|
♠ www.motgoctroi.com mến chào bạn
Chuyện nước non buồn đến ngàn năm Lữ Giang
Tác giả Bùi Anh Trinh vừa gởi đến Saigon Nhỏ bộ sách "Bối Cảnh Lịch Sử Chính Trị VN Cận & Hiện Đại và Chuyện Nước Non Buồn Đến Ngàn Năm". Bộ sách gồm 2 tập, Tập I dày 854 trang là phần khảo luận, và Tập II 511 trang là phần nhận định. Sách in khổ lớn, b́a cứng có jacket, rất đẹp. Vào thời buổi này mà c̣n có người chịu khó ngồi sưu tập và viết bộ sách như thế này là chuyện đáng khen.
Được biết tác giả Bùi Anh Trinh là người Đà Lạt, bố là một mục sư, ông là một Sĩ Quan QLVNCH, đến định cư tại Hoa Kỳ theo diện cựu từ nhân chính trị.
Với Tập I, tác giả đă duyệt lại toàn bộ các sư kiện lịch sử khởi từ năm 1842, khi quân Anh đánh Trung Hoa lần thứ nhất, rồi đến Việt Nam đi vào thế kỷ thứ 20 (1901 – 1920) với Việt Nam Quang Phục Hội, đảng của Phan Bội Châu; Tân Việt Cách Mạng Đảng, cái nôi của Cách mạng VN; cuộc khởi nghĩa của Đội Cấn và Lương Ngọc Quyến ở Thái Nguyên, Phục Việt Hội, Việt Nam Cách Mạng Đảng, Việt Nam Cách Mạng Đồng Chí Hội, Vụ án đường Babier, Việt Nam Quốc Dân Đảng của Nguyễn Thái Học với Nam Đồng thư xă, vụ ám sát tên mộ phu Bazin, cuộc khởi nghĩa Yên Bái. Tiếp theo là Việt Nam Quốc Dân Đảng tiếp nối của Nguyễn Thế Nghiệp và Vũ Hồng Khanh, Đại Việt Dân Chính Đảng, Đại Việt Phục Hưng, Đại Việt Quốc Gia Xă Hội Đảng, Đại Việt Duy Dân, Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội (Việt Cách) của Nguyễn Hải Thần, Đại Việt Quốc Gia Liên Minh,..
Về các đảng phái Cộng sản, tác giả đưa ra tài liệu về đảng Cộng sản Đông Dương của Trần Phú, An Nam Cộng sản Đảng của Hồ Tùng Mậu, Đông Dương Cộng sản Đảng của Ngô Gia Tự, cuộc họp thống nhất hai đảng Cộng sản Việt Nam và hoàn cảnh thành lập đảng Cộng sản Đông Dương...
Sau đó, tác giả tŕnh bày về Việt Nam trước Thế Chiến II, thời Thế Chiến II, Cách Mạng Mùa Thu của Việt Minh, Pháp trở lại Đông Dương, Hội Nghị Genève và Hiệp Định Genève, thiết lập chế độ cộng sản, v.v. Tuy nhiên, tác giả không viết sử theo phương pháp sử học, mà viết như các cụ kể chuyện đời xưa, nghe cũng thích thú. Tác giả kể một lèo và không cho biết các sự kiện tác giả nêu lên được lấy từ đâu ra, và coi các sự kiện đó là đúng, không có nghi vấn hay tranh luận ǵ cả. Đọc Tập I, chúng tôi thấy có nhiều câu chuyện rất lạ, nhưng v́ tác giả không ghi rơ xuất xứ, nên chúng tôi không thể tra cứu.
