32 năm nh́n lại
Tú Gàn
Saigon Nhỏ ngày 27.4.2007
www.motgoctroi.com
Tính đến ngày 30 tháng tư này, người Việt đă lưu
vong trên đất Mỹ 32 năm. Nhưng nếu t́nh từ ngày Miền Nam
hợp tác với Mỹ để chống cộng đến nay là đă 52 năm.
Ngồi đọc lại vài chục ngàn trang tài liệu về chiến
tranh Việt Nam từ 1954 đến 1975 do chính phủ Hoa Kỳ giải
mă, chúng ta khám phá ra rất nhiều bí ẩn lịch sử mà
chúng ta chưa từng biết đến, kể cả vụ làm đảo chánh lật
đổ và giết Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm năm 1963 đến vụ mất
miền Nam năm 1975. Mặc dầu c̣n một số văn kiện chưa được
công bố, nhưng với chừng đó tài liệu, chúng ta cũng có
thể hiểu được người Mỹ đă đi vào cuộc chiến Việt Nam như
thế nào, điều hành cuộc chiến đó ra làm sao, và tại sao
họ đă quyết định số phận của miền Nam nghiệt ngả như thế,
v.v...
ANH HAI NHÂN QUYỀN!
Nếu nói vể cơ hội để biết và hiểu người Mỹ cũng như
chính sách của chính quyền Mỹ, có lẽ không ai bằng người
Việt lưu vong, v́ họ đă chiến đấu với người Mỹ 20 năm và
đă sống trên đất Mỹ 32 năm. Thời gian 52 năm đồi với
lịch sử không nghĩa lư ǵ, nhưng đối với đời người, đó
là một khoảng thời gian khá dài và đủ để rút ra được
nhiều bài học.
Gần như người Việt nào cũng thuộc câu “Tri bỉ
tri kỷ, bách chiến bách thắng”, tức biết người
biết ḿnh trăm trận trăm thắng, và một số người Việt lưu
vong c̣n gọi chính quyền Mỹ là “Siêu Cộng Sản”,
nên chúng ta tưởng họ đă biết khá rơ người Mỹ, nhưng
nh́n lại cuộc đấu tranh chống cộng của người Việt lưu
vong trong suốt 32 năm qua, chúng ta nhận thấy rất nhiều
người và nhiều tổ chức chưa hiểu về người Mỹ và chính
sách của Mỹ từng giai đoạn một cách chính xác.
Thế giới đă đổi thay và đang tiến tới giai đoạn toàn
cầu hoá, vượt qua biên giới của nước nọ nước kia, nhưng
nhiều người Việt đấu tranh vẫn cứ tưởng thế giới đang ở
trong thời kỳ chiến tranh lạnh. Họ vẫn coi chính quyền
Mỹ là ANH HAI CHỐNG CỘNG và ANH HAI NHÂN QUYỀN,
nên nhât định tiếp tục lội ngược ḍng.
Tuần này, nhân kỷ niệm 32 năm ngày mất nước, chúng
tôi xin ghi lại dưới đây một số sự thật lịch sử với ước
mong những người đang chống cộng có thể rút ra được
những bài học lịch sử.
CHUYỆN TỔNG LĂNH SỰ FRANCIS
Trong cuốn “Can trường trong chiến bại, hành
tŕnh của một thủy thủ” mà chúng tôi đă giới
thiệu kỳ trước, ở Chương 26, Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại
có kể lại rằng sau khi rút khỏi Đà Nẵng, ông đưa hải đội
về đến Vũng Tàu rồi dùng trực thăng về tŕnh diện Đô Đốc
Chung Tấn Cang và làm phúc tŕnh về cuộc hành quân vừa
qua. Sau đó ông được chỉ định ra Vũng Tàu thay thế Phó
Đề Đốc Vũ Đ́nh Đào đang đi chỉ huy lực lượng Hải Quân
tại Phan Rang. Trong thời gian đó, một vài sự kiện lạ
xẩy ra đă làm ông ngạc nhiên. Trước hết là chuyện Tổng
Lănh Sự Đà Nẵng Albert Francis muốn gặp ông. Ông kể lại
câu chuyện này như sau:
“Trước khi tôi về Sài G̣n để tŕnh diện Đô Đốc Chung
Tấn Cang, ông Albert Francis, Tổng Lảnh Sự Hoa Kỳ Đà
Nẵng, có đến nhà Đại Tá Nguyễn Xuân Sơn tại khu sĩ quan
Hải Quân nhờ Đại Tá Sơn trao lại cho tôi ba hộp thuốc
Amphora, loại cho ống vố, mà ông Francis biết tôi rất
thích. Ông nhắn với Đại Tá Sơn là khi tôi về Sài G̣n
phải liên lạc ngay với ông.
