Trong khi Giáo Phận Hà Nội và nhà cần quyền Hà Nội
đang thảo luận về việc trả lại khu đất Ṭa Khâm Sứ ở
số 42 phố Nhà Chung, Hà Nội, Ban Tôn Giáo Chính Phủ
và Mặt Trận Tổ Quốc đă huy động hai cơ quan tôn giáo
vận của Đảng và Nhà Nước là tờ Công Giáo và Dân
Tộc của nhóm Công Giáo quốc doanh và trang
nhà phattuvietnam.net, cơ quan ngôn luận chính
thức của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam (GHPGVN),
thường được gọi là Giáo Hội Phật Giáo quốc doanh hay
Giáo Hội Phật Giáo Nhà Nước, bày tṛ phá rối. Đây là
chiến thuật “vùa đánh vừa đàm” rất
quen thuộc của Đảng CSVN.
Ngày 15.2.2008, tờ “Công Giáo và Dân Tộc”
số 1644 do Linh Mục Trương Bá Cần, một cán bộ tôn
giáo vận quản lư, đă đăng ở trang đầu một bài với
cái tít lớn “Về vụ Ṭa Khâm Sứ ở Hà Nội”
loan truyền tin đồn thất thiệt về mâu thuẫn giữa
Công Giáo và Phật Giáo hải ngoại, xuyên tạc lịch sử
về vấn đề chủ quyền Ṭa Khâm Sứ tại Hà Nội, bênh vực
cơ chế tôn giáo tại Việt Nam hiện nay, phê phán cuộc
đấu tranh của giáo dân Hà Nội, và xuyên tạc lá thư
của Đức Hồng Y Bertone gởi cho Giáo Phận Hà Nội.
Tiếp theo, ngầy 17.1.2008, báo điện tử
“phattuvietnam.net” cho đăng “Thư ngỏ gửi ngài
Ngô Quang Kiệt Tổng Giám Mục Địa Phận Hà Nội nhân vụ
việc Toà Khâm Sứ" của một người ở trong nước
giấu tên cho rằng khu Ṭa Giám Mục Hà Nội và Ṭa
Khâm Sứ hiện nay trước đây là chùa và tháp Báo Thiên
của Phật Giáo, bị Pháp chiếm đoạt và đập phá đi rồi
giao cho Công Giáo xây Ṭa Giám Mục và nhà thờ lớn
Hà Nội.
Ngày hôm sau, 18.1.2008, trang nhà này đăng tiếp một
bài thứ hai dưới đầu đề “Tâm thư gửi đồng bào
công giáo cầu nguyện đ̣i Toà Khâm Sứ” với tên
người viết được ghi là Phật tử Tâm Minh - Nguyễn
Quốc Dũng, cũng đưa ra luận điệu tương tự như bài
trước.
Các websites thân cộng ở hải ngoại hoặc các thành
phần theo “Nhóm Thân Hữu Già Lam” đều
ủng hộ lập luận này. Chúng ta nhớ lại, trrong buổi
thuyết pháp trong chương tŕnh “Tiếng Từ Bi”
vào lúc 8 giờ tối ngày 8.11.2007 trên đài phát thanh
Little Saigon, Ḥa Thượng Thích Chơn Thành ở Chùa
Liên Hoa, Garden Grove, California, đă từng tuyên
bố: “Thiên Chúa Giáo Việt Nam cũng như vậy. Dưới
thời thực dân Pháp, họ dựa vào Pháp chiếm các
chùa rồi xây dựng nhà thờ trên nền chùa, như nhà thờ
Đức Bà Hà Nội nguyên là tháp Báo Thiên, được xây
dựng từ thời nhà Lư. Nhà thờ Đức Bà Sài G̣n xây
trên nền chùa. Nhà thờ Cây Mai trước kia cũng là
ngôi chùa. Nhà thờ La Vang trước kia cũng là ngôi
chùa tên là chùa Lá Vằng, vân vân.”
Ai cũng biết, GHPGVN ở trong nước chỉ là một cơ quan
ngoại vi của Đảng CSVN, đặt trực thuộc Mặt Trận Tổ
Quốc và Ban Tôn Giáo Chính Phủ. Trong Đại Hội VI
được tổ chức năm 2007 vừa qua, Ḥa Thượng Thích Trí
Tịnh, vốn trực thuộc Giáo Hội Giáo Hội Phật Giáo
Việt Nam Thống Nhất trước đây, được tái bầu làm Chủ
Trịch Hội Đồng Trị Sự nhiệm kỳ 2007 – 2012. Nhưng
ông chỉ đóng vai tṛ bù nh́n. Người lănh đạo thật sự
của giáo hội này là Ḥa Thượng Thích Thanh Tứ, một
đảng viên Đảng CSVN, giữ vai tṛ Phó Chủ Tịch.
