www.motgoctroi.com mến chào bạn   

Anh Hai Cán Bộ

Lữ Giang

 

Trên tạp chí Time số ra ngày 24.6.2001, dưới đầu đề “America”, kư giả Strobe Talbott đă nhận định về việc mở rộng quan hệ với Việt Nam bằng câu mở đầu như sau:

“Theo Bá Tước Palmerston, các quốc gia không có đồng minh hay kẻ thù vĩnh viễn mà chỉ có quyền lợi vĩnh viễn. Câu châm ngôn đó chứa đựng một lời nhắc nhở Chính quyền Bush phải chú ư khi nói chuyện với Cộng Hoà Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.”

 

Sau đó, trên tạp chí Time số ra ngày 5.1.2004, dưới đầu đề “A Farewell to Allies”, nói về sự mở rộng quan hệ với các quốc gia Âu Châu, kư giả Charles Krauthammer lại lặp lại châm ngôn này:

Các quốc gia có những quyền lợi khác nhau. Trong một nữa thế kỷ, chủ trương chống cộng sản đă gói ghém những khác biệt này, nhưng chủ nghĩa cộng sản đă ra đi. Âu Châu sống với châm ngôn của Bá Tước Palmerston: Các quốc gia không có đồng minh vĩnh viễn, chỉ có các quyền lợi vĩnh viễn. Đồng minh với Mỹ không c̣n là một quyền lợi vĩnh viễn nữa.”

 

Bá Tức Palmerston (1784 – 1865) là người có tư tưởng tiến bộ, đă hai lần làm Thủ Tướng nước Anh, lần thú nhất từ 6.2.1855 đến 19.2.1958 và lần thứ hai từ 12.6.1859 đến 18.10.1865. Câu tuyên bố nổi tiếng của ông thường được các chính trị gia và nhà ngoại giao nhắc lại: “Nations have no permanent allies or enemies, only permanent interests.” (Các quốc gia không có đồng minh hay kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có các quyền lợi vĩnh viễn).

 

Trước đây Hoa Kỳ và VNCH là đồng minh v́ VNCH được coi là “tiền đồn chống cộng của thế giới tự do ở Đông Nam Á”. Nay VNCH không c̣n nữa và chế độ cộng sản ở Việt Nam thật sự chỉ là cái bóng. V́ thế, tạp chí Time đă nhắc đi nhắc lại Chính quyền Bush phương châm của Palmerston khi mở rộng các quan hệ với Việt Nam.

 

Thật ra, sau khi các chế độ cộng sản Nga và Đông Âu sụp đổ, các chính phủ Hoa Kỳ và đảng CSVN đều chọn con đường mà phương châm của Palmerston đă đưa ra, v́ thế Mỹ đă bỏ cấm vận cho Việt Nam, thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam và kư thương ước với Việt Nam. Nay Hoa Kỳ đă tiến tới một giai đoạn quan trọng hơn là thiết lập quan hệ quốc pḥng với Việt Nam!

 

CÁC DIỄN BIẾN MỚI

 

Hôm 15.7.2008, Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA) đă phóng đi một bản tin dưới đấu đế “Mỹ củng cố quan hệ quân sự với CSVN, Lào và Cam Bốt”, cho biết như sau:

“Hoa Kỳ đang củng cố các quan hệ quân sự với CSVN, Lào và Cam Bốt như một phần của một quan hệ sâu đậm với vùng Đông Nam Á giữa cuộc tranh giành ảnh hưởng với Trung Quốc.

“Thông tấn xă AFP trích lời Phó Phụ Tá Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Scot Marciel nói rằng 3 năm sau khi mở lại những quan hệ quân sự toàn diện với Nam Dương, một thời bị trở ngại v́ những quan tâm về nhân quyền, Hoa Kỳ khởi sự phát triển những quan hệ tương tự với CSVN, Lào và Cam Bốt...

“Một viên chức cấp cao của Bộ Ngoại Giao Mỹ cho biết đây chỉ là một phần của việc mở rộng mối quan hệ toàn diện với vùng này...

“Hai nước trước đây là thù địch của nhau đă trao đổi tùy viên quân sự vào giữa thập niên 1990, sau khi Cộng sản Việt Nam hợp tác trong việc t́m kiếm tin tức những quân nhân Mỹ mất tích trong cuộc chiến tranh Việt Nam.”