Chúng ta hăy nghe tác giả mô tả lại câu chuyện "Chiến Tranh Nha Phiến, quân Anh tấn công Trung Hoa":
"Năm 1836, sau khi chiếm Ấn Độ và Miến Điện làm thuộc địa, người Anh thuê thổ dân Ấn, Miến trồng thuốc phiện rồi chở vào Trung Hoa để đổi lấy hàng hóa. Năm 1836 số thuốc phiện bán cho Trung Hoa là 18 triệu Anh kim, chiếm 55% lượng hàng hóa trao đổi với Trung Hoa. Công sức lao động của nhân dân Trung Hoa tự nhiên biến thành thành mây, thành khói. Đến năm 1837 số lượng thuốc phiện bán vào Trung Hoa là 2 triệu 160 ngàn kư, trị giá 100 triệu Anh kim. Hầu như là người Anh chỉ đưa vào thuốc phiện để đổi lấy tất cả những sản phẩm quư hiếm của nhân dân Trung Hoa. Nếu mỗi năm người Trung Hoa hút hơn 2 triệu kư thuốc phiện th́ chẳng bao lâu toàn quốc sẽ không c̣n người lao động, mọi người sẽ nằm mẹp chờ chết v́ tác hại của thuốc phiện! Vua Trung Hoa là Đạo Quang thấy nguy bèn ra lệnh cấm buôn thuốc phiện và cấm toàn dân sử dụng thuốc phiện. Tuy nhiên các nhà buôn Anh vẫn cứ đưa thuốc Phiện vào bán cho dân chúng Trung Hoa. Ngày 23-3-1839 vua Trung Hoa ủy cho quan Tổng Đốc Lưỡng Quảng là Lâm Tắc Từ tịch thu 1 triệu 200 ngàn kư thuốc phiện của các con buôn người Anh rồi làm lễ thiêu hủy số thuốc phiện đó.
"Năm 1839, để phản ứng lại vụ tịch thu thuốc phiện, chính phủ nước Anh cử Hải Quân Đô Dốc Henry Pettingve dẫn 35 chiến thuyền và 2.000 binh lính tiến vào Quảng Châu, đánh phá các thành phố Triết Giang, Định Hải, Ninh Ba và uy hiếp hải cảng Đại Cô. Quân Trung Hoa chống cự mănh liệt nhưng không lại hỏa lực của các pháo hạm Anh. Sau 3 năm th́ quân Anh chiếm được Thượng Hải ngày 19-6-1842. Vua Trung Hoa kêu gọi thương thuyết để chấm dứt chiến tranh. Người Anh đ̣i vua Trung Hoa phải nhượng đất Hồng Kông cho nước Anh không điều kiện. Vua Trung Hoa không chịu, quân Anh lại tiến công uy hiếp Nam Kinh. Ngày 29-8-1842 vua Đạo Quang đành phải kư Ḥa Ước Nam Kinh cho phép các thương nhân Anh có quyền ra vào buôn bán mọi thứ trên lănh thổ Trung Hoa, nhượng lănh thổ Hồng Kông cho nước Anh trong thời gian 99 năm, bồi thường chiến phí cho nước Anh là 210 triệu Anh kim! (Để so sánh giá trị của 210 triệu bồi thường chiến phí, có thể đối chiếu với toàn bộ hàng hóa của nhân dân Trung Hoa bán cho người Anh trong năm 1836 là 33 triệu Anh kim).
