♠ www.motgoctroi.com mến chào bạnCần nh́n lại lịch sửLữ Giang
Như chúng ta đă biết, sau khi Giáo Chỉ số 9 ngày 8.9.2007 của cố Tăng Thống Huyền Quang thành lập Văn Pḥng II Viện Hóa Đạo mới ở hải ngoại và loại bỏ những thành phần bị coi là “muốn thỏa hiệp” với Cộng Sản, nhiều cuộc tranh luận gay cấn đă diễn ra trên các hệ thống truyền thông hơn một năm qua: Một phe bênh vực Giáo Chỉ số 9 và một phe chống lại với những lời lẽ có khi rất nặng nề. Ngoài những trận pháo và phản pháo chính thức giữa GHPGVNTN và nhóm ly khai mà báo chí đă đăng và chúng tôi cũng đă tóm lược, những trận “pháo tham gia” cũng không kém phần ác liệt. Sau đây là vài thí dụ điển h́nh: Sau khi cư sĩ Tịnh Hải đưa ra bài "Phong trào Phật thất", Bảo Quốc Kiếm đă viết bài “Lửa trong Phật thất! Lửa trong Phật thất!!!” xác định đường lối của GHPGVNTN là “Dân tộc, hoà b́nh, từ bi, cứu khổ" và tố cáo âm mưu của Cộng Sản trong việc phá hoại Phật Giáo. Nhưng có lẽ bài gay cấn nhất là bài “Xă hội chủ nghĩa âm mưu nhuộm đỏ GHPGVNTN để nhuộm đỏ toàn dân” của Hưng Long đăng trên Việt Báo, tố cáo: “Trạm Trung chuyển đặc t́nh” đan xen với “tổ kinh tài tôn giáo”, mô h́nh hoà tan GHPGVNTN hải ngoại”. Hưng Long đă kể ra 47 tăng sĩ và các cơ sở Phật Giáo ở hải ngoại hoạt động cho Việt Cộng, và gọi nhóm “Thân Hữu Già Lam” là “Thân hữu già Hồ” biến chất, đổi màu xă nghĩa. Để chống lại bài này, Hoàng Đông Tà đă viết bài “Ngụy quân tử Vơ Văn Ái: Hoàng Thượng ở truồng”, cho rằng “VP2/VHĐ chỉ là một thiểu số nhi nhô treo tàu hủ bán thịt chó”, v.v. Muốn hiểu rơ những ǵ đang xẩy ra đối với GHPGVNTN và giáo hội này rồi sẽ đi về đâu, cần nh́n lại lịch sử h́nh thành GHPGVNTN và những diễn biến tiếp theo.
MƯU T̀M THỐNG LĂNH PHẬT GIÁO
1.- Vấn đề thống nhất Phật Giáo Trước khi Hoa Kỳ lật đổ chế độ Ngô Đ́nh Diệm, Phật Giáo Việt Nam có rất nhiều tổ chức khác nhau đă hoạt động một cách hợp pháp. Mỗi tổ chức có một lối sinh hoạt riêng. Đạo Phật có đến 84.000 Pháp môn và lấy Tâm làm bản thể nên không tông phái nào có thể buộc tông phái khác phải theo Pháp môn, cách tổ chức và truyền thống của tông phái ḿnh. Một sự thống nhất chặt chẽ như Công Giáo, Cao Đài hay Phật Giáo Ḥa Hảo là một hiện tượng chưa hề thấy trong lịch sử Phật Giáo Việt Nam. Tây Tạng là nước duy nhất trên thế giới có một tổ chức Phật Giáo thống nhất, nhưng đó là một tổ chức Phật Giáo “quốc doanh” được chính quyền Trung Quốc “chính trị hoá”. Sau khi triều đại nhà Minh sụp đổ, nhà Thanh lên cầm quyền (1644–1911) có chủ trương dùng các nhà sư để cai trị Tây Tạng. Năm 1652, các vi lănh đạo tôn giáo Tây Tạng nỗi tiếng là Đạt Lai Lạt Ma thứ 5, Ban Thiền Lạt Ma (Panchen Lama) thứ 4 và Gushri Khan được triệu về Bắc Kinh. Năm 1653, trước khi lên đường trở về Tây Tạng, vị sư Lozang Gyatso, tức Đạt Lai Lạt Ma thứ 