 

Bản tin ngày 6.10.2008 của đài VOA cho biết hôm nay Hoa Kỳ và Việt Nam mở đối thoại về chính trị, an ninh và quốc pḥng. Sau đó, Trợ Lư Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Mark Kimmitt và Thứ trưởng Bộ Ngoại Giao VN Phạm B́nh Minh đă mở cuộc họp báo ở Hà Nội. Thứ Trưởng Phạm Minh tỏ ư tin tưởng rằng cuộc đối thoại sẽ củng cố sự hiểu biết lẫn nhau và mối quan hệ giữa hai nước.

Tiếp theo, trong bản tin ngày 7.10.2008, đài VOA nói rơ hơn:

Hoa Kỳ và Việt Nam đă thảo luận về chuyện Hoa Kỳ có thể bán vũ khí và các bộ phận rời cho Việt Nam, cũng như chuyện quân đội Hoa Kỳ có thể giúp trong những nỗ lực cứu trợ nạn nhân thiên tai, và nhiều vấn đề khác nữa. Theo bản tường tŕnh do Thông Tín Viên Matt Steinglass của Đài VOA từ Hà Nội gửi về, cuộc đối thoại chiến lược đầu tiên về những vấn đề chính trị, quốc pḥng và an ninh cho thấy có sự cải thiện liên tục trong mối quan hệ giữa hai nước.

Bản tường tŕnh cho hay Trợ Lư Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Mark Kimmit nói rằng các cuộc thảo luận tại Hà Nội đă đề cập nhiều tới vấn đề an ninh. Sau đây là lời Trợ Lư Ngoại Trưởng Kimmit:

"Chúng tôi đă thảo luận phần lớn tới việc ǵn giữ ḥa b́nh, trợ giúp quân sự, trợ giúp an ninh, việc có thể bán những vũ khí gây chết người hoặc không gây chết người, và nhiều vấn đề hai bên cùng quan tâm."

 

Quân đội Việt Nam đă yêu cầu Hoa Kỳ cung cấp các bộ phận rời cho các trực thăng do Hoa Kỳ sản xuất mà Việt Nam hiện có trong tay. Đây là những trực thăng c̣n để lại sau cuộc chiến tranh Việt Nam. Hai chính phủ cũng thảo luận về chuyện để quân đội Việt Nam tham gia vào lực lượng Liên Hiệp Quốc bảo vệ ḥa b́nh và việc quân đội Hoa Kỳ giúp đỡ trong các nỗ lực cứu trợ nạn nhân thiên tai tại Việt Nam.

Phụ Tá Trợ Lư Bộ Trưởng Quốc Pḥng Hoa Kỳ James Clad, cũng tham dự các cuộc thảo luận tại Hà Nội, cho hay Hoa Kỳ chỉ muốn phát triển một h́nh thức hợp tác quân sự với Việt Nam y hệt như những hợp tác Hoa Kỳ hiện có với các nước trong khu vực. Ông nói:

"Nếu nói rằng sự hợp tác với Việt Nam có một tính cách rất song phương nào đó th́ điều này không đúng. Chúng tôi hiện có những trao đổi thường lệ với Malaysia, Indonesia, Philippines và Thái Lan, và tôi nghĩ rằng là một quốc gia lớn trong khối ASEAN, Việt Nam cũng sẽ ngày càng có những trao đổi với chúng tôi như các nước vừa kể."

 

Các chuyên gia thường coi mối quan hệ an ninh gia tăng giữa Hoa Kỳ và Việt Nam như một nỗ lực của cả hai nước nhằm tạo thế cân bằng trước sức mạnh ngày càng phát triển của Trung quốc. Trung Quốc và Việt Nam đang có tranh chấp về chủ quyền của hai dăy đảo nằm trong biển Đông có thể có những trữ lượng dầu hỏa đáng kể.

Tuy nhiên, Phụ Tá Trợ Lư Bộ Trưởng Quốc Pḥng Hoa Kỳ James Clad nói rằng Hoa Kỳ muốn Việt Nam và Trung Quốc có quan hệ tốt với nhau để củng cố t́nh trạng ổn định trong khu vực.

