www.motgoctroi.com mến chào bạn   

 

Chuyện ta và Đồng Minh

Tú Gàn

 

    Sau khi bài “Trở lại chuyện ông Thiệu” của chúng tôi được phổ biến, nhiều người cho biết nhờ bài đó họ hiểu được chính xác hơn tại sao miền Nam Việt Nam đă bị mất một cách nhanh chóng như vậy. Nhưng một số người khác, tuy không đưa ra được bằng chứng nào để phản bác những sự kiện chúng tôi đă đưa ra, nhưng lại đặt câu hỏi: “Tú Gàn viết bài đó có mục đích ǵ?” Đó là cách phản ứng rất thông thường của những người không đồng ư hay không thích những sự thật lịch sử trái với ư họ, nhưng lại không thể hay không có khả năng phản bác.

 

Trong bài nói trên, chúng tôi đă nói rằng những sự kiện chúng tôi đưa ra sẽ làm cho một số người buồn ḷng, nhưng trước sau ǵ rồi cũng phải trả lại sự thật cho lịch sử.

 

Nếu quư vị đọc bản tin về “Tuần Bách Nhật Cố TT Nguyễn Văn Thiệu” được tổ chức vào sáng Chúa Nhật 6.1.2002 tại San Jose, quư vị sẽ thấy từ lời phát biểu của ông Nguyễn Hữu Hăn và ông Vơ Duy Thưởng trong ban tổ chức đến bài điếu văn của Hội Đền Hùng Hải Ngoại đều đưa Tướng Nguyễn Văn Thiệu lên mây xanh với hai câu thơ kết luận:

“Ngài mất đi quốc dân vẫn luôn nhớ,

“Công của Ngài với Tổ quốc Việt Nam”

 

Cho đến nay, những bí mật về cuộc chiến Việt Nam đă được công bố gần hết, nên chúng ta không c̣n có thể che giấu sự thật hay bảo vệ những suy nghĩ sai lầm cũ được nữa, Giả thiết có người v́ t́nh cảm riêng tư, đang cố gắng làm việc đó th́ họ cũng chỉ có thể làm trong khoảng từ 5 đến 10 năm nữa là cùng, sau đó ai sẽ tiếp tục làm cái công việc “lấy thúng úp voi” này cho họ?

 

Thành thật mà nói, khi một đất nước mà những nhân vật chóp bu, từ Tổng Thống, Thủ Tướng đến Phụ Tá An Ninh Phủ Tổng Thống, đều là điệp viên của CIA, số phận của đất nước không nằm trong tay người Việt mà nằm ở Washington. Đó là chuyện đương nhiên.

 

Mục tiêu thứ hai của chúng tôi khi công bố những sự thật lịch sử là để nói với người Việt chống Cộng rằng nếu chúng ta tiếp tục đi theo đường lối của Tướng Nguyễn Văn Thiệu, tức suy nghĩ và hành động theo cảm tính và coi ước muốn của ḿnh là hiện thực, không cần biết Đồng Minh và địch đang làm ǵ, chúng ta không bao giờ có thể quang phục quê hương được.

 

Mục tiêu thứ ba mà chúng tôi muốn nói với người Việt chống Cộng là phải rất thận trọng khi làm “Đồng Minh” của Hoa Kỳ. Chúng ta đă có quá nhiều kinh nghiệm xương máu về chuyện này. Đừng nghĩ rằng Hoa Kỳ bao giờ cũng là Anh Hai Chống Cộng, Anh Hai Dân Chủ, Anh Hai Nhân Quyền... Kinh nghiệm cho thấy Hoa Kỳ luôn coi quyền lợi của đất nước họ trên hết, những thứ khác đều là công cụ, có thể xử dụng hay loại bỏ tùy theo sự diễn biến của t́nh h́nh. Do đó, khi theo Anh Hai, lúc nào cũng phải chuẩn bị để t́m ra một lối thoát mỗi khi Anh Hai trở cờ.