5, được nhà Thanh phong tước hiệu: “Đạt Lai Lạt Ma, Phật Đại Từ Bi ở Phương Tây, Lănh Tụ của Tín Ngưỡng Phật Giáo dưới Bầu Trời, Người Cầm Giữ Kim Cương”. Sau khi được phong tước, vị Đạt Lai Lạt Ma thứ 5 đă tuyên thệ trung thành với nhà Thanh và được nhận nhiều vàng bạc để trở về xây 13 tu viện cho phái Hoàng tông ở Tây Tạng. Tất cả những vị Đạt Lai Lạt Ma tái sinh (reincarnation) về sau đều phải được triều đ́nh Trung Hoa công nhận. Sự cam kết này đă trở thành một giao ước lịch sử. Nói rơ hơn, Phật Giáo Tây Tạng đă bị các chính quyền Trung Hoa biến thành công cụ chính trị của Trung Hoa. Ở Việt Nam, trong thời Pháp thuộc, Pháp đă khuyến khích phong trào chấn hưng Phật Giáo để “vô hiệu hoá” các phong trào đấu tranh. Lúc đó mạnh tông phái nào, tông phái đó lập hội. Nhóm hoạt động mạnh nhất là nhóm An Nam Phật Học ở Huế, v́ vừa được chính quyền thuộc địa khuyến khích, vừa được triều đ́nh nhà Nguyễn giúp đỡ. Ngày 6.5.1951, một Hội Nghị Phật Giáo toàn quốc đă được tổ chức tại chùa Từ Đàm, Huế, gồm 53 đại biểu của một số tông phái Tăng Già và cư sĩ, đă đi đến quyết định thành lập Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam với một Ban Trị Sự Lâm Thời quy gồm 6 tập đoàn, 3 xuất gia và 3 tại gia. Hội Nghị cũng phê chuẩn việc đề cử Thượng Tọa Thích Tố Liên đại diện kư tên xin gia nhập Hội Phật Giáo Thế Giới. Năm 1956, một Đại Hội Phật Giáo thứ hai được triệu tập tại Saigon để bầu Ban Trị Sự thực thụ, nhưng sinh hoạt của các tông phái vẫn c̣n mang tính chất riêng rẽ. Khi cuộc tranh đấu lật đổ chế độ Ngô Đ́nh Diệm được phát động, Phật Giáo cũng chưa có một tổ chức rộng lớn. Lúc đầu chỉ có mấy tông phái ở Huế và Trung Phần có trụ sở ở Huế đứng trong tổ chức tranh đấu. Về sau phải lập Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo mới kết hợp được 11 tông phái và hội đoàn lại.
2.- Thành lập một tổ chức thống nhất Sau khi chế độ Ngô Đ́nh Diệm bỉ lật đổ, v́ nhu cầu hoạt động chính trị, nhóm tăng sĩ Phật Giáo đấu tranh đă nỗ lực vận động các thành viên trong Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo họp thành một Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam thống nhất. Công việc này gặp khá nhiều khó khăn v́ đa số các tông phái đều muốn sinh hoạt riêng theo truyền thống của tông phái ḿnh, nhưng rồi cuối cùng, tất cả 11 Giáo Phái và Hội Đoàn trong Ủy Ban Liên Phái cũng đồng ư hợp lại thành một Giáo Hội, đó là các Giáo Phái và Hội Đoàn sau đây: - Giáo Hội Tăng Già Nguyên Thủy, - Giáo Hội Tăng Già Trung Phần, - Giáo Hội Thiền Tịnh Đạo Tràng, - Giáo Hội Tăng Già Nam Việt, - Giáo Hội Tăng Già Bắc Việt, - Giáo Hội Tăng Sĩ Theravada, - Hội Phật Giáo Nguyên Thủy, - Hội Phật Học Nam Việt, - Phái Đoàn Giáo Phái Theravada, - Hội Phật Giáo Việt Nam Trung Phần, - Hội Việt Nam Phật Giáo.
