn c̣n đi biển được, phía
Malaysia muốn đẩy họ đi tiếp, nhưng Phong nói ông thuyết
phục được người ta gửi lá thư này về Mỹ. Phong nhờ Struharik
giúp đỡ.
Câu chuyện của ông Phong nghe khó tin v́ làm sao một người
tù quan trọng như ông có thể trốn thoát, lại mang theo được
cả vợ con. Tuy vậy người Mỹ biết rằng trong đời này cũng
thỉnh thoảng gặp trường hợp phép lạ, thành ra họ vẫn gửi tin
nhắn yêu cầu nhân viên chức trách để ư khi thuyền của ông
Phong đến được trại tị nạn.
Khoảng hơn một tuần sau, một người Việt Nam lênh đênh trên
biển Đông được một chiếc tàu đi ngang cứu được. Người này
nói ông ta có mặt trên con thuyền của ông Phong. Ông nói con
thuyền đó đă ch́m trên đường tới Indonesia, và mọi người
trên thuyền, kể cả ông Phong và gia đ́nh, đă chết.
BÀI HỌC CẦN RÚT
Trên đây chỉ là lời tường thuật lại của một cựu nhân viên
CIA. Có thể ông ta chỉ nắm được một số gốc cạnh của vấn đề,
nên sự tường thuật của ông c̣n nhiều nghi vấn. Nếu Vơ Văn Ba
được coi là điệp viên giỏi nhất của CIA ở Việt Nam, chúng ta
thấy VNCH cũng có nhiều điệp viên xuất sắc hơn nhiều. Cứ đọc
các tập tài liệu nói về hoạt động cùa cơ quan t́nh báo tại
miền Nam của Hà Nội như “Bội phản hay chân chính”
(bản thảo 1, bản thảo 2 và bản thảo 3)
của Dư Văn Chất hay “Đoàn Mật Vụ của Ngô Đ́nh Cẩn”
của Văn Phan, trong đó các cán bộ cộng sản hoạt động tại
miền Nam đă bị Đoàn Công Tác Đặc Biệt của chề độ Ngô Đ́nh
Diệm bắt và khai thác, đă nói lên những sự khâm phục của họ
đối với hoạt động của Đoàn này, chúng ta mới thấy được khả
năng t́nh báo miền Nam cao như thế nào. Nhóm này đă viết như
sau về Đoàn Công Tác Đặc Biệt:
“Đây là một ngành an ninh đích thực, nhưng là một “siêu
tổ chức” với nhiều đặc thù mà không có bộ máy nào của Ngụy
so sánh được. Nó tập trung quyền lực cao độ: cực quyền, với
các phương thức hoạt động hết sức tinh vi, hiểm độc và táo
bạo. Trong cái nhà tù không song sắt, Công an Mật vụ
cùng với kháng chiến Việt Cộng ăn chung, ngủ chung, chơi
chung và công tác chung. Chuyện khó tin mà có thật...”
Đây là một khía cạnh cần được khai thác khi nói về “T́nh
báo trong chiến tranh Việt Nam”.
Ngoài ra, cách thức kể chuyện của Merle Pribbenow một lần
nữa dạy cho các “b́nh luận gia” và “sử gia” Việt Nam rằng
điều quan trọng cần được tŕnh bày là các sự kiện chứ không
phải là những lời giải thích, biện minh, lên án hay tố cáo.
Phải bỏ lại những thứ đó bên ngoài, chúng ta mới có thể đi
vào đấu tại “Trung Tâm và Cơ Quan Lưu Trử Lịch Sử Việt Nam”
ở Lubbock, TX, được.
Lữ Giang
|
Ghi chú:
Muốn t́m các bài của chúng tôi, xin
vào website motgoctroi.com, mục “Mỗi tuần một chuyện.”
Có người hỏi tại sao đọc bài trên Internet hơi khác trên báo.
Chúng tôi xin thưa rằng bài trước khi đưa lên Internet đă
được điều chỉnh và bổ túc thêm nên hơi khác.
|
|