Trên nguyên tắc, hai cơ quan ngoại vi nới trên không
thể nói, viết hay làm ǵ mà không có sự chỉ đạo hay
chấp thuận trước của Mặt Trận Tổ Quốc hoặc Ban Tôn
Giáo Chính Phủ. Do đó, chúng tôi tin rằng đây là một
tṛ xảo thuật của Đảng CSVN.
Những sự kiện và những lập luận do các bài nói trên
đưa ra đều hoàn toàn trái với lịch sử và pháp lư,
nhưng chúng tôi không trả lời ngay, v́ tin rằng đây
chỉ mới là những bước thăm ḍ: Nếu thấy có những
phản ứng bất lợi, Mặt Trận Tổ Quốc và Ban Tôn Giáo
Chính Phủ sẽ tuyên bố rằng đó chỉ là ư kiến riêng
của độc giả hay quan điểm riêng của cơ quan ngôn
luận đă phổ biến. Nếu thấy không có phản ứng ǵ đáng
kể và được nhóm thân cộng ở hải ngoại tiếp ứng, họ
sẽ cho đưa ra tiếng nói chính thức.
Sự tiên đoán của chúng tôi đă đúng. Ngày 18.2.2008,
Website phattuvietnam.net đă công bố văn thư của Ḥa
Thượng Thích Trung Hậu, hiện là Trưởng Ban Văn Hóa
Trung Ương của GHPGVN, đă thừa ủy nhiệm Ban Thường
Trực Hội Đồng Trị Sự của Giáo Hội này, gởi đến Thủ
Tướng Nguyễn Tiến Dũng yêu cầu “xem Giáo hội
Phật giáo Việt Nam là một trong những thành phần chủ
yếu để tham khảo” trước khi có quyết định về
việc trao Ṭa Khâm Sứ cho Giáo Phận Hà Nội!
Trước khi đưa ra một vài nhận xét, chúng tôi xin
trích đăng lại những điểm xuyên tạc chính mà các cơ
quan ngôn luận ngoại vi của Đảng CSVN đă cho phổ
biến:
Trong “Thư ngỏ gửi ngài Ngô Quang Kiệt Tổng Giám
Mục Địa Phận Hà Nội nhân vụ việc Toà Khâm Sứ",
một độc giả giấu tên đă viết như sau:
“Khi giặc Pháp đánh cướp Hà Nội, dùng thủ đoạn để
cướp đoạt, san phẳng khu chùa Báo Thiên rồi “dâng”
cho nhà thờ Ca tô giáo, do đă cúc cung tận tụy phục
vụ ngoại xâm, xây lên đó là nhà thờ Lớn bây giờ. Như
vậy, sẽ là hồ đồ khi đ̣i lại và bất công khi trao
lại...
“Sự thật lịch sử đó là hiển nhiên tuyệt đối. Lư do,
lực lượng và quá tŕnh để khu đất đó rơi vào tay
Giáo hội Thiên chúa c̣n là một sự thật hiển nhiên
hơn nữa. Tất cả các sự thật đó không ai và không
bằng chứng nào có thể biện bác, thưa Ngài?”
Phật tử Tâm Minh - Nguyễn Quốc Dũng, trong “Tâm
thư gửi đồng bào công giáo cầu nguyện đ̣i Toà Khâm
Sứ”, c̣n đi xa hơn:
“Đến năm 1884, sau khi đánh chiếm Hà Nội lần thứ
hai, thực dân Pháp, dưới sự tiếp tay của tín hữu
Ki-tô giáo đă tịch thu đất, cho phá Tháp và Chùa để
xây dựng nhà thờ Thánh Josep, tức Nhà thờ Lớn Hà Nội
ngày nay. Rồi những ngôi chùa khác quanh hồ Hoàn
Kiếm, chùa th́ bị Pháp triệt hạ (như chùa Báo Ân),
chùa th́ bị Pháp lấn chiếm cấp đất cho giáo dân (như
chùa Bà Đá – trụ sở THPG Hà Nội ngày nay).”