 

V́ những mục tiêu trên, chúng tôi xin nhắc lại một số tương quan giữa ta và Đồng Minh Hoa Kỳ trong cuộc chiến tranh Việt Nam để giúp người Việt chống cộng rút thêm kinh nghiệm.

 

CHUYỆN TÍNH TOÁN CỦA ANH HAI

Gần như người Việt nào cũng biết lời sau đây của cổ nhân: “Tri bỉ tri kỷ, bách chiến bách thắng”. Nhưng đa số các nhà lănh đạo của người Việt chống cộng gần như không bao giờ thực hành theo phương châm đó. Trong khi đó, Đồng Minh của người Việt chống cộng lại luôn bám sát phương châm này.

 

Khi đến giai đoạn phải rút ra khỏi miền Nam Việt Nam, lúc đầu Hoa Kỳ quyết định làm suy yếu lực lượng của Cộng quân để bắt buộc Hà Nội phải chấp nhận một giải pháp chính trị, đồng thời “Việt Nam hóa chiến tranh” để giúp VNCH có thể tồn tại được.

 

1.- Biết tương kế tựu kế

Các tài liệu cho thấy cả chính phủ VNCH lẫn Hoa Kỳ đă nhận được khá nhiều tin tức về Việt Cộng sẽ tấn công vào dịp Tết Mậu Thân. Trước Tết, cơ quan an ninh của VNCH đă bắt được một tổ quan trọng của Việt Cộng ở Lái Thiêu. Khai thác tổ này, cơ quan an ninh của VNCH biết được Việt Cộng sẽ tấn công Sài G̣n vào dịp Tết Mật Thân. bộ chỉ huy của Cộng quân sẽ được đặt trên lầu của tiệm phở B́nh ở đường Pasteur, Quận I, Sài G̣n. Cơ quan an ninh đă bố trí và theo dơi rất chặt chẽ, nhờ vậy đă bắt được trọn ổ bộ chỉ huy này ngay sau khi cuộc tấn công của Việt Cộng mới xảy ra vài hôm. Tôi đă phỏng vần (có thu băng) một nhân viên an ninh phụ trách việc theo dơi và bắt vụ này. Những tin tức t́nh báo như thế đều đă được thông báo cho pḥng an ninh của Phủ Tổng Thống biết, nhưng Tổng Thống Thiệu chẳng quan tâm ǵ đến những tin đó nên không có một chỉ thị cần thiết nào. Ngày mồng một Tết, ông c̣n xuống quê vợ ở Mỹ Tho để ăn Tết, không hề biết chuyện ǵ có thể xẩy ra.

 

Trong khi đó, cơ quan t́nh báo Hoa Kỳ cũng đă thu thập đầy đủ các tin tức về Việt Cộng sẽ tấn công một số thành phố của VNCH vào Tết Mậu Thân, trọng điểm mà Hà Nội nhắm tới, nên đă tương kế tựu kế, chuẩn bị một kế hoạch phản công để làm tiêu hao các lực lượng của địch và thúc đẩy Hà Nội tiến tới một giải pháp chính trị.

 

Cơ quan t́nh báo Hoa Kỳ biết rất rơ Hà Nội đang chuẩn bị mở cuộc tấn công lớn để chiếm thành phố Huế, nên lập kế hoạch để tiêu diệt toàn bộ. Trước Tết khoảng hai tuần, bộ chỉ huy của quân đội Hoa Kỳ đă ra lệnh cho Sư Đoàn 1 Không Kỵ của họ di chuyển từ An Khê, B́nh Định, ra Vùng I Chiến Thuật, được nói là để tiếp viện cho mặt trận Khe Sanh, nhưng khi ra tới Huế, sư đoàn này được lệnh dừng lại và đóng ở phía đông nam thành phố Huế. Sư Đoàn Dù của VNCH cũng được yêu cầu tăng viện cho Vùng I một Chiến Đoàn. Trước Tết, Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn Dù đă gởi ra Vùng I Tiểu Đoàn 2 và Tiểu Đoàn 9. Đến mồng 2 Tết gởi thêm Tiểu Đoàn 7.