Khi tôi gọi điện thoại cho ông tại Ṭa Đại Sứ Hoa Kỳ
th́ ông mời tôi lên văn pḥng ông nói chuyện chơi. Khi
tôi tới pḥng khách Ṭa Đại Sứ th́ tôi gặp ông Lê Văn
B́nh, nhân viên ṭa Tổng Lănh Sự Hoa Kỳ ở Đà Nẵng đang
ngồi tại đó. Một lúc sau ông Francis ra pḥng khách gặp
tôi và đưa tôi vào thang máy lên luôn tới nóc Ṭa Đại
Sứ. Trên đó có một trực thăng của Air America, có phi
hành đoàn ngồi chờ sẵn trong phi cơ.
Tôi không hiểu chuyện ǵ hết. Ông Francis đă biết
tôi thắc mắc nhưng vẫn không nói ǵ hết mà lại ra dấu
hiệu cho tôi lên trực thăng. Khi chông chóng trực thăng
quay, tiếng rất ồn, ông Francis xoay qua tôi từ trên ghế
trực thăng nói qua máy vô tuyến của trực thăng: “Tôi
muốn anh chỉ cho trực thăng biết cái trailer nào vợ con
anh đang ở trong Hải Quân Công Xưởng và một chút nữa
chúng ta sẽ bay ra Vũng Tàu, tôi muốn anh chỉ cho phi
công từ trên nh́n xuống chỗ nào là văn pḥng làm việc
của anh.” Lúc bấy giờ tôi mới hiểu ư ông Francis, một
người đă đến phút chót vẫn t́m mọi cách giúp tôi.
Khi trực thăng bay trên Hải Quân Công Xưởng tôi chỉ
trailer vợ con tôi đang ở, ông Francis nói là tốt lắm v́
kế bên đó có sân quần vợt nên trực thăng sẽ đáp dễ dàng.
Khi chúng tôi bay từ Sài G̣n ra Vũng Tàu, nh́n xuống
thành phố Sài G̣n và cảnh bến tàu, và con sông Ḷng Tảo
mà tôi rất quen thuộc trong thời gian phục vụ trên chiến
hạm, con sông mà tôi thuộc ḷng từng khúc quanh, từng
lùm cây mà tôi thường quan sát từ chiến hạm, sợ nơi địch
có thể đặt súng bắn vào chiến hạm. Đất nước miền Nam sao
mà quen thuộc và dễ thương! Sống hơn 40 năm trên mảnh
đất mà ḿnh lớn lên, lặn lội với đời sống với binh
nghiệp, để rồi đến giờ phút này trên một trực thăng Mỹ
nh́n xuống, ḿnh mới thật sự thưởng thức cái đẹp của quê
hương.
Đến Vũng Tàu, trực thăng bay lượn trên căn cứ Hải
Quân Cát Lỡ, tôi chỉ văn pḥng làm việc của tôi và của
Phó Đề Đốc Vũ Đ́nh Đào cho phi công và ông Francis.
Chiều hôm đó tôi trở ra Vũng Tàu để chỉ huy các đơn
vị Vùng I Duyên Hải di tản vào Nam. Vài ngày sau tôi
được tin từ Đại Tá Sơn ở Bộ Tư Lệnh Hải Quân cho biết là
ông bà Francis đă được lệnh rời Việt Nam...
HAI NGƯỜI BÍ MẬT...