Văn thư đề ngày 18.2.2008 của Ḥa Thượng Thích Trung
Hậu gởi Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng cững đă lặp lại
những luận điệu tương tự. Văn thư viết:
“Căn cứ các tài liệu lịch sử, chùa Báo Thiên là một
trong Tứ đại khí (bốn di sản văn hóa lớn) của Phật
giáo, mà cũng là của cố đô Thăng Long, được xây cất
từ năm 1057 dưới thời vua Lư Thánh Tông. Phật giáo
Việt Nam, một tôn giáo luôn luôn đồng hành với dân
tộc qua những thăng trầm của vận nước, dù với tư
cách là một Giáo hội hay là một bộ phận lớn nhất của
cộng đồng dân tộc, đă liên tục là sở hữu chủ của cơ
sở này trong 825 năm cho đến năm 1883 khi bị
chính quyền thực dân Pháp cưỡng chiếm rồi giao cho
Thiên Chúa giáo, cụ thể là Giám mục Puginier sử dụng.
“Chùa Báo Thiên, một di sản văn hóa đồ sộ vào bậc
nhất nước ta tọa lạc trên khu đất rộng vài ngàn mét
vuông, đă bị đập phá rồi xây dựng Nhà thờ Lớn Hà Nội
và Ṭa Khâm sứ lên trên đó.
“Vừa qua, một số người lên tiếng đ̣i Chính phủ
giao trả Ṭa Khâm sứ cũ ấy cho Thiên Chúa giáo, gây
nhiều xôn xao trong quần chúng nhân dân. Chúng tôi
đề nghị Thủ tướng nên xem Giáo hội Phật giáo Việt
Nam là một trong những thành phần chủ yếu để tham
khảo trước khi có quyết định cụ thể liên hệ đến sự
việc trên.”
Trong vụ này, chúng tôi sẽ tŕnh bày về cả phương
diện lịch sử lẫn pháp lư để độc giả có thể nhận ra
đâu là sự thật.
Để trả lời những luận điệu do các cán bộ tôn giáo
vận của Đảng và Nhà Nước đưa ra, chúng tôi thấy tốt
hơn cả là dùng những tài liệu lịch sử do Đảng và Nhà
Nước cho phổ biến
Cuốn “Tự Diển Hà Nội Địa Danh” do Bùi
Thiết biên soạn và do nhà xuất bản Văn Hóa Thông Tin
ấn hành năm 1993 với giấy phép mang số 503-CT/VHTT,
đă nói về Chùa Báo Thiên và Tháp Báo Thiên như sau:
Chùa Báo Thiên:
“Dựng vào năm 1056 trên đất phường Báo Thiên, tên
chữ là Sùng Khánh Tự, có chuông chùa đúc cùng năm,
hết 12.000 cân đồng. Ngôi chùa qua nhiều lần trùng
tu, đến cuối thế kỷ XVIII bị nạn kiêu binh đốt, phá
hủy hoàn toàn.” (tr. 26).
Tháp Báo Thiên:
“Ṭa tháp dựng năm 1057 trước Chùa Báo Thiên, tên
chữ là Đại Thắng Tư Thiên Bảo Tháp. Tháp có 13
trượng (chừng 50m), gồm hai phần, dưới bằng đá, trên
bằng đồng. Đỉnh tháp bị trận bảo năm 1258 làm đổ, và
phần đồng bị sét đánh bạt năm 1332.
“Tháp Báo Thiên là một trong những vật báu của Đại
Việt thời Lư – Trần. Năm 1427, khi bị vây hảm ở Đông
Quan, giặc Minh đă tháo gỡ hết đồng ở tháp để đúc
súng đạn. Năm 1547 ṭa tháp bị dổ sập nốt phần đá.
Cuối thế kỷ XVIII tháp bị phá hủy. Trên nền chùa –
tháp họp chợ Báo Thiên.”
(tr. 26).
Như vậy, theo tài liệu Đảng và Nhà Nước cho phổ
biến, Chúa Báo Thiên và Tháp Báo Thiên đă bị phá hủy
hoàn toàn vào cuối thế kỷ XVIII và khu đất đó đă
được dân chúng dùng làm nơi họp chợ. Thế th́ tại
sao bây giờ Đảng và Nhà Nước lại cho các cán bộ
tuyên giáo vận nói rằng Chùa và Tháp Báo Thiên bị
người Pháp phá rồi lấy đất cấp cho Công Giáo xây nhà
thờ và Ṭa Giám Mục Hà Nội?
Sau khi tŕnh bày về Chùa và Tháp Bảo Thiên theo tài
liệu của Đảng và Nhà Nước phổ biến năm 1993, chúng
tôi thấy cần làm sáng tỏ thêm một số vấn đề:
Về Tháp Báo Thiên:
“Đại Việt Sử Kư” của Lê Văn Hưu và “Đại
Việt Sử Kư Toàn Thư” của Ngô Sĩ Liên cho biết:
Năm Đinh Dậu (1057), mùa xuân, tháng 3, xây bảo tháp
Đại Thắng Tự Thiên, 30 tầng (có sách ghi 12 tầng).