 

Nếu bảo rằng đưa quân ra Vùng I để tiếp viện cho Khe Sanh th́ phải đưa ra đóng tại Đồng Hà, phía bắc Quảng Trị mới có thể tiếp viện được, v́ Khe Sanh nằm ở phía tây Đồng Hà, chỉ cách Đồng Hà 65 cây số. C̣n nếu đóng ở Huế, cách Khe Sanh đến 137 cây số, th́ khi có biến cố nào xẩy ra ở Khe Sanh, làm sao có thể tiếp ứng kịp? Nhưng lúc đó chẳng ai, kể cả Việt Cộng, đă đặt câu hỏi về hiện tượng bất thường này.

 

Như chúng tôi đă tŕnh bày, chính Hà Nội đă ra lệnh cho Bộ Tư Lệnh Quân Khu Trị Thiên phải chiếm và giữ Huế bằng mọi giá để làm căn cứ tuyến đầu của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Hà Nội đă tăng cường cho Quân Khu Trị Thiên trước sau đến 7 trung đoàn. Do đó, số quân được dùng để tấn công Huế  lên đến 7.500.

 

Việt Cộng bắt đầu mở cuộc tấn công Huế lúc 2 giờ 35 sáng 31.1.1968, tức sáng mồng 2 Tết. Số Cộng quân được đưa vào chiếm đóng trong nội thành Huế lên đến khoảng 4.000. Số c̣n lại, chiếm giữ một số khu ở ngoại thành. Bộ Tư Lệnh Quân Khu Trị Thiên không bao giờ tiên liệu sẽ phái đối phó với Sư Đoàn 1 Không Kỵ của Hoa Kỳ.

 

Trong 10 ngày đầu, Sư Đoàn 1 Không Kỵ của Hoa Kỳ đă án binh bất động. Đợi đến khi Việt Cộng thiết lập xong các cơ sở quân sự và hành chánh với ư định chiếm giữ Huế lâu dài, lúc 16 giờ ngày 10.2.1968, Sư Đoàn 1 Không Kỵ Hoa Kỳ mới bắt đầu mở cuộc hành quân tảo thanh Việt Cộng, khởi đầu từ phía hữu ngạn sông Hương.

 

Kể từ ngày 14.2.1968, Không Lực Hoa Kỳ bắt đầu dội bon xuống đầu Cộng quân đang đóng trong nội thành Huế. Trước tiên, Hoa Kỳ đă dùng loại bom Napal, hỏa tiển 6,8 cm và bom hơi cay để buộc Cộng quân phải ra khỏi các công sự chiến đấu. Sau đó, Không Lực Hoa Kỳ đă dùng phi cơ thả các loại bom 250, 500 và 750 cân Anh xuống đầu Cộng quân đang chạy tán loạn, đồng thời phá vỡ nhiều khúc tường thành dày khoản 2 thước để Quân Lực VNCH tiến quân vào. Tiếp theo là những quả đại pháo 175 ly được dùng để ngăn chận đường rút quân của Cộng quân.

 

Với vài nét đại cương trên, chúng ta thấy trong vụ Tết Mậu Thân, quân đội Hoa Kỳ đă tiên liệu chính xác những ǵ sẽ xẩy ra và có biện pháp hữu hiệu để làm tiêu hao lực lượng của Cộng quân. Trong khi đó, Tổng Thống Thiệu gần như chẳng hay biết ǵ cả! Nếu không có sự tiên liệu và kế hoạch của Quân Đội Hoa Kỳ, c̣n lâu mới chiếm lại được Huế.