"Chỉ với 35 chiến thuyền và 2.000 binh lính mà quân Anh đă tung hoành tại Trung Hoa suốt 3 năm và cuối cùng uy hiếp Nam Kinh tức là thủ đô thứ hai của Trung Hoa gần Bắc Kinh. Chiến thuyền Anh vào Trung Hoa như đi vào chỗ không người chứng tỏ hiệu lực của kỹ thuật chiến tranh tân tiến gọi là "Chiến Tranh Pháo Hạm". Các thuyền chiến Tây Phương có đại bác với tầm hoạt động xa hàng chục cây số và rất chính xác. Viên đạn khi rơi xuống mục tiêu lại nổ một lẫn nữa, văng miểng sát thương trong một phạm vi rộng hàng chục thước, đồng thời gây cháy do hóa chất lân tinh. Hóa chất này không thể dập tắt bằng nước như các chất liệu dẫn lửa khác. Các tàu chiến Trung Hoa không thể nào lại gần tàu thuyền của Anh v́ tàu Trung Hoa sẽ bị phá tan trước khi tầm đại bác trên tàu Trung Hoa có thể bắn tới. Người Trung Hoa cũng có súng đại bác với cỡ ṇng lớn mà họ thường gọi là súng Thần Công nhưng súng này chỉ là một ống đồng dày, khối thuốc súng dưới đáy ống đồng sẽ đẩy một hoặc hai viên bi bằng sắt văng ra xa khoảng 1 cây số. Ngoài ra viên đạn của súng Thần Công chỉ là một cục sắt, có tác dụng rơi xuống như một viên đá lớn, nếu bắn trúng tàu địch th́ chỉ xuyên qua phần bằng gỗ, c̣n đối với tàu bằng sắt th́ chỉ làm móp mà thôi. Viên đạn bắn trúng ai hoặc rơi trúng đầu ai th́ người đó chết chứ người đứng sát bên không sao cả.
"Công thức của Chiến Tranh Pháo Hạm là các tàu chiến Tây Phương tiến vào các hải cảng, bắn cháy tàu của quân địa phương, bắn cháy các ụ pḥng thủ trên bờ, đồng thời bắn vào nhà cửa dân chúng trong thành phố, gây cháy khắp nơi. Quân pḥng thủ trên các cửa thành hay các ụ pḥng thủ trở thành mục tiêu tàn phá của các tàu chiến Tây Phương cho nên lính pḥng thủ thường bỏ chạy trước khi đạn đại bác bắn trúng vào u, hoặc gan lắm th́ họ cũng phải bỏ chạy khi có viên đạn đầu tiên trúng vào vị trí pḥng thủ. Sau khi bỏ chạy th́ những người lính địa phương trở về nhà trong thành phố để ôm con chạy theo đoàn người thoát khỏi thành phố đang cháy. Trong t́nh cảnh đó quân lính Tây Phương thường vào chiếm thành phố đă trống không. Nếu gặp quân lính địa phương có súng trường cá nhân gọi là súng Hỏa Mai th́ lính Tây sẽ bắn chết người lính Trung Hoa trước khi anh ta nổ súng, v́ súng Hỏa Mai của anh lính địa phương phải chờ địch thủ tới thật gần mới bắn được v́ tầm bắn của súng rất ngắn, trong khi súng trường của người lính Tây Phương bắn rất chính xác từ xa.
"Năm 1844, thấy nước Anh đánh chiếm đất Trung Hoa quá dễ, Hoa Kỳ cũng đem hạm đội đến uy hiếp vua Trung Hoa phải kư ḥa ước ngày 3-7-1844. Sau đó Pháp bắt vua Trung Hoa kư Ḥa ước ngày 23-10-1844!
"Năm 1853, chính phủ Hoa Kỳ gửi một hạm đội do Thiếu tá Perry chỉ huy tiến vào cảng Ouraga của nước Nhật. Sau khi bắn vài phát súng đại bác để thị uy, Thiếu tá Perry bắt Nhật hoàng phải cho phép người Hoa Kỳ được tự do vào Nhật buôn bán. Vua Nhật đành phải mở hải cảng Simoda và Hakodadi cho Hoa Kỳ. Thấy vậy Anh và Ḥa Lan cũng nhảy vào đ̣i Nhật hoàng mở cảng Nagasaki và Hakodadi cho con buôn của họ được tự do buôn bán."