Một đại hội thống nhất Phập Giáo đă được tổ chức từ 30.12.1963 đến 4.1.1964 để biểu quyết bản Hiến Chương của Giáo Hội. Trong cuốn Bạch Thư công bố ngày 31.12.1993, Hoà Thượng Thích Tâm Châu đă tường thuật lại những diễn biến của cuộc đại hội này như sau: “Bổng nhiên vào buổi chiều của một hôm, Thượng Tọa Trí Quang, Thượng Tọa Thiện Minh mời tôi lên tư thất cụ Chánh Trí Mai Thọ Truyền. Tại đây, Quư Thượng Tọa yêu cầu tôi làm Trưởng Ban Tổ Chức, triệu tập Đại Hội 11 Giáo Phái, Hội Đoàn trong Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo hội họp để thành lập Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Thượng Tọa Trí Quang tŕnh bày sơ về tổ chức Giáo Hội Thống Nhất. Tôi trả lời quư Thượng Tọa rằng: “Quư Thượng Tọa cho tôi biết về việc tổ chức Đại Hội, tôi vui ḷng kư giấy triệu tập Đại Hội. Nhưng tôi không dám nhận ngôi vị lănh đạo đầu tiên của Giáo Hội mới, v́ tôi nhận thấy rằng, tuổi tôi c̣n ít, tài đức thiếu, nhất là hoàn cảnh di cư từ Bắc vào Nam, thiếu thốn đủ mặt, hậu thuẫn của Tăng, tín đồ không có, làm sao đảm nhận ngôi vị quan trọng ấy được. Chức vị đó xin các vị miền Trung, miền Nam nhận lănh”. Tôi rất mực từ chối và chỉ nhận việc tổ chức đại hội mà thô. “Trở về chùa Xá Lợi, triệu tập 11 Giáo Phái, Hội Đoàn về họp tại Chùa Xá Lợi từ 30.12.1963 đến ngày 4.1.1964. Bản Hiến Chương Giáo Hội Việt Nam Thống Nhất của Thượng Tọa Thích Trí Quang soạn thảo được chấp nhận, bản Hiến Chương của Thượng Tọa Đức Nhuận bị loại. Cụ Mai Thọ Truyền làm Chủ Tịch Ban Thảo Hiến. “Sau khi Đại Hội chấp nhận Bản Hiến Chương Giáo Hội mới, Đại Hội suy tôn Ḥa Thượng Thích Tịnh Khiết lên ngôi vị Tăng Thống với nhiệm kỳ 4 năm thuộc Giáo Phái Bắc Tông. Và 4 năm kế tiếp, ngôi vị Tăng Thống thuộc về Giáo Hội Nam Tông. Bầu cử Viện Hóa Đạo 12 người, trong đó Đại Hội bầu tôi đảm trách chức vụ Viện Trưởng với nhiệm kỳ 2 năm. Trước sau tôi nhất mực từ chối, mà chỉ mong về tĩnh tu, dịch kinh. Nhưng, cho đến ngày 13.1.1964, Ḥa Thượng Thích Tịnh Khiết tha thiết khuyên tôi đảm nhận chức vụ ấy, măi măi tôi mới vâng lời.”