 

2.- Tiếp tục làm tiêu hao lực lượng địch

Sau trận Mậu Thân, tháng 5 năm 1970, Hoa Kỳ quyết định mở các cuộc hành quân qua Cam-bốt để phá hủy các hậu cần của Cộng quân. V́ theo luật lệ của Hoa Kỳ, quân đội Mỹ không được hành quân trên đất Cam-bốt và Lào, nên Mỹ chỉ yểm trợ cho Quân Lực VNCH thực hiện. Tướng Đỗ Cao Trí, Tư Lệnh Quân Đoàn III được chỉ định làm tư lệnh cuộc hành quân này.

 

Theo các kế hoạch hành quân được Mỹ và Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực VNCH phối hợp thành lập, quân đội VNCH đă tiến vào các vùng Mỏ Vẹt, Svay Riêng, đồn điền Chup, đồn điền Mimot, vùng Lưởi Câu... mà không gặp một sự kháng cự lớn nào. Đặc biệt, quân đội VNCH đă khám phá ra một hậu cần rất lớn của Sư Đoàn 7 của Việt Cộng dài khoảng 3 cây số và rộng khoảng 2 cây số, nằm cách thị trần Snoul khoảng 10 cây số về phía nam và cách biên giới Việt – Miên khoảng 5 cây số. Nơi đây Cộng quân có đến 182 công sự chiến đấu, 18 nhà ăn, nhiều sân bắn, các trại chăn nuôi và nhiều hầm chứa đựng thực phẩm, thưốc men, quân dụng... Quân đội VNCH đă tịch thu được 1282 vũ khí cá nhân, 202 vũ khí cộng đồng, 26 tấn chất nổ, 1.500.000 viên đạn, 300 xe cộ các loại, v.v.

 

Cuộc hành quân này đă thành công tốt đẹp, nhưng cũng đă xẩy ra một chuyện đáng buồn. Khi Trung Đoàn 8 thuộc Sư Đoàn 5 do Tướng Nguyễn Văn Hiếu làm tư lệnh, được lệnh rời khỏi Snoul v́ bị Cộng quân bao vây. Trung đoàn này đă từ chối rút bằng trực thăng, v́ cho rằng họ không thể bảo vệ cho trực thăng đáp xuống an toàn được. Họ xin rút bằng đường bộ. Tướng Hiếu đồng ư. Nhưng khi rút, trung đoàn này đă đem theo một đàn ḅ, nên khi bị Cộng quân truy đuổi, v́ phải bảo vệ đàn ḅ, trung đoàn không thể rút nhanh được, nên bị tổn thất nặng. Khi về tới Lộc Ninh trung đoàn đă bị mất khoảng 1/3 quân số.

 

Vụ này gây nhiều tai tiếng cho Quân Lực VNCH. Tướng Hiếu phải ra điều trần trước Quốc Hội. Sau đó, Tướng “sạch” Nguyễn Văn Hiếu bị mất chức Tư Lệnh Sư Đoàn 5. Ngày 9.6.1971 ông được đưa đi làm Tư Lệnh Phó Quân Đoàn I, một chức vụ được mô tả là chỉ “ngồi chơi xơi nước”.

 

3.- Khi Tướng Thiệu bất thần nhảy vào

Điều Hoa Kỳ quan tâm hơn cả là làm sao tiêu diệt được lực lượng chính quy của Hà Nội, đó là các sư đoàn 304, 308, 320, 324 và 325. Trong 5 sư đoàn này, Sư Đoàn 308 là thiện chiến nhất, có thể so sánh với Sư Đoàn Dù của VNCH. Tiếp đến là Sư Đoàn 304 có thể so sánh với Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến. Các sư đoàn này thường lảng vảng trong vùng Hạ Lào, dọc theo quốc lộ 9, vùng Hướng Hóa của tỉnh Quảng Trị và vùng A Sao, A Lưới của tỉnh Thừa Thiên, v.v. Nếu không loại trừ được lực lượng chính quy này, miền Nam không thể bảo vệ an ninh lănh thổ được. V́ thế, Hoa Kỳ t́m cách để gài các sư đoàn này vào thế giao tranh với lực lượng của VNCH rồi dùng B52 tiêu điệt.