Tiếp theo, xin đọc giả đọc đoạn tác giả kể chuyện Pháp đánh Cẩn Giờ và so sánh giữa súng ta và súng Tây: "Năm 1859, ngày 9-2, tàu Pháp vào cửa Cần Giờ bắn phá và đổ bộ tấn công các đồn canh dọc sông Sài G̣n. Ngày 15-2 tiến đến bắn phá đồn Bến Thành. Ngày 18-2 tổng tấn công thành Gia Định, trong 6 tiếng đồng hồ hạ được thành. Quan Hộ đốc Vơ Duy Ninh treo cổ tự sát. Quân Pháp tịch thu 200 khẩu đại bác, 86 tấn thuốc súng và 20 ngàn giáo mác. Vua Tự Đức cử Nguyễn Tri Phương và Phạm Thế Hiển vào Gia Định lập đồn Kỳ Ḥa để chận bước tiến của quân Pháp.
"Thuở đó súng đại bác Thần Công của quân Việt Nam làm bằng đồng, chỉ là một ống đồng rỗng, dày. Đầu ống phía dưới được bịt kín cũng bằng đồng, ḷng ống đồng từ trên xuống dưới bằng nhau nhưng vỏ ống đồng ở phía dưới đáy dày hơn phía trên họng, do đó nếu nh́n bên ngoài th́ phía dưới đáy to, càng lên trên càng nhỏ lại. Muốn bắn, đổ thuốc súng vào ḷng súng, lấy nùi giẻ nhồi cho toàn bộ thuốc súng xuống đáy rồi thả một hoặc hai viên đạn bằng sắt tṛn như viên bi nằm lên trên khối thuốc súng, xong rồi lấy que lửa châm vào cái lỗ nhỏ ở đáy súng hoặc châm vào dây dẫn trên họng súng, khối thuốc súng nổ sẽ đẩy viên đạn văng ra theo hướng của ṇng; do đó tốc độ rất chậm, có thể thấy được viên đạn đang bay và khoảng cách bay đi không được xa, ai trúng phải viên đạn đang bay hoặc trúng phải viên đạn rớt xuống th́ chết, c̣n không trúng th́ thôi, không có miểng.
"Ngoài ra súng bắn không chính xác v́ súng được gắn trên hai bánh xe bằng gỗ, mỗi lần muốn bắn sang bên trái th́ dùng cây mà xeo bánh bên phải nhích lên phía trước một chút. Tuy nhiên bánh xe bên phải nhích lên một phân th́ họng súng day sang trái 7 phân, họng súng nhích đi 7 phân th́ viên đạn sẽ rớt cách chỗ trước đó vài trăm thước cho nên không cách chi điều chỉnh cho súng bắn chính xác được. Hơn nữa viên đạn sau khi thoát ra khỏi ṇng th́ có khuynh hướng đi xuống đất do tác động của trọng lực, cho nên đường đi của viên đạn không phải là một đường thẳng. Muốn cho viên đạn đi được xa, người ta phải nâng họng súng lên để viên đạn đi theo đường cầu ṿng, do vậy điểm rơi của viên đạn càng không chính xác.
"Trong khi đó súng đại bác của Pháp làm bằng ống thép dày, trong ḷng khoan nổi những đường khương tuyến h́nh xoắn ốc, viên đạn có gắn nguyên khối thuốc nổ đằng sau; khi viên đạn được lắp vào phía sau ṇng súng và khi khối thuốc nổ được kích hỏa th́ viên đạn chạy vặn theo h́nh xoắn ốc dọc theo ṇng trước khi thoát ra khỏi họng súng, áp suất của thuốc nổ tiếp tục duy tŕ tác động vào viên đạn trong khoảng thời gian viên đạn chạy từ cuối ṇng đến đầu ṇng tạo ra một gia tốc rất lớn, cho nên vận tốc viên đạn rất nhanh, mắt thường không thể trông thấy được và đạn đi rất xa, rất chính xác. Khi rơi xuống, viên đạn vỡ ra khiến cho khối lân tinh trong ḷng viên đạn gặp không khí phát nổ làm văng miểng đạn và gây cháy, mức độ tàn sát rất lớn. Ngoài ra súng được gắn trên tàu thủy hoặc là gắn trên hai bánh xe lớn do ngựa kéo, mỗi khi muốn day sang phải, sang trái hay ngẩng súng lên, chúc súng xuống đều được điều chỉnh bằng tay quay có răng cưa trong khi bánh xe vẫn cố định do hai càng chỏi ở phía sau, họng súng có thể di chuyển sang trái, sang phải hay lên xuống từng ly một cho nên điều chỉnh rất chính xác.