Tháp nằm bên cạnh ngôi chùa xây trước đó một năm,
tức năm 1056, nhằm năm Long Thụy Thái B́nh. Ở tầng
thứ ba, nơi cửa tháp có khắc chữ “Thiên tử vạn
thọ” (Vua sống trường thọ). Trên chót đỉnh
tháp có hàng chữ “Đạo Lư Thiên”, có
nghĩa là Đạo Lư của Trời chiếu khắp thiên hạ.
Về Chùa Báo Thiên: Sách “Đại Việt Sử Kư” cho biết:
Dựng Chùa
Sùng Khánh Báo Thiên. Lấy 11.000 cân đồng (nhiều
sách ghi 12.000 cân) ở trong phủ ra đúc chuông đặt
tại chùa ấy... Sự việc xảy ra sau khi vua được nhà
Tống phong làm Quận Vương (!) và tiếp sứ Chân Lạp
sang cống (tháng 8 năm 1056).
Sách “Hà Nội Ngh́n Xưa” cho biết
đời
Tiền Lê "đắp núi đất phủ lên nền cũ. Chùa bỏ hoang,
cuối thế kỷ XVIII làm chợ Báo Thiên, núi làm chỗ xử
tử người có tội. Năm 1791, đào lấy những gạch đá nền
tháp để tu bổ thành Thăng Long.”
(tr. 177).
Cuốn “Souvenirs” (Hồi Kư) của Bonnal,
Công Sứ Hà Nội lúc đó, có ghi lại rằng:
khi thấy ngôi
Chùa Báo Thiên bỏ hoang, dân chúng trong vùng đă họp
nhau lại bàn bạc và nhận thấy ngôi chùa đă bị bỏ
hoang phế từ lâu không người quản lư và hiện thời đă
biến thành phế tích, có thể đổ sập gây tai nạn cho
người qua lại bất cứ lúc nào. nên đă đề nghị chính
quyền rỡ bỏ và thu hồi đất đai vô chủ. Tổng Đốc
Nguyễn Hữu Độ đă chấp thuận cho phá bỏ ngôi chùa.
Công Sứ Bonnal cho biết thêm:
Cuối năm 1883, Giám
mục Puginier có xin ông khu đất vô chủ đó để xây nhà
thờ lớn Hà Nội, nhưng ông trả lời rằng vấn đề đó
không thuộc thẩm quyền của ông v́ Bắc Kỳ chỉ là xứ
bảo hộ chứ không phải thuộc địa của Pháp. Ông yêu
cầu Giám mục Puginier tŕnh bày vấn đề này với quan
Tổng Đốc Hà Nội Nguyễn Hữu Độ, một quan chức do
Triều Đ́nh Huế bổ nhiệm. Giám mục Puginier đă nêu
lên ước muốn của ông với ông Tổng Đốc Độ. Ông Độ đă
cho mở một cuộc điều tra t́m con cháu những người
trước đây là sở hữu mảnh đất, nhưng mấy trăm năm đă
trôi qua, hơn nữa chiến tranh loạn lạc, xă hội biến
động, nên không t́m được ai là chủ miếng đất đó. V́
thế, ông đă quyết định cấp cho Giám mục Puginier xây
cất nhà thờ.
Qua một số sử liệu nói trên, chúng tôi có một số
nhận xét như sau:
(1) Tháp Báo Thiên không phải là nơi thờ Phật mà là
nơi tế trời của vua như Nam Giao ở Huế, nên không
liên hệ ǵ đến Phật Giáo.
(2) Khu đất có Chùa Bảo Thiên trước đây chỉ c̣n là
một khoảng đất trống đang được dùng để họp chợ và
được Tổng Đốc Nguyễn Hữu Độ cấp cho Giám mục
Puginier, chứ không phải Tây đă cho đập phá Chùa Bảo
Tháp rồi lấy đất cấp cho Công Giáo.
(3) Chùa Báo Thiên nằm ở thôn Báo Thiên Thị, huyện
Thọ Xương, tỉnh Hà Nội, do vua Lư Thánh Tông
dùng tài sản quốc gia để xây dựng vào năm 1056. Như
vậy, chùa này tuy được dùng để thờ Phật nhưng không
thuộc quyền sở hữu của bất cứ tông phái Phật Giáo
nào. Nói theo danh từ ngày nay, đây là “Chùa quốc
doanh”. Vậy Ḥa Thượng Thích Trung Hậu lấy tư
cách ǵ để đ̣i lại? Phải chăng ông đă chính thức
nh́n nhận GHPGVN là một giáo hội quốc doanh
(state-run Church), tức một công cụ tôn giáo vận của
Nhà Nước chứ không phải là một tôn giáo?