 

Kế hoạch hành quân được Tướng Abrams của Hoa Kỳ phối hợp với Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực VNCH lập ra lấy tên là cuộc Hành Quân Lam Sơn 719 và được chính Tổng Thống Nixon phê chuẩn.

 

Mục tiêu đầu tiên là tiến chiếm mật khu 604 của Cộng quân nằm gần thành phố Tchépone của Lào. Cộng quân đă dùng mật khu này để tập trung vũ khí, lương thực, thuốc men, quân dụng... đưa từ Bắc vào, rồi từ đó chuyển lên cao nguyên Boloven của Lào và đưa qua vùng Tam Biên để chuyển xuống chiến khu D.

 

Mục tiêu thứ hai là mật khu 611 nằm gần sát đèo Lao Bảo ở biên giới Việt Lào. Đây là nơi tập trung các tiếp liệu từ Bắc đưa vào rồi chuyển qua vùng Hướng Hóa ở Quảng Trị và miền Trung.

 

Hai mật khu này đă bị B52 dội bom tan nát nhiều lần, nhưng lần này Mỹ muốn đưa Sư Đoàn Dù tiến vào đó cho Cộng quân bao vây rồi dùng B52 tiêu diệt. Mục tiêu đầu tiên phải tiến tới là mật khu 604 gần thành phố Tchépone.

 

Lúc đầu, cuộc hành quân được dự trù khởi sự từ ngày 8.2.1971 và sẽ kéo dài trong 8 ngày. Theo tài liệu của Mỹ, đến ngày 11.2.1971 Tổng Thống Thiệu nhảy vào, chỉ thị cho Tướng Hoàng Xuân Lăm và các tư lệnh sư đoàn nên thận trọng tiến vào mật khu 604 gần Tchépone như kế hoạch hành quân đă định và khi tổn thất quá 3000 th́ nên dừng cuộc hành quân. V́ thế, cuộc hành quân bị dậm chân tại chỗ cho đến ngày 19.2.1971, một thời gian dài 8 ngày, thừa đủ cho các sư đoàn Bắc Việt tập trung đại pháo, xe tăng, hỏa tiển, súng pḥng không và lực lượng để đối đầu với Quân Lực VNCH và không lực Hoa Kỳ.

 

Đến ngày 24.2.1971, Tổng Thống Thiệu đă ra lệnh cho Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến thay thế Sư Đoàn Dù. Phía Mỹ phản đối v́ cho rằng Thủy Quân Lục Chiến chưa bào giờ hành quân cấp sư đoàn. Tướng Lăm liền vào Sài G̣n tŕnh một kế hoạch mới, thay v́ chiếm mật khu 604 của Việt Cộng, cho đổ quân vào chiếm thành phố Tchépone. Mỹ hỏi: Thành phố Tchépone là một thành phố bỏ trống, chiếm để làm ǵ? Nhưng Tướng Thiệu vẫn làm theo ư ḿnh và kế hoạch hành quân giữa Mỹ và VNCH coi như bị hủy bỏ.

 

Kết quả rất thê thảm khi được lệnh rút lui trên quốc lộ 9. Tài liệu của Mỹ, của VNCH và của Việt Cộng đă đưa ra những con số thiệt hại khác nhau. Con số thiệt hại do VNCH công bố như sau:

 

* VNCH:      - 1483 chết, 5420 bị thương, 691 mất tích, 75 chiến xa và 405 xe vận tải bị phá hủy,

                    - 198 vũ khí cộng đồng và 3000 vũ khí cá nhân bị mất.

 

* Hoa Kỳ:     - 176 chết, 1942 bị thương, 42 mất tích, 108 trực thăng và 7 phi cơ bị phá hủy.