"V́ vậy trong suốt cuộc chiến Việt- Pháp lúc nào cũng thấy số đại bác của quân Việt nhiều gấp hằng chục lần số đại bác của quân Pháp nhưng không hiệu quả ǵ cả. Đặc biệt các ụ súng Thần Công đều được đặt trên những vị trí cao, thường là ngang với mặt thành để xạ thủ có thể quan sát được điểm rơi của viên đạn mà điều chỉnh cho trúng đích. Tuy nhiên nếu đặt súng trên một vị trí cao như vậy th́ không thể nào chúc súng xuống để bắn vào đoàn quân đă áp sát chân thành trong tầm vài trăm thước, cho nên khi quân địch đă đến gần thành th́ các súng đại bác Thần công trở thành vô hiệu. Trong khi đó ngược lại, nếu súng đại bác của quân tấn công đă đưa được tới gần thành th́ ṇng súng ghếch lên cao để bắn thẳng vào các ụ pḥng thủ trên mặt thành, viên đạn trong tầm đạn ăn lên gần như là một đường thẳng nên dễ dàng trúng mục tiêu hơn là viên đạn rơi xuống khi phải đi theo đường cầu vồng.
"C̣n súng trường cá nhân của quân Việt có tên là súng Hỏa Mai, mỗi khi bắn phải mở bị thuốc súng đeo bên hông rồi trút ước chừng một lượng thuốc súng vào ṇng, dùng que nhồi thuốc súng vào đáy ṇng, xong rồi bỏ viên bi bằng ch́ lên trên, rồi mới đưa lên vai mà ngắm vào mục tiêu; khi bóp c̣ th́ c̣ súng sẽ xoay một bật lửa có viên đá lửa; lửa bật ra sẽ đốt khối thuốc nổ và gây nổ khiến viên đạn văng đi. Kiểu súng này vừa mất th́ giờ, vừa không chính xác và ở trên cao th́ không thể nào chúc súng xuống mà bắn được v́ viên đạn ch́ sẽ chạy ra khỏi ṇng rớt ra ngoài trước khi súng nổ. Hơn nữa súng luôn luôn bị trục trặc v́ thuốc súng có thể bị ẩm, khi nổ khi không; bật lửa khi cháy, khi không v́ đá lửa gặp viên tốt, viên xấu..
"Trong khi đó súng trường của quân Pháp nạp đạn một viên rồi bóp c̣ th́ súng nổ, xong rồi ngay tức khắc nạp viên khác, viên đạn chạy xoáy theo ṇng trước khi thoát ra khỏi họng súng nên đi rất xa và rất chính xác. Ngoài ra v́ viên đạn luôn luôn xoáy và vận tốc cao cho nên đường đi của viên đạn gần như là một đường thẳng. Cứ tưởng tượng h́nh ảnh một người lính Việt nằm sau một bờ đất chờ anh lính Tây chạy vào trong tầm đạn của súng Hỏa Mai th́ sẽ bóp c̣; nhưng khi anh lính Tây chạy tới c̣n ngoài tầm bắn của anh lính Việt th́ anh ta dừng lại, đưa súng lên ngắm ngay đầu anh lính Việt và bóp c̣; nếu viên đạn trúng th́ người lính Việt ngă ra chết, c̣n chỉ bắn trượt th́ ngay tức khắc anh lính Việt sẽ xách súng chạy dài v́ không thể nằm yên đó để chờ các viên đạn kế tiếp. Do đó muốn theo dơi diễn biến của cuộc chiến th́ cần phải biết phân biệt hiệu năng tác dụng của từng loại vũ khí của hai bên; nếu không th́ sẽ dễ bị phân vân giữa con số vũ khí với kết quả của chiến trường."