Ngày 26 tháng 4, tôi đến Bà Rịa mượn trực thăng của
Tướng Hinh và bay ra biển để xem t́nh h́nh ngoài khơi
Vũng Tàu. Phía ngoài xa khoảng 6 tới 10 hải lư th́ rất
nhiều chiến hạm Mỹ sẵn sàng nhưng không nhận ai cả lên
chiến hạm. Trong lănh hải th́ có một số chiến hạm Việt
Nam hải hành tới lui chờ lệnh. Gần bờ hơn th́ thấy mấy
trăm chiếc ghe chở đầy người những ở sát bờ và không ghe
nào đi đâu cả. Một cảnh tượng hết sức cảm động cho thấy
các người trên các ghe này đă sẵn sàng nhưng không muốn
rời bỏ xứ sở nếu quân đội c̣n giữa được quê hương của
họ, họ chờ tới phút chót khi không c̣n hy vọng ǵ nữa họ
mới khởi hành. Ngày 29 tháng 4, quân đội Bắc Việt bắt
đầu tấn công Vũng Tàu th́ các ghe này bắt đầu chạy ra
các chiến hạm của Đệ Thất Hạm Đội Mỹ.
Chiều ngày Chúa Nhật 27 tháng 4, Trung Tướng Nguyễn
Văn Toàn, Tư Lệnh Quân Đoàn 3, đi cùng Đại Tá Tạo, Tỉnh
Trưởng Vũng Tàu, đến căn cứ Hải Quân Cát Lở thăm tôi.
Sau đó Tướng Toàn mời tôi lên xe Jeep chính ông lái để
cùng đi với ông mà ông không nói với tôi ông sẽ đi đâu.
Xe chạy một lúc lâu th́ ngừng lại trước một nhà riêng
sát bờ biển. Trước khi xuống xe, Tướng Toàn xoay qua tôi
và nói: “Anh Thoại, tôi có hai người thân nhất của tôi,
đến giờ phút này tôi chỉ nhờ anh một việc cuối cùng xin
anh giúp tôi, v́ tôi và anh không biết c̣n gặp nhau nữa
không. Nếu anh có phải ra đi th́ anh cho hai người này
đi theo anh, tôi sẽ mang ơn anh lắm.” Giọng nói rất buồn
của Tướng Toàn làm cho tôi đoán c̣ lẽ là cha mẹ của ông,
v́ nếu chỉ có hai người th́ không thể là vợ con được.
Ông Toàn và tôi bước vào nhà, tôi chuẩn bị tư tưởng
nhưng không cách nào đoán được hai người đó là ai. Khi
vào trong, nh́n ra cửa ngó ra biển có hai người mà tôi
chỉ thấy từ phía sau, ngối trên ghế xếp bằng vải bố,
đang nh́n ra biển. Khi nghe tiếng ông Toàn, hai người
này đứng dậy quay lại phía chúng tôi, tôi bị bất ngờ v́
không đoán trước được, đó là cựu Tướng Hoàng Xuân Lăm
và Chuẩn Tướng Phan Hoà Hiệp mà tôi đă từng phục
vụ chung ở Quân Khu I, cả hai thuộc binh chủng thiết
giáp. Ông Toàn biết tôi rất thân với Tướng Lăm và Hiệp
nhưng muốn làm cho tôi bị bất ngờ. Tướng Lăm và Hiệp
cùng rời Vũng Tàu với tôi trên cơ xưởng hạm Vĩnh Long
trong ngày cuối cùng.
NHỮNG TIẾNG NỔ BẤT THƯỜNG
Tối đêm 28 tháng 4, 1975, tại căn cứ duyên đoàn ở
Vũng Tàu, Thiếu Tướng Nguyễn Duy Hinh, Chẩn Tướng Trần
Văn Nhựt và tôi, đang bàn tính việc phối trí lực lượng
và duyệt xét t́nh h́nh địa phương, th́ có một quân xa
chở một sĩ quan cấp tá Không Quân vào căn cứ duyên đoàn
xin gặp tôi.
Vị sĩ quan không quân vào duyên đoàn lúc tôi và các
tướng lănh đang ngồi ngoài sân sau căn cứ. Vị này cho
biết hiện có một số trực thăng đang đậu ở phi trường
Vũng Tàu, trong đó có Chuẩn Tướng Huỳnh Bà Tính,
Sư Đoàn Trưởng Sư Đoàn 3 Không Quân đóng tại Biên Hoà.