 

* CSVN:      - 13.535 Cộng quân bị tử trận và 69 bị bắt làm tù binh.

                    - Sư Đoàn 308, một sư đoàn thiện chiến nhất của CSBV bị xóa sổ,

                    - Thượng Tá Nguyển Xuân Rực, Tư Lệnh Sư Đoàn 308 bị giết tại mặt trận.

 

Cuộc hành quân Lam Sơn 719 không đem lại những kết quả như đă tính toán lúc ban đầu, v́ Tổng Thống Thiệu bất thần nhảy vào giàng quyền chỉ huy mặt trận, mặc dầu ông rất yếu kém vế quân sự, không biết cả những nguyên tắc căn bản khi hành quân, Câu chuyện này rất dài và bi đát, chúng tôi sẽ trở lại trong một bài khác.

 

“VIỆT NAM HÓA” CHIẾN TRANH

Như chúng tôi đă nói ở trên, ngoài việc làm tiêu hao lực lượng của đối phương, Hoa Kỳ đă giúp cho quân đội VNCH mạnh lên để có thể đứng vững được. Chúng tôi xin trích ra dưới đây một số đoạn trong bài “ARVN: Reflections and reassessments after 30 years” (Quân Lực VNCH: Phản ảnh và đánh giá sau 30 năm) của sử gia Bill Laurie nói về sự tăng trưởng nhanh chóng của Quân Lực VNCH kể từ năm 1968:

“Quân Lực VNCH thay đổi một cách đáng kể cả về số lượng lẫn phẩm chất trong khoảng thời gian từ 1968 đến 1975. Sự thay đổi không hề được giới truyền thông lưu ư, và nh́n chung th́ đến nay vẫn không được công chúng Mỹ biết đến, vẫn không được nhận chân và mô tả đầy đủ trong nhiều cuốn sách tự coi là “sách sử”. Một phần nguyên nhân của sự kiện này là do bản chất và tầm mức của sự thay đổi không dễ được tiên đoán hay tiên kiến, dựa trên hiệu quả hoạt động và khả năng của Quân Lực VNCH trước năm 1968....

“Tôi đă tự chứng nghiệm điều này, khi đến Việt Nam cuối năm 1971, phục vụ 1 năm tại MACV, rồi sau đó trở lại thêm hai năm, từ 1973-1975, làm việc ở pḥng Tuỳ viên quân sự...

“Quả là có những vấn đề nghiêm trọng về tham nhũng. Đúng là có những tấm gương về lănh đạo bất xứng. Tuy nhiên, chẳng phải ai nói hay gợi ư ǵ với tôi, mà chính là ngay lần đầu tiên đến vói Sư đoàn 9 bô binh VNCH, tôi đă phát giác khả năng dày dạn và đầy chuyên nghiệp trong những hoạt động mà tôi chứng kiến ở một trung tâm hoả lực cấp sư đoàn. Cũng chẳng ai nói với tôi là Sư đoàn 7 bộ binh VNCH, cái đơn vị măi bị kết tội v́ khả năng chiến đấu kém cỏi ở Ấp Bắc nhiều năm trước, đă biến thái thành một đơn vị có hiệu năng chiến đấu cao dưới tài lănh đạo chỉ huy của tướng Nguyễn Khoa Nam, một con người thanh liêm không một t́ vết, song song với tài năng về chiến thuật, mà đến nay vẫn không hề được công chúng Hoa Kỳ biết tới, tuy đă được người Việt Nam tôn sùng đúng mức...

Nói vắn tắt, QLVNCH, một cách toàn diện, đă có khả năng cao hơn nhiều so với những ǵ tôi biết trước khi tôi qua Việt Nam, và càng cao hơn nhiều so với những ǵ được chuyển tới cho người dân Mỹ. ngày trước... và ngày nay cũng vậy...