Nhưng có lẻ phần tác giả thích nhất là phần ở Tập II, tác giả đă bàn rất thoải mái về các chuyện đă xẩy ra trên đất nước cũng như trong cộng đồng người Việt hải ngoại, chẳng hạn như: "Đối thoại với Bùi Tín", "Mây mù trong mắt ai", "Mây mù trong ḷng người", "Mây mù vạn nẻo", "Nhật kư Đặng Thùy Trâm", "Hiệp ước thương mại Việt – Mỹ diễn nghĩa" (rất dài, gồm 7 hồi), "Tổ quốc lăng nhăng"... và cuối cùng là "V́ sao tài liệu này được phổ phiến".
Chúng ta hăy nghe tác giả đưa ra những lời chứng để bác bỏ quan điểm của một số người Mỹ cho rằng người miền Nam không chịu chống cộng:
"Những lời giải thích từ phía Miền Nam Việt Nam và Hoa Kỳ thường không đủ sức thuyết phục các thanh niên Việt Nam lớn lên sau cuộc chiến, nhất là những thanh niên đang sống trong chế độ Cọng sản Việt Nam, họ muốn biết rơ động cơ nào đă khiến cho những thanh niên Việt Nam chống lại chủ nghĩa Cọng sản, và rồi nhân danh chống Cộng để giết người Việt Nam.
"Chủ nghĩa Cọng sản mà những người tuổi trẻ tại Hoa Kỳ đọc được trong các thư viện cho thấy không có ǵ là tàn ác. Và ngưới nông dân Việt Nam không có lư do ǵ để chống lại chủ trương "Cách mạng cải cách ruộng đất", một chủ trương nhằm đem lại quyền lợi thiết thực cho người nông dân, thoát khỏi áp bức của giai cấp địa chủ.
"Có rất nhiều bậc cha mẹ đă cố gắng giải thích cho con ḿnh nhưng đa số thường không phân tích cái khác nhau giữa lư thuyết của Marx, Angel và đường lối thực hiện của Lénin, Staline, Mao Trạch Đông... Nhưng có một người Cọng sản nổi danh đă nói giùm nhân dân Miền Nam Việt Nam. Hồi kư của Ủy viên Bộ Chính trị Mai Chí Thọ đă phân tích suy nghĩ của nhân dân Miền Nam trước cao trào Cách mạng cải cách ruộng đất tại Miên Bắc : "Tuy nhiên trong thời kỳ từ năm 1954 cho tới 1959, Đảng đă phạm sai lầm trong cải cách ruộng đất ở Miền Bắc và trong đấu tranh cách mạng ở Miền Nam. Sai lầm trong cải cách ruộng đất ở Miền Bắc sau đó đă ảnh hưởng xấu đến niềm tin của nhân dân Miền Nam đối với "Cách mạng". Lúc bấy giờ nhiều người rất lo ngại cho bà con thân thuộc ở Miền Bắc cũng như cảm thấy sợ hăi nếu phải sống dưới một chế độ có đường lối, chủ trương đấu tranh giai cấp ác liệt và khắc nghiệt như thế..." (Mai Chí Thọ, Theo bước chân lịch sử, tập 2, trang 55).