Ông Martin Gainsborough, một chuyên viên về vấn đề Việt Nam của Viện Đại Học Bristol tại Anh nói rằng các cuộc thảo luận này mang lại những hứa hẹn cho Việt Nam, nhưng cũng có thể mang lại những rủi ro về chính trị tại Việt Nam. Ông giải thích:

"Điều này có nghĩa là cá nhân các giới lănh đạo tại Việt Nam phải rất thận trọng về cuộc đối thoại này để đừng tỏ ra là quá thiên về phía Hoa Kỳ. V́ mối quan hệ với Trung Quốc, họ phải rất thận trọng về điều này."

 

Việt Nam và Hoa Kỳ hy vọng các cuộc thảo luận này sẽ được thực hiện hàng năm. Cuộc gặp gỡ kỳ tới được dự trù diễn ra tại thủ đô Washington mùa thu năm 2009.

 

AVOCAT DU DIABLE

 

Chúng ta nhớ lại, khi tranh luận với Ngoại Trưởng Kissinger về hiệp định Paris, Tổng Tống Thiệu đă gọi Kissinger là “Avocat du diable”, tức kẻ biện hộ cho qủy sứ. Nay lịch sử lại tái diễn. Để yểm trợ cho chiến thuật “diễn biến hoà b́nh”, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ cũng đang đóng vai tṛ của Kissinger.

Hôm 19-9-2008, Bộ Ngọai giao Hoa Kỳ đă công bố bản phúc tŕnh thường niên về tự do tôn giáo thế giới, trong đó Bộ này đă bênh vực cho CSVN:

Bản phúc tŕnh viện dẫn một số tiến bộ như Việt Nam đă gia tăng việc thực hiện khuôn khổ pháp lư về tôn giáo được đề ra hồi các năm 2004, 2005, chính phủ đă công nhận thêm một số Giáo Hội, cho phép đăng kư thêm 4 giáo phái Tin Lành.

Phúc tŕnh cũng ghi nhận việc Ban Tôn Giáo Chính Phủ đă tổ chức một số chương tŕnh đào tạo tu sĩ (quốc doanh!) cũng như giúp các chính quyền địa phương thực hiện khuôn khổ pháp lư tôn giáo vừa nói.

Lên tiếng tại một buổi thuyết tŕnh về bản phúc tŕnh này, ông John Hanford, Đại sứ lưu động đặc trách Văn Pḥng Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế thuộc Bộ Ngoại Giao giải thích lư do Bộ Ngoại Giao cảm thấy Việt Nam đáng được rút tên khỏi CPC, tức danh sách những nước cần quan tâm đặc biệt về hành động đàn áp tôn giáo. Đại ư ông Hanford cho biết đă chứng kiến t́nh h́nh tôn giáo ở Việt Nam có thay đổi trong vài năm qua, mà theo kinh nghiệm của ông, là một diễn tiến vượt bực chỉ trong giai đọan khoảng 2-3 năm của nhà nước đương nhiệm.

Ông Hanford viện dẫn rằng vào lúc ông bắt đầu đảm nhận chức vụ như hiện giờ, nhiều nơi ở VN đă xảy ra t́nh trạng hàng chục ngàn tín đồ bị cưỡng bức từ bỏ Đức Tin, cả ngàn cơ sở thờ phượng bị đóng cửa, hàng chục trường hợp tù nhân tôn giáo.

Nhưng hiện giờ, những chính sách như vậy đă thay đổi. Nhà nước Việt Nam đề ra các luật lệ mới về tôn giáo, cho mở cửa lại đa số những nơi thờ phượng từng bị cấm cản, và bắt đầu cho đăng kư các giáo phái mà trước đây không có, hay bị đặt ra ng̣ai ṿng pháp luật.

Sau đó ông nói vớt lại: Mặc dù khuynh hướng tôn giáo ở VN đang trong chiều hướng tích cực, nhưng nó diễn ra tŕ chậm hơn mong đợi. Ông tin rằng chính phủ VN, ở cấp cao, đă quyết định mở rộng thêm tự do tôn giáo cùng hoạt động hành đạo của tín đồ.

Bản phúc tŕnh của Bộ Ngọai Giao cũng khẳng định rằng hiện vẫn c̣n nhiều vấn đề tôn giáo nghiêm trọng ở Việt Nam. Theo đó, chính quyền tiếp tục không cho nhiều Hội Thánh Tin Lành đăng kư, các quan chức tiếp tục gây rắc rối, nhất là hù dọa, hành hung các tín đồ.