“Năm 1968, trong bối cảnh cuộc tổng công kích 68 thất bại của Hà Nội, các nhà hoạch định chính sách của Hoa Kỳ thấy rơ là kế hoạch Việt Nam hoá phải được tăng tiến, nhưng nhiều người (Mỹ) lại lầm tưởng đó là ranh giới giữa hai thời kỳ, thời kỳ QLVNCH không chiến đấu, và bây giờ là lúc họ bắt đầu chiến đấu. Thái độ này đă bỏ quên dữ kiện là mức tử vong v́ chiến sự hằng tháng của QLVNCH đă vượt xa mức tổn thất trong toàn cuộc chiến của tất cả các lực lượng Đồng Minh cộng lại.

“Rốt cuộc th́ QLVNCH cũng được cung cấp vũ khí tối tân, thay thế những trang bị thời thế chiến thứ hai mà hầu hết quân lực này phải sử dụng (khoảng đầu năm 1968 chỉ có 5% quân đội VNCH được trang bị súng M16), nh́n chung th́ thua kém vũ khí của Việt cộng và bộ đội Bắc Việt. Đồng thời, quân số cũng tăng tiến, theo như bảng dưới đây tŕnh bày:

“Bảng ghi những con số gia tăng quân số của các lực lượng chính quy và địa phương quân, nghĩa quân, từ năm 1968 đến năm 1972, cho thấy quân số tổng cộng tăng 28%, từ 820 ngàn lên 1 trịêu 48 ngàn quân. Trong đó, không quân gia tăng tới 163%, hải quân 110%, lục quân gần 8%...

 

Sử gia Bill Laurie đă kể lại lời của Don Colin, một cố vấn Mỹ thường nguyền rủa Quân Lực VNCH, đă nói vế những sự thay đổi của Quân Lực này như sau:

Ba mươi tháng trước, con số những cấp chỉ huy giỏi ở quân khu IV chỉ đếm được trên một bàn tay. Ngay cả tư lệnh quân đoàn, một cấp chỉ huy tốt, trong sạch và tương đối có khả năng, cũng nhút nhát, thiếu óc sáng tạo và không đủ sức kích động thuộc cấp vào những hoạt động xông xáo và tích cực. Cấp tư lệnh sư đoàn th́ phần lớn thiếu khả năng, hầu hết các tỉnh trưởng cũng kém cỏi và tham nhũng. Các cấp chỉ huy thuộc quyền của họ th́ chẳng những noi gương xấu mà nhiều khi c̣n phạm khuyết điểm quá hơn cấp trên nữa. Nhưng nay th́ chuẩn mực chung về tài năng, sự trong sạch và tận tâm đă tăng lên tới mức mà trước kia tôi cho là không thể tưởng tượng được. Sự thay đổi đặc biệt này khiến tôi thêm lạc quan tin tưởng ở khả năng tối hậu của chính phủ trong việc kiểm soát được Việt Nam và thành lập một chính quyền ổn định.”

 

Sử gia Bill Laurie viết tiếp:

“Quân Lực VNCH tiếp tục hoạt động tốt đẹp sau khi hịêp định Paris gian lận được kư kết và bị vi phạm lập tức. Cuối tháng 11 năm 1973 một lực lượng đặc nhiệm VNCH đă đánh đuổi sư đoàn 1 Bắc Việt ra khỏi căn cứ Thất Sơn, gây tổn thất nặng tới nỗi sư đoàn 1 này của Bắc Việt phải giải thể, số quân sống sót phải gia nhập các đơn vị khác. Ít tháng sau sư đoàn 7 VNCH tung ra cuộc hành quân lớn để quét các đơn vị Bắc Việt khỏi mặt khu Tri Pháp ở vùng giáp ranh ba tỉnh Định Tường-Kiến tường-Kiến Phong, gây tổn thất nặng cho địch. Tri Pháp chưa bao giờ bị xâm phạm trong suôt cuộc chiến tranh, có đặc điểm là những vị trí pḥng thủ kiên cố; cuộc thất trận gây hổ thẹn tới mức nhà cầm quyền cộng sản cảnh cáo các cấp là phải dấu sự thất bại đừng để bộ đội của họ biết, sợ bộ đội xuống tinh thần. Các phái đoàn Ba Lan và Hungary trong cái Ủy ban liên hiệp quân sự bốn bên bất lực, chỉ là gián điệp cho cộng sản Hà Nội. Nhưng một trong những báo cáo của họ năm 1973 xác định là không có đơn vị Việt cộng nào ngang sức với QLVNCH, và cả những đơn vị thiện chiến nhất của Bắc Việt cũng không sánh được với các đơn vị Nhảy Dù và Thuỷ quân Lục chiến của VNCH...”