"Thời đó Mai Chí Thọ và Lê Duẫn đang hoạt động bí mật tại Miền Nam Việt Nam. Các ông biết rơ v́ sao nhân dân Miền Nam Việt Nam cầm súng chống lại cuộc xâm lăng của Bắc Việt. Rơ ràng cái cách thực hiện chiến dịch Cải cách ruộng đất tại Trung Quốc và tại Miền Bắc Việt Nam đă khiến cho người dân Miền Nam cảm thấy lo sợ trước sự tàn ác và dă man của những con người Cọng sản. Ông Mai Chí Thọ muốn nói tránh đi nên đă dùng chữ "ác liệt" nhưng thực sự chữ đó là "tàn ác". Và chữ "khắc nghiệt" thực sự là chữ "dă man".
"Nếu ngày nay các bậc cha mẹ có được đoạn hồi kư này của ông Mai Chí Thọ th́ chỉ cần đưa cho con cháu đọc đoạn này thay v́ phải trả lời. Chính một lănh tụ Cọng sản Việt Nam đă giải thích một cách chính xác về lư do v́ sao mà nhân dân Miền Nam Việt Nam phải cầm súng chống lại cuộc tấn công của Cọng sản Bắc Việt : "Họ "cảm thấy sợ hăi nếu phải sống dưới một chế độ tàn ác và dă man như thế". Ông Mai Chí Thọ là một nhà hoạt động chính trị thực sự cho nên ông giải thích được ngay quan điểm của người dân. Trong khi đó có một số các nhà chính trị "xa lông" ấm a ấm ớ cứ tưởng rằng "Các chiến sĩ Việt Nam Cọng Ḥa chiến đấu cho lư tưởng Tự Do". Và những bài diễn văn của các ông này khiến cho nhiều bà nội trợ Việt Nam cứ khuyên chồng con : Thôi! Ngày nay mục tiêu lư tưởng không c̣n nữa, người Mỹ họ c̣n thôi mà ḿnh cứ theo đuổi ư nghĩ chống Cộng làm ǵ?!
"Không trách các bà nội trợ v́ các bà không hề để tâm tới chính trị, nhưng cần phải lên án những kẻ mang danh là "chính trị gia" mà không biết v́ sao người ta chống Cộng. Nếu họ không biết th́ họ cũng chỉ ngang như các bà nội trợ, nhưng đàng này họ lại gán cho người khác một cái mà người ta không có, rồi đi hô hào thôi đừng chống lại Cọng sản nữa; thậm chí c̣n lên án những người từng xă thân chiến đấu là "gà nhà bôi mặt đá nhau". Xét lại lư lịch của những tay chính trị gia chập chờn này th́ thấy rằng trong thời gian tất cả thanh niên Việt Nam đứng lên đáp lời sông núi th́ họ t́m mọi cách lẫn tránh bổn phận của người làm trai, họ tự cho rằng chiến tranh là việc trái với lương tâm con người. Và khi chiến tranh đă qua rồi th́ họ to họng nguyền rủa chiến tranh cũng như to họng nguyền rủa những người tham dự chiến tranh. Họ tự đề cao nhân cách của ḿnh nhưng thực sự nhân cách của họ rất rẻ tiền."
Tác giả đă giải thích về những điều tác giả đă viết như sau:
"19 bài học lịch sử trên đây nhằm mục đích triệt tiêu những hỏa mù bao quanh lịch sử chứ không có ư định viết lại lịch sử cho rơ ràng. Việc viết lại cho rơ ràng dành cho những người nào có ư định viết lại một quyển sách lịch sử thật sự cho dân tộc Việt Nam. Chính v́ muốn triệt tiêu những hỏa mù cho nên các lời bàn và các chú thích đă được đưa ra ngay tại từng bài và từng đoạn ngơ hầu mạch suy luận được liên tục. Do đó những lời bàn không phải là những lời tham luận chính trị mà chỉ là đưa ra những khía cạnh tâm lư của những nhân vật chính trị trong từng giai đoạn khó hiểu của lịch sử. Đôi khi tâm lư của một người cũng trở thành đại diện cho tâm lư toàn thể quần chúng. Ngược lại, đôi khi tâm lư chung của quần chúng cũng được dùng để giải thích tâm lư của các nhân vật lănh đạo trước những quyết định có tính cách lịch sử.