(4) Tại sao vua Lư Thánh Tông lấy đất dân xây Chùa
Báo Tháp cho Phật Giáo th́ không bị gọi là ưu đăi
Phật Giáo, c̣n Tổng Đốc Nguyễn Hữu Độ lấy đất đó cấp
cho Công Giáo xây nhà thờ th́ bị coi là ưu đăi Công
Giáo? Phải chăng chỉ một ḿnh Phật Giáo mới được
quyền ưu đăi mà thôi sao?
Trong thời Pháp thuộc, hai Bộ Dân Luật Trung và Bắc
đều quy định thời hiệu để thủ đắc quyền sở hữu bất
động sản vô chủ là 100 năm. Dân Luật Việt Nam sau
này rút xuống c̣n 20 năm.
Điều 1452 của Bộ Dân Luật Việt Nam quy định: “Sự chấp hữu một bất động sản trong 20 năm, nếu hội đủ
điều kiện đă định ở điều 1444, sẽ là người chấp hữu
thủ đắc quyền sở hữu về bất động sản ấy.”
Điều kiện án định nói ở điều 1444 như thế nào? Điều
này nói: “Muốn được thủ đắc thời hiệu,
cần phải chấp hữu liên tiếp yên ổn, công khai và
minh bạch, với tư cách là sở hữu chủ.”
Những trường hợp nào bị coi là không chấp hữu liên
tiếp yên ổn? Theo điều 1460, bị coi là gián đoạn
thời hiệu, một trong 3 trường hợp sau đây:
Trường hợp 1: Có trát đ̣i người chấp hữu ra trước
ṭa về sự chấp hữu ấy.
Trường hợp hai: Có sự sai áp đồ vật
(ở đây là đất) chấp hữu.
Trường hợp 3: Có sự đốc thúc người chấp hữu phải trả
lại đồ vật
(ở đây là đất) bằng một văn thư do một
công lại hữu quyền tống đạt.
Nếu trong 20 năm không hề xẩy ra một trong ba trường
hợp nói trên, sự chấp hữu được coi như là “liên
tiếp và yên ổn” nên đương nhiên có
quyền thủ đắc quyền sở hữu trên bất động sản.
Nói chung, các luật pháp thuộc hệ thống Roman Law
như ở hầu hêt các nước Âu Châu và Việt Nam trước
đây, đều quy định tương tự như thế. Chỉ có chế độ
cộng sản mới áp dụng luật man rợ mà thôi.
Ṭa Giám Mục Hà Nội đă chấp hữu khu đất làm Ṭa Giám
Mục và Ṭa Khâm Sứ hiện nay “liên tiếp và yên ổn” từ
năm 1884 đến nay, tức 122 năm, không hề xẩy ra một
trong ba trường hợp nói trên, nên phải được coi là
người thủ đắc quyền sở hữu trên bất động sản đă chấp
hữu.
Ngoài ra, về phương diện pháp lư,
chỉ có sở hữu
chủ của sở đất nói trên trước năm 1884 và các thừa
kế hợp pháp của họ mới có quyền đứng đơn khiếu nại.
Giáo Hội Phật Giáo Nhả Nước và tất cả các tổ chức
Phật Giáo khác không có tư cách để khiếu nại.
Đây là đều GHPGVN phải biết.
Chúng tôi tự hỏi: Trong lịch sử, các vua Việt Nam đă
ban cho Phật Giáo vô số tài sản, nhất là dưới thời
Lư – Trần và dưới thời các Chúa Nguyễn, nhưng sau đó
đă bị Hồ Quư Ly và vua Quang Trung “cướp” sạch. Tại
sao Giáo Hội Phật Giáo Nhà Nước không đ̣i lại các
tài sản đó mà chỉ đ̣i khu đất Ṭa Khân Sứ ở phố Nhà
Chung, Hà Nội, mà thôi?
Trong lịch sử Trung Hoa cũng như Việt Nam, Phật Giáo
luôn trải qua những thời kỳ thịnh suy nối tiếp nhau:
Vua nào thích Phật Giáo th́ xây chùa, cấp đất và
nông nô cày ruộng cho chùa, đem nhiều báu vật của
quốc gia dâng cho chùa. Vua nào không thích Phật
Giáo hay thấy việc chu cấp cho Phật giáo gây nhiều
tổn thất cho quốc gia, lại ra lệnh đập phá chùa và
thu hồi tài nguyên quốc gia, gây ra “Pháp nạn”.