 

THẾ TH̀ TẠI SAO TA THUA?

Sau trận Lam Sơn 719, người Mỹ nhận thấy Quân Lực VNCH rất thiện chiến và anh dũng, nhưng các Tướng Lănh Việt Nam chỉ có khả năng điều khiển các cuộc hành quân từ cấp trung đoàn trở xuống, nên không thể tiếp tục điều khiển cuộc chiến chống lại Cộng quân sau khi Mỹ rút. Thế nào rồi miền Nam cũng mất. V́ thế, Tổng Thống Nixon đă phái Kissinger qua Trung Quốc “bàn giao” VNCH cho Mao Trạch Đông.

 

Người Việt chống cộng thường nhắc đi nhắc lại một câu nói của Tổng Thống Thiệu: "Đừng nghe những ǵ Công sản nói, mà hăy nh́n kỹ những ǵ cộng sản làm". Tuy dạy người khác như vậy, nhưng ông Thiệu không bao giờ chịu “nh́n kỹ những ǵ cộng sản làm” nên để mất miền Nam.

 

Sau khi kư Hiệp Định Paris, trong khi Hà Nội quyết định làm lại con đường 14, gọi là con đường Đông Trường Sơn, để đưa quân vào Phước Long và B́nh Long rồi đánh thẳng xuống Sài G̣n, bỏ qua các tỉnh miền Trung, Tổng Thống Thiệu lại hô hào “cải tổ hành chánh” để được ḷng dân và thắng Cộng Sản! Ông bắt các công chức cao cấp đi học và đưa Hoàng Đức Nhă, tự xưng là “đi guốc trong bụng Cộng Sản”, xuống giảng về luân lư giáo khoa thư lớp đồng ấu cho họ nghe!

 

Cơ quan DAO của Hoa Kỳ đă báo trước cho Tướng Thiệu và các Tư Lệnh Vùng biết: Việt Cộng sẽ phải chiếm Thường Đức (tây Đà Nẵng), Đức Lập (tây Ban Mê Thuộc) Phươc Long để khai thông con đường Đông Trường Sơn và đưa quân xuống miền Nam, nhưng các tên “trung sĩ mang quân phục Tướng Lănh” lại tưởng rằng những vị trí đó không có ǵ quan trọng và không tin lời khuyến cáo của Mỹ, nên đă để cho Việt Cộng thực hiện kế hoạch của họ. Tướng Thiệu lại suy nghĩ một cách thô thiển: Mỹ viện trợ đầy đủ th́ ta giữ toàn miền Nam. Mỹ giảm bớt viện trợ, ta thu nhỏ lănh thổ lại. Ông đưa ra kế hoạch “Đầu bé đít to” để “tái phối trí”. Là một điệp viên của CIA, ông coi miền Nam như là một lănh thổ của Mỹ và ông chỉ là người làm công!

 

Nếu người Việt chống cộng cứ lặp đi lặp lại lời của Tổng Thống Thiệu mà không nhận ra những ǵ Cộng Sản và Đồng Minh đang làm, cứ tiếp tục suy nghĩ và hành động theo cảm tính như Tướng Thiệu, kết quả ai cũng có thể thấy trước được.

 

Tú Gàn