Thượng Tọa Thích Thiện Dũng cho biết thêm một số rắc rối khi thành lập GHPGVNTN: Về tên của Giáo Hội, Thượng Tọa Thích Thiện Dũng cho biết lúc đầu đa số các Giáo Phái định lấy tên là Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, không có hai chữ “thống nhất” đàng sau. Riêng Thượng Tọa Thích Trí Quang nhất định đ̣i thêm hai chữ đó vào. Cuộc tranh luận này trở nên rất sôi nổi. Nhưng Thượng Tọa Thích Trí Quang đă thuyết phục được Ḥa Thượng Thích Giới Nghiêm, Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo Tăng Già Nguyên Thủy, nên Ḥa Thượng này tuyên bố nếu không thêm hai chữ “thống nhất” vào, Giáo Hội Phật Giáo Tăng Già Nguyên Thủy sẽ rút tên ra. Để tránh tan ră, Đại Hội đă phải miễn cưởng đồng ư thêm vào hai chữ đó. Việc Thượng Tọa Thích Tâm Châu không chịu nhận chức Viện Trưởng Viện Hóa Đạo cũng có nhiều lư do, nhưng lư do chính là có sự phản đối của nhóm Thượng Tọa Thích Trí Quang. Đa số các Giáo Phái và hội đoàn Phật Giáo không muốn bầu Thượng Tọa Thích Trí Quang làm Viện Trưởng v́ Thượng Tọa Thích Trí Quang thuộc thành phần quá kích và cực đoan, có thể dẫn Giáo Hội vào các cuộc phiêu lưu chính trị và gây chia rẽ trong Giáo Hội nên đă cố ép Thượng Tọa Thích Tâm Châu nhận chức. Trước t́nh trạng này, Thượng Tọa Thích Trí Quang đă nói thẳng rằng muốn được bầu làm Viện Trưởng phải là Thủ Lănh của một Giáo Phái. Ông đưa ra điều kiện đó để loại Thượng Tọa Thích Tâm Châu, v́ Thượng Tọa Thích Tâm Châu lúc đó không đứng đầu một Giáo Phái nào cả, c̣n ông đang là Hội Trưởng Hội Phật Học Trung Phần. Bất ngờ, hôm trước ngày bầu Viện Hóa Đạo, Ḥa Thượng Thích Thanh Cát đă triệu tập một buổi họp tại chùa Giác Minh, tuyên bố từ chức Chủ Tịch Giáo Hội Tăng Già Bắc Việt và suy tôn Thượng Tọa Thích Tâm Châu lên làm Chủ Tịch. Nhờ vậy, Thượng Tọa Thích Tâm Châu có đủ điều kiện để được bầu làm Viện Trưởng Viện Hóa Đạo ngày 13.1.1964. Giáo Hội Phật Giáo Tăng Già Bắc Việt tại miền Nam do Thượng Tọa Thích Tâm Châu thành lập năm 1954 và là Chủ Tịch đầu tiên của hội này. Từ năm 1956 Thượng Tọa làm Phó Chủ Tịch Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam. Sự sắp xếp của Hoà Thượng Thích Thanh Cát đă làm Thượng Tọa Thích Trí Quang thất vọng, nhưng để tạo ḥa khí, Đại Hội đă bầu Thượng Tọa Thích Trí Quang làm Chánh Thư Kư Viện Tăng Thống. Về sau, Ḥa Thượng Thích Giới Nghiêm, Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo Tăng Già Nguyên Thủy, cứ hỏi đi hỏi lại các Giáo Phái tại sao không bỏ thăm cho Thượng Tọa Thích Trí Quang mà bỏ thăm cho Thượng Tọa Thích Tâm Châu!
Đ̉I ĐỨNG TRƯỚC VÀ TRÊN LUẬT PHÁP Ngày 13.1.1964, Thượng Tọa Thích Tâm Châu, lấy tư cách là Chủ Tịch Ủy Ban Liên Phái Phật Giáo và Chủ Tọa Đại Hội Thống Nhất Phật Giáo, đă gởi đến Trung Tướng Dương Văn Minh, Chủ Tịch Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng, một văn thư mang số 0509-PT/CT có kèm theo bản Hiến Chương của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất và yêu cầu Chính Phủ công nhận Hiến Chương đó theo một “quy chế đặc biệt” dự liệu ban hành cho các tôn giáo tại Việt Nam. Nhận được văn thư này, Tướng Dương Văn Minh liền chuyển qua cho Bộ Nội Vụ lúc đó do Trung Tướng Tôn Thất Đính làm Tổng Trưởng. Các chuyên viên của Bộ Nội Vụ và Bộ Tư Pháp sau khi nghiên cứu đă cho biết phải đợi có quy chế tôn giáo mới có thể giải quyết vấn đề này. Dụ số 10 ngày 6.8.1950 (dựa theo quy chế hiệp hội của Pháp ngày 16.8.1901) do Bảo Đại ban hành, được sửa đổi do Dụ số 24 ngày 19.11.1952 và Dụ số 7 ngày 3.4.1954, chỉ quy định việc thành lập các hiệp hội chớ không dự liệu việc thành lập các giáo hội. Bộ Nội Vụ liền viết công văn số 1041-B/BNV/KS ngày 29.1.1964 do Trung Tướng Tôn Thất Đính kư tên, thông báo cho Thượng Tọa Thích Tâm Châu biết: “Bộ Nội Vụ chấp thuận tạm thời và trên nguyên tắc bản Hiến Chương của Giáo Hội Việt Nam Thống Nhất, trong khi chờ đợi quy chế mới về đạo giáo được ban hành. “Tuy nhiên, bản Hiến Chương nói trên sẽ được xem xét lại và chấp thuận khi có quy chế mới, để luật lệ chung được tôn trọng.”