Tại Trung Hoa, có ba Pháp nạn lớn nhất, thường được
gọi là “Tam Vơ Nhất Tôn Pháp Nạn”. Ở
Việt Nam, Phật Giáo đă phải trải qua hai “Pháp nạn”
kinh hoàng nhất trong lịch sử, đó là “Pháp nạn” dưới
thời Hồ Quư Ly và “Pháp nạn” dưới thời vua Quang
Trung.
Thời Lư – Trần, Phật Giáo được các vua cấp đến 1/3
đất đai và tài nguyên của quốc gia. Trong bài Kư
Tháp Linh Tế, Trương Hán Siêu đă ghi: “trong
thiên hạ ba phần, chùa chiếm ở một phần, bỏ dứt luân
thường, hao tổn của báu...”. Nhưng sau đó,
để có tài nguyên chống lại giặc Minh, Hồ Quư Ly
(1400 – 1407) đă quyết định áp dụng chế độ hạn điền
và hạn nô, lấy lại phần lớn các tài sản đă cấp cho
nhà chùa, bắt các tăng sĩ dưới 50 tuổi phải nhập ngũ
hay làm lao dịch. Tuy nhiên, ông hành động quá chậm
và không triệt để nên Việt Nam bị mất vào tay nhà
Minh.
Để có tài nguyên chống lại giặc Thanh, vua Quang
Trung (1788 – 1792) đă chơi bạo hơn: Ông ra lệnh đập
phá hầu hết các chùa, đem tượng Phật và chuông chùa
ra đúc vũ khí, bắt các tăng sĩ dưới 50 tuổi phải
nhâp ngũ hay đi lao dịch... Nhờ vậy, Quang Trung đă
thắng trận vẽ vang. Tập “Tonkin et Cochinchine”
của các nhà truyền giáo Pháp đă ghi: “Họ đă
cướp phá chùa và họ đă đốt những ngôi chùa danh
tiếng nhất của các cựu vương Bắc Hà.” Vua
Quang Trung không cho phép mỗi làng đều có chùa như
trước. Ông ra lệnh phá hủy các chùa riêng và tuyên
bố khoảng 200 làng mới có thể họp lại để xây một
ngôi chùa chung.
Việc kiểm kê các tài sản đă bị “cướp” này rất dễ
dàng, v́ trong cổ sử đều có ghi năm nào vua nào đă
xây chùa nào cho Phật Giáo, chẳng hạn như Đại Việt
Sử Kư của Lê Văn Hưu có ghi: “Lư Thái Tổ lên
ngôi mới được 2 năm, tông miếu chưa dựng, đàn xă tắc
chưa lập mà trước đă dựng tám chùa ở phủ Thiên Đức,
lại trùng tu chùa quán ở các lộ và độ cho làm Tăng
hơn ngh́n người ở Kinh sư, thế th́ tiêu phí của cải
sức lực vào việc thổ mộc không biết chừng nào mà
kể...” Những đoạn như thế đươc gặp rất nhiều
trong cổ sử, nên Giáo Hội Phật Giáo Nhà Nước có thể
sưu tra và đ̣i Nhà Nước phải trả lại cho Phật Giáo.
Miếng đất thuộc khu Ṭa Khâm Sứ có đáng giá ǵ đâu
mà đứng lên đ̣i được tham khảo?
Trong các bài viết về Ṭa Khâm Sứ, nhóm quốc doanh ở
trong nước và nhóm thân cộng ở hải ngoại luôn rêu
rao rằng dưới thời Pháp thuộc, người Pháp đă chèn ép
Phật Giáo và nâng đỡ Công Giáo. Nhưng sự “xác tín”
này hoàn toàn trái với các sử liệu. V́ bài báo có
hạn, chúng tôi chỉ xin ghi lại một số điểm chính.
Có thể nói, chính quyền Pháp đă yểm trợ Phật Giáo
tối đa. Họ cho các viên chức cao cấp của chính quyền
thuộc địa đứng ra thành lập các hội Phật Giáo và
xuất bản các tâp san Phật Giáo trong cả ba Kỳ để
giúp Phật Giáo phát triển.