Vị đại diện này hỏi chúng tôi có cho phép vị Chuẩn Tướng
này đến gặp được không để ông ấy tŕnh bày một sự việc
quan trọng.
Tôi nói với sĩ quan này là tại sao ông lại quá cẩn
thận, cùng là tướng lănh với nhau sao lại có vụ xin gặp.
Tôi nói với ông ta trở ra phi trường mời Chuẩn Tướng
Tính và các sĩ quan trong phái đoàn cứ vào gặp chúng
tôi.
Độ nửa tiếng sau, một quân xa chở Chuẩn Tướng Tính
vào kể chuyện xẩy ra tại căn cứ Sư Đoàn 3 Không Quân với
vẻ mặt rất bi thảm. Ông không biết lệnh từ đâu mà bổng
nhiên một số phi cơ phát nổ, sau đó được biết có lệnh
của Saigon cho phá hủy các phi cơ của Không Quân.
Chuẩn Tướng Tính phân vân không biết phải làm ǵ.
Ông không muốn về tŕnh diện Bộ Tư Lệnh Không Quân khi
ông không biết chắc ai ra lệnh phá nổ phi cơ thuộc Sư
Đoàn của ông.
Tướng Hinh, Nhật và tôi đều đồng ư Chuẩn Tướng Tính
phải nói chuyện thẳng với Trung Tướng Trần Văn Minh, v́
dù sao sự thật vẫn là sự thật. Chúng tôi thuyết phục
Tướng Tính một lúc lâu th́ Tướng Tính đồng ư. Tôi bắt
điện thoại gọi vể Bộ Tư Lệnh Không Quân và tôi nói với
Trung Tướng Trần Văn Minh, Tư Lệnh Không Quân rằng Tướng
Tính hiện có mặt tại căn cứ duyên đoàn ở Vũng Tàu có
chuyện cần nói với ông.
Tướng Minh hết sức ngạc nhiên v́ sao Tướng Tính lại
đang ở Vũng Tàu. Tôi trao điện thoại cho Tướng Tính nói
chuyện với Tướng Minh. Hai người nói chuyện rất lâu.
Theo câu chuyện Tướng Tính kể và những câu trả lời của
ông này với Tướng Minh, th́ tôi có thể đoán là lệnh phá
hủy phi cơ không phải từ Tướng Minh. Hai người đang nói
chuyện th́ tôi nghe Tướng Tính nói: “Thôi, chào Trung
Tướng!” Tướng Tính quay lại chúng tôi và nói Trung Tướng
Minh phải ngưng nói chuyện v́ dịch bắt đầu pháo vào Tân
Sơn Nhứt.
RA KHƠI LẦN CUỐI
Sáng hôm sau, địch pháo kích và tấn công vào thị xă
Vũng Tàu. Đại Tá Nguyễn Công Hội, vị Tư Lệnh Phó của
tôi, từ chiến hạm ngoài khơi, thi hành trách vụ cuối
cùng của đời hải nghiệp của ông là chỉ thị một khinh tốc
đỉnh PCF (Swift) vào một cái ponton (cầu nổi nhỏ của
hăng RMK) neo ở giữa sông mà địch đang pháo vào bằng
súng cối 60 ly từ bên kia sông, trên ponton đó chỉ có
hai quân nhân, tôi và tướng Trần Văn Nhựt, một “cọp
biển” và là “người hùng An Lộc”, để rước và đưa chúng
tôi lên chiến hạm Vĩnh Long HQ 802 để ra khơi lần cuối
của đời binh nghiệp của chúng tôi.
Ngày 30 tháng 4, 1975, sau khi nghe đài phát thanh
truyền lịnh của Tổng Thống Dương Văn Minh ra lệnh cho
Quân Đội bỏ súng, Đô Đốc Chung Tấn Cang, Tư Lệnh Hải
Quân cuối cùng, đích thân chỉ huy Hạm Đội Việt Nam Cộng
Hoà, gồm khoảng 26 chiến hạm, hải hành trực chỉ căn cứ
Hải Quân Hoa Kỳ tại Subic Bay, Phi Luật Tân, trong trật
tự và kỷ luật theo đúng truyền thống của quân chủng.”