Mặc dầu sự trả lời của Bộ Nội Vụ rất hợp lư, GHPGVNTN không chấp nhận những lời giải đáp đó và đ̣i chính phủ phải công nhận ngay Hiến Chương ngày 4.1.1964 đă đệ tŕnh. Khi ông Hà Thúc Kư được bổ nhiệm làm Tổng Trưởng Nội Vụ thay Tướng Tôn Thất Đính, Thượng Tọa Thích Tâm Châu lại gởi văn thư số 0344-VI/VP ngày 3.3.1964 yêu cầu Bộ Nội Vụ phải giải quyết ngay vấn đề Hiến Chương của GHPGVNTN. Trước áp lực nặng nề của hai Thượng Tọa Trí Quang và Tâm Châu, Bộ Nội Vụ đă chiếu Dụ số 10, ban hành Nghị Định số 329-BNV/KS ngày 24.3.1964 cho phép GHPGVNTN hoạt động. Nội dung Nghị Định này gồm những điều khoản chính sau đây: Điều 1.- Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất được phép thành lập trong khôn khổ luật lệ hiện hành. Điều 2.- Giáo Hội được phép hoạt động đúng theo bản Hiến Chương đề ngày 4.1.1964 đă được công nhận. Điều 3.- Kể từ ngày thành lập, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất có tư cách pháp nhân và được quyền sở hữu, thụ đắc, tạo măi, hoặc nhượng măi, những bất động sản và động sản cần thiết để đạt mục đích của Giáo Hội. Điều 4.- Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất sẽ điều chỉnh t́nh trạng khi quy chế mới về các giáo hội được ban hành.
Theo Nghị Định này, GHPGVNTN phải hoạt động theo quy chế hiệp hội quy định do Dụ số 10, v́ lúc đó không có quy chế pháp lư nào khác. Say men chiến thắng, Thượng Tọa Trí Quang nhất định tiến tới. Ông đă viết một loạt bài dưới đầu đề “Phật Giáo và Chính Phủ”, đả kích chính phủ không nghĩ đến xương máu và nguyện vọng của quảng đại quần chúng Phật Giáo và không giữ lời hứa thực hiện “b́nh đẳng giữa các tôn giáo”.
BỊ CHÍNH QUYỀN ĐÁNH TRÁO
Sau cuộc “chỉnh lư” ngày 30.1.1964, Tướng Nguyễn Khánh lên nắm chính quyền. V́ bị Phật Giáo đấu tranh tố cáo là “Cần Lao tái xuất giang hồ”, Tướng Khánh đă yêu cầu Bộ Nội Vụ phối hợp với Bộ Tư Pháp t́m các giải quyết gấp cho vụ Hiến Chương Phật Giáo. Kết quả, Tướng Nguyễn Khánh, với tư cách là Chủ Tịch Hội Đồng Quân Đội Cách Mạng kiêm Thủ Tướng Chính Phủ, đă kư Sắc Luật số 158-SL/CP ngày 14.5.1964 giải quyết những đ̣i hỏi của Phật Giáo Ấn Quang như sau: Điều 1.- Nay công nhận Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất cùng bản Hiến Chương ngày 4 tháng 1 năm 1964. Điều 2.- Kể từ ngày thành lập, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất có trọn vẹn tư cách pháp nhân, và được quyền sở hửu, thủ đắc, tạo măi hoặc chuyển nhượng những động sản cùng động sản cùng bất động sản cần thiết để đạt mục đích của Giáo Hội. Những bất động sản cần thiết là các tự viện (chùa) và các cơ sở hoạt động về văn hóa xă hội. Điều 3.- Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất có quyền thâu nhận những tài sản sinh tặng hoặc di tặng bởi các thể nhân hay bởi các pháp nhân. Điều 4.- Riêng về điều 27 của Hiến Chương ngày 4 tháng 1 năm 1964, quyền giám hộ và bảo vệ của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đối với các loại tự viện mà điều ấy đă ghi, cốt nhằm mục đích giám hộ và bảo vệ phương diện tinh thần giáo lư và thờ phượng, để tránh những phương hại cho Phật Pháp. Quyền tư hữu và quản trị về vật chất của các loại tự viện vẫn thuộc sở hữu chủ, ngoại trừ trường hợp hiến cúng hoặc chuyển nhượng. Điều 5.- Dụ số 10 ngày 6 tháng 8 năm 1950, cùng các luật lệ trái với Sắc Luật này, không áp dụng đối với Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.