Trước hết, Toàn Quyền Pháp ở Đông Dương đă ban hành
Nghị Định ngày 28.1.1930 thành lập
“Viện
Nghiên Cứu Phật Giáo Tiểu Thừa Bản Xứ”
(Institut Indigène d’Étude du Bouddhisme du Petit
Véhicule) để truyền bá Phật Giáo Tiểu Thừa cho dân
bản xứ. Sau đó, tại Nam Kỳ, năm 1931 Pháp đă thúc
đẩy một số cư sĩ Tây học như Ngô Văn Chương, Phạm
Ngọc Vinh, Trần Nguyên Chấn, Nguyễn Văn Cần, v.v.
đứng ra thành lập “Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học” và xuất bản tạp chí “Từ Bi Âm”... Ông Trần
Nguyên Chấn đă mời Thống Đốc Nam Kỳ Khrautheimer làm
hội trưởng danh dự của hội.
Tại Trung Kỳ, năm 1932, Bác Sĩ Lê Đ́nh Thám đă được
chính quyền thuộc địa đưa ra Huế thành lập
“Hội
An Nam Phật Học” và xuất bản tạp chí “Viên Âm
Nguyệt San”, sau đó lập ra “Trường An Nam
Phật Học” tại chùa Trúc Lâm để đào tạo các tăng
sĩ.
Tại Bắc Kỳ, ngày 23.12.1934, Tổng Đốc Nguyễn Năng
Quốc đă chính thức tuyên bố thành lập “Phật Giáo
Bắc Kỳ Hội”, lấy chùa Quán Sứ làm trụ sở và cho
xuất “Tập Kỷ Yếu số 1” và sau đó là tạp chí
“Đuốc Tuệ”. Tạp chí này cho biết trong ṿng một năm
đă có 2.000 tăng ni và hơn 10.000 Phật tử là hội
viên.
Trong bộ “Việt Nam Phật Giáo Sử Luận”, Tập
III, Nguyễn Lang, tức Thiền Sư Nhất Hạnh, đă cho
biết:
“Hiện nay nhờ thế lực của các quan đại thần
và của các bậc thượng lưu, hội đă lan ra hầu khắp
Bắc Kỳ, đâu đâu cũng có chi bộ.” (tr. 168)
Trong “Việt Nam Phật Giáo tranh đấu sử” Tuệ
Giác đă công nhận:
“Phải nói rằng từ năm 1920
đến hết năm 1956, Phật giáo Việt Nam thật là một
thời kỳ hưng thịnh. Số Phật Tử càng ngày càng đông
các tổ chức thanh niên, sinh viên, học sinh Phật tử
đều được sắp xếp quy củ.” (tr. 77)
Trên đây là những sự ghi nhận của các sử gia Phật
Giáo. Như thế mà bảo Phật Giáo bị Pháp chèn ép sao?
Trong cuộc phỏng vấn của đài BBC ngày 23.2.2008,
Thượng Tọa Không Tánh thuộc GHPGVNTN không được công
nhận, đă nhận xét về văn thư của Ḥa Thượng Thích
Trung Hậu gởi cho Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng như sau:
“Cái vấn đề là ḿnh phải biết rằng bây giờ là do
ai thúc đẩy mà Ḥa Thượng Trung Hậu đă làm cái văn
thư đó, là do cái lệnh của ai, và người ta đă mượn
tay Ḥa Thượng Trung Hậu làm cái văn thư đó nhắm mục
đích ǵ. Ḿnh phải biết cái chuyện đó.
“Bây giờ biết cái tài sản đó là của Ṭa Khâm Sứ từ
thời xa xưa rồi. Cái chuyện đó ai cũng biết. Từ cái
thời xa xưa đó, lúc đó Ḥa Thượng Trung Hậu cũng
chưa sinh ra, và cái GHVN cũng chưa có. Bây giờ
người ta lại mượn tay Phật Giáo.
“Có những cái luật bất hồi tố. Thí dụ như có những
tài sản, theo quốc tế người ta quy định, thí dụ như
là những cái đất đai, những cái tài sản mà nó có từ
Đệ Nhất hay Đệ Nghị Thế Chiến, thí dụ như vậy, hay
là những cái thời điểm nào đó th́ nó đă trở thành
bất hồi tố. Cho nên bây giờ nó đă qua như vậy rồi.
“Bây giờ th́ Nhà Nước Cộng Sản họ thấy họ khó đáp
ứng theo cái đ̣i hỏi, cái đấu tranh, cái nguyện vọng
của bên Công Giáo, th́ họ mượn tay của Phật Giáo
Việt Nam, rồi cuối cùng họ lấy cái cớ đó mà nói rằng
tài sản này có tranh chấp nên chúng tôi không thể
giải quyết hay là đ́nh lại, hay là thế nọ thế kia ǵ
đó. Như vậy, vai tṛ
GHPGVH trở thành tay sai để gỡ cái rồi cho Nhà
Nước,
trước cái hoàn cảnh Nhà Nước không có cái cách để mà
giải quyết.