Giới chức VN tiếp tục áp dụng những biện pháp hạn chế gắt gao đối với Giáo Hội Phật Giáo VN Thống Nhất, các tôn giáo khác như Cao Đài, Ḥa Hảo, những Hội Thánh Tin Lành ở Tây Nguyên, giữa lúc một số chính quyền địa phương không thực hiện khuôn khổ pháp lư về tôn giáo đă được trung ương đề ra. Bản phúc tŕnh đặc biệt lưu ư rằng trong khi hiến pháp VN có quy định về tự do tôn giáo, nhưng nhà nước tiếp tục áp dụng những biện pháp hạn chế hoạt động tôn giáo tại VN.

Nh́n chung, bản phúc tŕnh đặc biệt quan tâm đến hoạt động của các giáo Tin Lành tại Việt Nam, muốn cho các giáo phái này được hoạt động rộng răi hơn, trong khi đó nhà cầm quyền Việt Nam lại tỏ ra nghi ngờ đối với các giáo phái này.

Ủy Ban Hoa Kỳ Về Tự Do Tôn Giáo Thế Giới thuộc Quốc Hội Mỹ USCIRF lại bày tỏ quan ngại rằng Bộ Ngọai Giao đă không đưa bất kỳ nước nào vào danh sách những xứ cần quan tâm đặc biệt về hành động đàn áp tôn giáo kể từ tháng 11 năm 2006 – là năm mà Bộ Ngọai giao Hoa Kỳ xóa tên Việt Nam khỏi danh sách CPC. Hồi tháng 5 vừa rồi, Ủy Ban đă gởi văn thư cho Ngọai trưởng Mỹ Condoleezza Rice, tiếp tục đề nghị bà, trong phạm vi quyền hạn, hăy đưa 11 quốc gia vào danh sách CPC, trong đó có Việt Nam. Theo Ủy Ban, việc Bộ Ngọai giao Mỹ xóa tên Việt Nam khỏi CPC hồi năm 2006 là quá sớm và không cơ sở.

 

TRỞ THÀNH ANH HAI CÁN BỘ

 

Cũng để thực hiện chủ trương “diễn biến hoà b́nh” như trên, càng ngày Anh Hai càng ngày càng từ bỏ vai tṛ Anh Hai Chống Cộng và Anh Hai Nhân Quyền, và trở thành Anh Hai Cán Bộ. Đại Sứ Michael Michalak là một thí dụ điển h́nh.

Nhân dịp Đại Sứ Michael Michalak ở Việt Nam trở về Washington, hôm 9.10.2008, Thanh Trúc, Trà Mi và Nguyễn Khanh của đài Á Châu Tự Do đă mở cuộc phỏng vấn liên quan đến nhiều vấn đề như giáo dục, Dioxin, nhân quyền, hợp tác quân sự Việt – Mỹ, Trung Quốc, Thái Hà. V́ bài báo có hạn, chúng tôi xin ghi lại bốn vấn đề chính là nhân quyền, hợp tác quân sự Việt – Mỹ, Trung Quốc và Thái Hà.

 

1.- Vấn đề Nhân Quyền

 

Nguyễn Khanh: Lúc năy ông Đại Sứ bảo một trong những mục tiêu hàng đầu mà ông muốn thực hiện ở Việt Nam là nhân quyền. Liệu có thể xin ông Đại Sứ cho biết t́nh trạng nhân quyền ở Việt Nam bây giờ như thế nào?

Đại Sứ Michalak: Được chứ. Về nhân quyền, tôi nghĩ ở Việt Nam nhiều quyền tự do cá nhân vẫn c̣n thiếu, như tự do tập họp, tự do báo chí, tự do phát biểu tư tưởng. Dù nói vậy nhưng tôi cũng tin rằng nếu so với 5 năm trước đây th́ bây giờ người Việt được tự do hơn nhiều và chúng tôi sẽ tiếp tục làm việc với chính phủ Việt Nam qua chương tŕnh Đối Thoại Nhân Quyền Hàng Năm, qua các chương tŕnh viện trợ kinh tế, và những chương tŕnh khác. Chúng tôi cũng sẽ tiếp tục đặt vấn đề nhân quyền với chính phủ Việt Nam, và tiếp tục kêu gọi Việt Nam cải tiến trong lănh vực này.