GHPGVNTN đă ăn mừng chiến thắng khi nhận được Sắc Luật này. Trong cuốn Việt Nam Phật Giáo Tranh Đấu Sử, Thượng Tọa Tuệ Giác đă viết: “Đây là một thắng lợi hết sức vẻ vang của toàn thể Phật Giáo đồ trong cuộc vận động cho 5 nguyện vọng của Phật Giáo dưới triều đại Ngô Đ́nh và cuộc vận động của Giáo Hội sau ngày cách mạng 1.11.1963"
Nhưng các luật gia sau khi đọc Sắc Luật này đă cười một cách thích thú. Chúng tôi gọi điện thoại khen ngợi những người soạn thảo Sắc Luật đó. Quả thật, hiệu lực và hậu quả pháp lư của Sắc Luật này không khác ǵ Nghị Định số 329-BNV/KS ngày 24.3.1964 mà Bộ Nội Vụ đă ban hành trước đó. Nhà cầm quyền chỉ đánh tráo hai chữ Nghị Định bằng hai chữ Sắc Luật mà thôi. Nhưng Sắc luật nầy sẽ gây nhiều hậu quả rắc rối cho Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất về phương diện pháp lư mà các tăng sĩ trong Giáo Hội không thấy được. - Nghị Định ngày 24.3.1964 hay Sắc Luật ngày 14.5.1964 đều cấp cho GHPGVNTN một tư cách pháp nhân có những hậu quả pháp lư giống nhau, nhưng Sắc Luật ngày 14.5.1964 đă đặt Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất ra ngoài Dụ số 10 ấn định quy chế hiệp hội trong khi quy chế tôn giáo chưa được ban hành, nên khi có những khó khăn trong lúc áp dụng hay có tranh chấp, không biết sẽ căn cứ vào luật lệ nào để giải quyết. - Hiến Chương vốn là một bản văn ấn định các vấn đề nội bộ của một tổ chức, nên việc duyệt y Hiến Chương bằng một đạo luật sẽ gây khó khăn cho việc sửa đổi Hiến Chương sau này, nhất là khi đă có Quốc Hội, mọi đạo luật đều phải được lưỡng viện Quốc Hội thông qua. Đó là chưa nói đến việc chính quyền lợi dụng những thế kẹt của Giáo Hội để lủng đoạn.
V́ “thắng lợi hết sức vẽ vang” này, chỉ một thời gian sau đó GHPGVNTN đă phải gánh chịu những hậu quả rất nặng nề. Hiến Chương áp dụng được hơn một năm th́ Viện Hóa Đạo đă phải tu chính lại. Việc tu chính này hoàn tất vào ngày 14.5.1965 và lại phải đệ tŕnh lên Ủy Ban Lănh Đạo Quốc Gia xin chuẩn y lần thứ hai. Hơn bảy tháng sau, Ủy Ban Lănh Đạo Quốc Gia đă ban hành Sắc Luật số 005/66 ngày 26.2.1966 chuẩn y Hiến Chương mới. Đến lần tu chính Hiến Chương tiếp theo th́ xẩy ra mhững sự bất đồng trong Giáo Hội, phe Thượng Tọa Tâm Châu nắm được ưu thế về pháp lư nên phe Thượng Tọa Trí Quang đành hoạt động ngoài ṿng luật pháp. Đây là vấn đề sẽ được đề cập sau.