“C̣n đối với GHVNTN là một giáo hội đang bị bức tử,
đang bị đàn áp, đang là một nạn nhân. C̣n cái việc
của GHVN đă làm đó, ḿnh chẳng có để ư ǵ cái việc
đó.”
Trong cuộc phỏng vấn ngày 21.2.2008, ông Nguyễn Đức
Thịnh, Phó Vụ Trưởng Vụ Công Giáo thuộc Ban Tôn Giáo
Chính Phủ Việt Nam đă nói về văn thư của Ḥa Thượng
Thích Trung Hậu như sau:
"Nếu nói nguồn gốc của tổ chức cá nhân này, th́
tổ chức cá nhân khác, người ta cũng có các căn cứ,
các chứng lư, để nói đó là của người ta."
Ông nói sẽ xử lư các vấn đề trên tinh thần của Luật
Đất Đai năm 2003 đă được Quốc Hội thông qua và phía
Chính phủ sẽ giải quyết các nhu cầu của cá nhân, tổ
chức có nhu cầu sử dụng về nhà, đất lâu dài và ổn
định trên cơ sở thấu t́nh đạt lư.
Ông Thịnh bênh vực GHPGVN là chuyện đương nhiên, v́
tổ chức này là một công cụ tôn giáo vận của Đảng và
Nhà Nước. Nhưng ông đă ngụy biện. Như chúng tôi đă
nói ở trước, GHPGVN mới được thành lập năm 1981,
không phải là sử hữu chủ hay thừa kế hợp pháp của sở
đất mà vua Lư Thánh Tông đă lấy để xây chùa và tháp
Báo Thiên trên đó, nên về phương diện pháp lư, Giáo
Hội này không có tư cách và thẩm quyền để khiếu nại.
Do đó, không cần phải xét đến văn thư của Ḥa
Thượng Thích Trung Hậu làm ǵ.
Chúng tôi tin rằng nhà cầm quyền thừa biết rằng
không hề có chuyện Pháp đă cho đập chùa Báo Thiên
rồi lấy đất cấp cho Công Giáo và Giáo Phận Hà Nội đă
thủ đắc hợp pháp quyền sở hữu của sở đất này theo
thời hiệu. Nhưng họ vẫn dùng tờ Công Giáo và Dân Tộc
và Giáo Hội Phật Giáo Nhà Nước để quấy rối, với mục
đích nói với phía Công Giáo rằng yêu cầu của các ông
có sự chống đối của Phật Giáo. Tuy nhiên, chúng tôi
vẫn xét và cấp đất cho Giáo Hội theo sự quy định của
Luật Đất Đai năm 2003. Đây là một tṛ chơi lá mặt lá
trái rất quen thuộc của Đảng CSVN.
Về sự ưu đăi:
Nếu Thiên Chúa Giáo Việt Nam có được một chính quyền
nào đó ưu đăi một vài thứ ǵ đó th́ những ưu đăi
đó cũng chưa bằng 1/10.000 những ưu đăĩ mà các chính
quyền đă dành cho Phật Giáo trong quá tŕnh lịch sử.
Dưới thời Lư – Trần, chính quyền đă dâng hiến cho
Phật Giáo một số tài sản lên đến bằng 1/3 tài sản
quốc gia, khiến nền kinh tế bị kiệt quệ.
Trong 32 năm qua, nhà cầm quyền CSVN cũng đă và đang
xây nhiều chùa và trung tâm rộng lớn cho Phật Giáo ở
Vũng Tàu, Sài G̣n, Đà Lạt... Một ngôi chùa tuyệt đẹp
vừa được chính quyền địa phương dựng lên ở Tiên Sa,
Đà Nẵng. Trong khi đó, chính quyền chẳng những không
xây một nhà thờ nào cho Thiên Chúa Giáo, trái lại
c̣n đập phá hay ngăn cản không cho sửa chửa các ngôi
thánh đường đă quá cổ và hư nát.
Giáo Hội Phật Giáo Nhà Nước thử suy nghĩ xem: Tại
sao chỉ một ḿnh Phật Giáo được hưởng các sự ưu đăi
tối đa, c̣n các tôn giáo khác không được? Ở các nước
Tây Phương, nơi có đông Thiên Chúa Giáo, có quốc gia
nào áp dụng thứ luật kỳ thị đó đối với Phật Giáo
đâu?