 

Nguyễn Khanh: Không muốn ông Đại Sứ ở vào thế khó xử, nhưng giữa thang điểm tốt, trung b́nh và xấu, ông Đại Sứ đánh giá t́nh trạng nhân quyền Việt Nam hiện giờ ở mức điểm nào?

Đại Sứ Michalak: Không, xin lỗi, tôi không cho điểm.

 

2.- Hợp tác quân sự Việt-Mỹ

 

Nguyễn Khanh: Tuần trước ở Hà Nội, cuộc Đối Thoại về Chính Trị, An Ninh và Quốc pḥng giữa hai chính phủ đă diễn ra. Muốn hỏi ông Đại Sứ những điểm ǵ đă được đưa ra bàn thảo?

Đại Sứ Michalak: Chúng tôi thảo luận với nhau về nhiều vấn đề. Cuộc đối thoại diễn ra trong lúc tôi lại có mặt ở Mỹ, nên tôi không biết rơ các chi tiết, nhưng tôi được biết là những đề tài như Việt Nam tham gia vào lực lượng bảo vệ ḥa b́nh toàn cầu đă được nói đến, v́ Việt Nam bây giờ là hội viên không thường trực của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, nên đương nhiên mọi người đều nghĩ Việt Nam sẽ có trách nhiệm hơn, như gửi quân tham gia vào Lực Lượng Bảo Vệ Ḥa B́nh.

Nhưng trước khi điều này xảy ra, c̣n có nhiều điều khác liên quan đến mặt kỹ thuật phải được bàn đến, chẳng hạn như chuyện huấn luyện cho binh sĩ Việt Nam. Chúng tôi đă bàn thảo những cách để thực hiện.

Chúng tôi cũng thảo luận với nhau về cách hợp tác giữa quân đội đôi bên trong các công tác cứu hộ khi thiên tai xảy ra, cũng như những vấn đề khác nữa. Chúng tôi tin là cuộc thảo luận thành công, và trông đợi ṿng thảo luận kế tiếp.

 

Nguyễn Khanh: Sau cuộc thảo luận, có tin đồn ở Đông Nam Á nói rằng chẳng bao lâu nữa Việt Nam sẽ nhận được viện trợ quân sự từ Mỹ. Thưa ông Đại Sứ điều này có đúng không?

Đại Sứ Michalak: Không, không đúng. Tôi có thể trả lời ngay cho ông là không đúng đâu. Nhưng cũng c̣n tùy ông định nghĩa thế nào là viện trợ quân sự. Rơ ràng điều hai bên thảo luận với nhau vừa rồi cũng là một h́nh thức viện trợ.

Tôi nghĩ rằng bất kể viện trợ như thế nào th́ cũng phải có sự đồng thuận của cả hai bên. Trong thời gian gần đây, hỗ trợ mà chúng tôi đồng ư với nhau nằm trong chương tŕnh hợp tác cứu hộ chung, hay nằm trong chương tŕnh huấn luyện tiếng Anh cho binh sĩ Việt Nam.

Nếu tôi nhớ không lầm th́ có một số sĩ quan Việt Nam đang theo học chương tŕnh dạy tiếng Anh này, dù không nhiều nhưng cũng là cơ hội để giúp hai bên có thể nói chuyện với nhau và mở rộng quan hệ. Chúng tôi chủ trương đi từng bước một, và đó là bước đầu tiên.

 

3.- Vấn đề Trung Quốc

 

Nguyễn Khanh: Ông Đại Sứ là một chuyên gia về Trung Quốc, có khi nào Việt Nam xin ông Đại Sứ đóng góp ư kiến không?

Đại Sứ Michalak: Có, chính phủ Việt Nam nhờ chúng tôi đóng góp ư kiến về rất nhiểu lănh vực. Có, chúng tôi có nói chuyện với nhau về Trung Quốc, v́ đây là quốc gia lớn nhất trong khu vực và chúng tôi cũng chia sẻ với nhau quan điểm, kể cả quan điểm liên quan đến Trung Quốc. Có, chúng tôi có nói chuyện với nhau về Trung Quốc.