ÂM MƯU CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
GHPGVNTN chỉ là một hiệp hội tư nhân, quy tụ được 11 tông phái và hội đoàn, thế mà điều 27 Hiến Chương của Giáo Hội lại quy định như sau: “Các quốc tự, các ngôi chùa làng, các ngôi tổ đ́nh, các ngôi chùa xây đựng bởi: a) Các vị Tăng sĩ, b) Các hội đoàn Phật Giáo cũ được coi là tự viện của GHVNTN và GHVNTN có nhiệm vụ giám hộ và bảo vệ với sự nh́n nhận quyền tư hữu của các Tự viện đó.”
Quốc tự, chùa làng và các ngôi tổ đ́nh có khi là tài sản của quốc gia hay của làng xă. Các ngôi tổ đ́nh được dùng để thờ Thành Hoàng, không phải để thờ Phật. Các chùa do các tăng sĩ hay các hội đoàn Phật Giáo xây cất là tài sản riêng của cá nhân hay tổ chức đó. GHPGVNTN không có bất cứ một thứ quyền ǵ trên các tài sản đó, tại sao Giáo Hội này dám coi là “tự viện của GHVNTN và GHVNTN có nhiệm vụ giám hộ và bảo vệ” được? Rơ ràng GHPGVNTN đă coi Hiến Chương của Giáo Hội có giá trị pháp lư như một đạo luật của chính quyền!
Dĩ nhiên, các chuyên viên của Bộ Nội Vụ và Bộ Tư Pháp đă phát hiện ra ngay âm mưu chiếm đoạt tài sản kẻ khác của GHPGVNTN nên đă ngăn chận bằng điều 4 của Sắc Luật. Điều này chỉ cho phép GHPGVNTN “giám hộ và bảo vệ” về phương diện tinh thần giáo lư và thờ phượng mà thôi. Nhưng ngay cả sự cho phép đó cũng đă xâm phạm quyền của các tông phái Phật Giáo. Đạo Phật có đến 84.000 Pháp môn, ai muốn theo Pháp môn nào tùy ư. Mỗi tông phái có một lối tu riêng và có những truyền thống riêng, chính quyền lấy tư cách ǵ để giao cho GHPGVNTN “quản lư và bảo vệ”, nhất là đối với các tông phái không gia nhập GHPGVNTN? Trong trường hợp này, để nhượng bộ GHPGVNTN đang thừa thắng xông lên, nhà cầm quyền đă vi phạm nguyên tắc căn bản của luật pháp là “Nemo dat quod non habet”, tức không ai được cho cái ḿnh không có. Chính quyền làm ǵ có quyền nắm giữ “về phương diện tinh thần giáo lư và thờ phượng” của các tông phái Phật Giáo mà đem trao cho GHPGVNTN? Trong thực tế, điều 27 của Hiến Chương và điều 4 của Sắc Luật nói trên chỉ là những điều khoản hư văn, v́ không một tông phái hay hiệp hội nào để cho GHPGVNTN đụng đến tài sản hay sinh hoạt của họ. Nhưng những quy định của điều 27 Hiến Chương ngày 4.1.1964 đă để lộ tham vọng không chính đáng của những người soạn thảo bản Hiến Chương, đó là nhóm Thượng Tọa Trí Quang. Tóm lại, Hiến Chương GHPGVNTN và Sắc Luật ban cho Giáo Hội này tư cách pháp nhân đều thiếu căn bản, vượt ra ngoài tinh thần của Phật Giáo và một số nguyên tắc căn bản của luật pháp, các thành phần trong Giáo Hội lại có những quan điểm chính trị khác nhau, nên đưa tới hai hậu quả nghiêm trọng sau đây: (1) GHPGVNTN không biết phải dựa vào căn bản nào để bắt tất cả các tông phái và hội đoàn Phật Giáo phải đặt dưới quyền thống lănh của GHPGVNTN. Do đó, rất nhiều tông phái và hội đoàn vẫn hoạt động bên ngoài Giáo Hội. (2) Quy chế mà GHPGVNTH đ̣i hỏi là một thứ “quy chế ngoại hạng”, không nằm trong một quy chế nào về hiệp hội hay tôn giáo của quốc gia, nên khi có tranh chấp, không biết phải dựa vào đâu để giải quyết. Chính quyền lại lợi dụng những khe hở đó để lủng đoạn Phật Giáo. Đây là nguyên nhân chính đưa tới những sự tan vỡ sau này.
Lữ Giang
|