"Ngoài ra các sự kiện lịch sử cũng như các lời bàn được cố t́nh diễn thuật bởi lối văn b́nh dân cũng như sử dụng những lối lư luận giản dị nhất, đôi khi có vẻ như thừa thải hay cố t́nh lập đi lập lại nhưng nhằm để giúp cho những người không thường hay đọc sách và không quen lư luận cũng có thể dễ dàng nắm bắt được vấn đề. Tất cả những lời bàn được đặt trên căn bản là dân tộc Việt Nam rất gắn bó và rất đoàn kết trước những nghiệt ngă của lịch sử, cho dù hoàn cảnh đưa đẩy đă tạo nên những pha trớ trêu đầy máu và nước mắt. Tuy nhiên nếu có công lội ngược ḍng nước mắt đó, người ta sẽ thấy rơ tinh thần thương yêu lẫn nhau và tinh thần bất khuất của dân tộc Việt Nam, cho dù đứng trước thảm họa Cọng sản là thảm họa tàn khốc nhất trong lịch sử nhân loại."
Cuối cùng, tác giả có mấy lời gởi đến giới trẻ Việt Nam như sau:
"Một khi đọc đến những ḍng chữ cuối cùng này th́ điều đó đă chứng tỏ rằng các bạn có ḷng nghĩ đến quê hương, dân tộc, có tấm ḷng muốn biết về sự thật. Có lẽ giờ đây các bạn có một hướng truy t́m và chứng minh sự thật một cách dễ dàng hơn. Mai này, sau khi kiểm chứng và xác nhận đâu là sự thật, các bạn có bổn phận phải công bố và truyền bá những khám phá của ḿnh. Và tự nhiên lúc đó các bạn sẽ biết ḿnh phải làm ǵ cho đất nước ḿnh đang sinh sống cũng như cho quê hương dân tộc Việt Nam. Một khi các bạn thấy được trước mắt những ǵ cần phải làm th́ xin các bạn hăy hành động. Đừng chờ đợi ǵ nơi những người của ngày xưa và thôi đừng t́m hiểu ǵ về họ nữa, cho dù họ đang múa nay quay cuồng trước mắt các bạn th́ các bạn phải hiểu rằng đó chỉ là những diễn viên của sân khấu chính trị hoặc là những con kên kên là h́nh ảnh tôi tạm dùng để chỉ những kẻ chuyên theo đuôi lợi dụng chính trị. Đừng có hoảng v́ những lời kêu hú của họ, đừng giật ḿnh v́ những động tác quay cuồng khó hiểu của ho ỳ.
"Các bạn hăy cùng nhau t́m hướng đi cho các bạn trên con đường phục vụ cho quê hương hay phục vụ cho cộng đồng. Chính trị là ở trong đầu các bạn, chính trị là các kế hoạch trong tương lai của mỗi người trong các bạn. Không phải là nbững lời kêu gọi trên đài phát thanh, không phải là các buổi biểu t́nh, cũng không phải là những bài tham luận nảy lửa. Hăy tránh những mây mù. Nếu bị lôi cuốn bởi những động tác và âm thanh của họ, bạn sẽ bị ch́m trong mây mù vạn nẻo."
Tóm lại, bộ sách "Bối Cảnh Lịch Sử Chính Trị VN Cận & Hiện Đại và Chuyện Nước Non Buồn Đến Ngàn Năm" đă được tác giả sưu tập tài liệu và viết rất công phu. Nó lại được viết theo khuynh hướng mà đa số các tác giả người Việt hải ngoại thường viết, đó là viết theo định hướng chống cộng. Hy vọng tác phẩm này sẽ được những người "đồng hội đồng thuyền" tiếp đón nồng nhiệt.
Lữ Giang
|