 

Nguyễn Khanh: Liệu có thể xin ông Đại Sứ chia sẻ một trong những đề nghị, ư kiến, ông đă tŕnh bày với chính phủ Việt Nam không?

Đại Sứ Michalak: Không, tôi không thể chia sẻ với ông được. Tôi chỉ có thể nói là chúng tôi thảo luận với nhau về nhiều chuyện, từ kinh tế đến chính trị.

 

4.- Vấn đề Thái Hà

 

Trà Mi: Về căng thẳng tranh chấp đất đai giữa Giáo hội Công Giáo với chính quyền tại Việt Nam. Quan điểm của ông đại sứ như thế nào?

Đại Sứ Michalak: Vâng, chúng tôi biết rằng có rất nhiều vụ tranh chấp đất đai đang diễn ra tại Việt Nam. Theo tôi, đất đai là một trong những vấn đề phức tạp nhất và nhạy cảm nhất tồn tại ở Việt Nam hiện giờ, đặc biệt là vấn đề tranh chấp đất đai liên quan đến Giáo Hội Công giáo.

Và chúng tôi vẫn tiếp tục theo dơi t́nh h́nh, không phải là đối với vấn đề tranh chấp đất đai, v́ chúng tôi không đứng về phía nào trong việc này, mà chúng tôi theo dơi để đảm bảo là quyền tụ tập ôn hoà và bày tỏ quan điểm của công dân được tôn trọng.

Trên thực tế, có trường hợp được tôn trọng, nhưng cũng có trường hợp không, và lúc ấy th́ chúng tôi sẽ t́m cách nêu vấn đề lên với chính quyền Hà Nội.

 

Trà Mi: Chúng tôi biết rằng mới đây ông đại sứ có cuộc tiếp xúc trực tiếp với Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt của Hà Nội. Ông đại sứ có thể chia sẻ thông tin ǵ liên quan đến cuộc gặp này không?

Đại Sứ Michalak: Tôi và Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt đă có một buổi gặp gỡ tốt đẹp. Chúng tôi bàn về tự do tôn giáo tại Việt Nam. Đức TGM nhận xét rằng rơ ràng có những tiến bộ trong lĩnh vực tự do tôn giáo ở Việt Nam mặc dù vẫn c̣n một số vấn đề cần phải giải quyết.

Chúng tôi cũng trao đổi về vấn đề tranh chấp đất đai đang diễn ra, và Đức TGM cũng cho chúng tôi biết quan điểm của Ngài về chuyện này. Chúng tôi nói với Ngài rằng chúng tôi sẽ tiếp tục theo dơi diễn tiến t́nh h́nh, nhưng cố gắng không đứng về phía nào trong vấn đề tranh chấp đất đai.

 

Trà Mi: Nói một cách cụ thể hơn, cộng đồng Công Giáo Việt Nam có dấu hiệu hy vọng ǵ sau cuộc gặp gỡ này không, thưa ông đại sứ?

Đại Sứ Michalak: Tôi không nghĩ vậy, tôi không thấy có lư do ǵ để hy vọng v́ tất cả những ǵ tôi nói với Đức TGM là chúng tôi sẽ tiếp tục thúc giục chính quyền Việt Nam cũng như chính Đức TGM rằng đôi bên nên t́m cách giải quyết vấn đề một cách ôn hoà, càng sớm càng tốt.

 

Trà Mi: Ông đại sứ có cách nào hữu hiệu hơn giúp cải thiện t́nh h́nh hiện tại không, thưa ông?

Đại Sứ Michalak: Chúng tôi chỉ có thể tiếp tục làm những ǵ mà chúng tôi đang làm. Nghĩa là điều duy nhất mà chúng tôi có thể làm là thúc giục đôi bên ngồi xuống bàn đàm phán và cùng nỗ lực t́m ra một giải pháp ôn hoà.

 

CHỌN CON ĐƯỜNG CHO M̀NH

 

Từ ngày qua Mỹ đến nay, trăm sự người Việt tỵ nạn đều trông chờ vào Anh Hai, giống như gái 12 bến nước, trong nhờ đục chịu.

Để “giải phóng quê hương” người Việt chống cộng đă tôn Anh Hai lên làm “Anh Hai Nhân Quyền” và “Anh Hai Chống Cộng” với tin tưởng rằng Anh Hai sẽ đem dân chủ và nhân quyền đến trên quê hương Việt Nam.

Mỗi lần thằng Việt Cộng lộn xộn, không chịu thực hiện những điều Anh Hai muốn, các dân biểu Hoa Kỳ thường mời người Việt tỵ nạn đến tŕnh bày tội ác của Việt Cộng, nhất là những bằng chứng về vi phạm nhân quyền. Và mỗi lần những người tranh đấu ở trong nước lâm cảnh khó khăn v́ bị đàn áp, người Việt lại đến gặp các vị dân cử Mỹ hay Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ để nhờ can thiệp.

Hơn nữa, mỗi lần thấy Anh Hai định “giao liu” với Việt Cộng, người Việt tỵ nạn đều lên tiếng yêu cầu Anh Hai phải đặt điều kiện buộc nó phải tôn trọng tự do dân chủ ở Việt Nam mới chơi với nó.

Tiến tŕnh trên được thực hiện liên tục trong suốt 33 năm. Tuy nhiên, nếu tổng kết lại, chúng ta thấy Anh Hai chỉ dùng những nỗ lực của người Việt tỵ nạn để phục vụ quyền lợi của Anh Hai chứ không phải để chống cộng hay để đem dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam. Cái nào phù hợp với quyền lợi của Anh Hai, anh hai “xài”. Cái nào không phù hợp, anh Hai phớt lờ đi.

Năm 2006, khi Quốc Hội Hoa Kỳ thảo luận về “Quy Chế Thương Mại B́nh Thường Vĩnh Viễn cho Việt Nam” (PNTR) với hai dự luật khác nhau, dự luật S.3495 ở Thượng Viện và dự luật HR.5602 ở Hạ Viện, người Việt đă đ̣i hỏi Quốc Hội phải kèm theo quy chế này các điều khoản về nhân quyền như quyền tự do tôn giáo, tự do thông tin, quyền của người lao động, quyền giao lưu văn hóa phẩm hai chiều trong nguyên tắc công bằng... của quy chế WTO. Nhưng khi quy chế nói trên được ban hành, người Việt không thấy những đ̣i hỏi này đâu cả.

Năm ngoái, do sự vận động của người Việt, Dân Biểu Chris Smith thuộc đảng Cộng Ḥa, đại diện tiểu bang New Jersey, lại đệ tŕnh một dự luật Nhân Quyền Cho Việt Nam khác thay thế các dự luật nhân quyền trước đó đă bị để cho ch́m xuồng, đó là dự luật HR. 3096 nhằm lên án sự vi phạm nhân quyền tại VN và kềm chế tăng cường viện trợ không nhân đạo cho chính quyền VN trừ khi nhận thấy rằng chính quyền VN có những cải thiện nhân quyền, thả các tù nhân chính trị và tôn giáo, tôn trọng các quyền tư do tôn giáo, tự do ngôn luận, trả lại các tài sản chiếm đoạt của người dân VN... Dự luật HR 3096 đă được Hạ Viện thông qua ngày 18.9.2007 nhưng lại đang bị kẹt ở Thượng Viện như các dự luật trước và nhiều người tiên đoán rồi nó cũng sẽ bị “ch́m xuồng” thôi, v́ nó không hợp với đường lối của Anh Hai hiện nay.

Trong thời gian chiến tranh lạnh, Á Châu có ba tiền đồn chống cộng của thế giới tự do là Đài Loan, Nam Hàn và VNCH. Sau chiến tranh lạnh, Đài Loan và Nam Hàn bắt chước Mỹ và các quốc gia Tây Phương, đi theo phương châm của Bá Tước Palmerston “no permanent allies or enemies, only permanent interests”, và đă trở thành những con rồng của Á Châu.

Người Việt tỵ nạn vốn theo chủ trương “trước sau như một”, tiếp tục trông chờ vào Anh Hai. Nhưng ngày nay, v́ những quyền lợi trước mắt, Anh Hai đang tự biến ḿnh thành Cán Bộ. Vậy người Việt chống cộng phải chọn con đường thích hợp cho ḿnh, nếu không sẽ bị bỏ lại đàng sau.

 

Lữ Giang