CŨNG ANH HAI CHỐNG CỘNG LUÔN!
Một vài câu chuyện nhỏ được Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ
Thoại kể lại một cách trung thực trong cuốn “Can
trường trong chiến bại” cho chúng ta thấy Anh
Hai Chống Cộng đă tiên liệu mọi thứ và mọi chuyện đă xẩy
ra như Anh Hai đă tiên liệu. C̣n sau hậu trường th́ sao?
Câu trả lời cũng rất đơn giản: Anh Hai Chống Cộng quyết
định luôn!
Trong cuốn “Decent Interval” ở trang
382 và 383, Frank Snepp, một phân tinh viên của CIA ở
Saigon lúc đó, đă ghi lại những kế hoạch mà các viên
chức Hoa Kỳ ở Sài G̣n phải làm sau khi Tổng Thống Thiệu
phải từ chức như sau:
“As I was busy at my typewriter, Polgar closeted
himself with other Station officers to discuss aways of
assuring a rapid transfer of power. Once Thieu was out,
Vice-President Tran Van Huong must be prepared to give
place immediatlely to “Big” Minh, and the National
Assembly must be ready to approve the move, so it all
could be done “constitutionally” (Martin’s emphasis) and
“espeditionouly” (the Hungarians’).
Tạm dịch: “Khi tôi đang bận đánh máy bản báo cáo
th́ Polgar ở trong pḥng riêng với các viên chức khác
của Trạm T́nh Báo (Toà Đại Sứ) thảo luận về việc chuyển
giao nhanh quyền hành. Một khi Thiệu từ chức,
Phó Tổng Thống Trần Văn Hương phải trao quyền hành ngay
lập tức cho Minh “Lớn”, và Quốc Hội phải sẵn sàng chấp
thuận sự chuyển giao, để sự chuyển giao đó có
thể được thực hiện “một cách hợp hiến”
(nhấn mạnh của Đại Sứ Martin) và “nhanh chóng”.
Để thúc đẩy Tổng Thống Thiệu ra đi, Đại Sứ Martin đă
đến gặp ông ta và nói rằng ông muốn nói chuyện với tư
cách cá nhân chứ không phải thay mặt Tổng Thống hay Bộ
Ngoại Giao Hoa Kỳ và cũng không phải với tư cách Đại Sứ
Hoa Kỳ. Ông nói rằng t́nh h́nh quân sự cực kỳ xấu và dân
chúng đổ cho ông ta. Những người cùng phe với ông Thiệu
hay phe đối nghịch với ông ta đều nói ông bất lực trong
việc đưa đất nước ra khỏi cuộc khủng hoảng hiện nay. Các
tướng lănh của ông ta, mặc dầu quyết tâm chiến đấu, đều
cho rằng không c̣n hy vọng ǵ nữa nếu không có một cuộc
đàm phán với phía bên kia. Các tướng sẽ yêu cầu ông
ra đi nếu ông không chịu từ chức lúc này. Cuộc nói
chuyện kéo dài một tiếng rưởi. Khi ông từ biệt, ông
Thiệu có nói “ông ta sẽ làm điều mà ông ta nghĩ là có
lợi nhất cho đất nước.” (He would do what he though
was the best for the country).
Ngày 21.4.1975, Tổng Thống Thiệu đă lên hệ thống
truyền thanh và truyền h́nh trong nước tuyên bố từ chức
sau khi chửi Mỹ phản bội.
Sau này khi ra điều trần trước Quốc Hội, khi được
hỏi rằng “Ông đă đóng vai tṛ nào trong việc thúc đẩy
Tổng Thống Thiệu từ chức?”, Đại Sứ Martin trả lời
rằng “Không đóng vai tṛ nào cả”. Lại hỏi rằng
“có khi nào ông Thiệu hỏi ông có nghĩ ông ta phải từ
chức không?”, Đại Sứ Martin nói:
“Có, ông ta có hỏi... Tôi nói với ông ta rằng
đó là điều ông ta phải quyết định tùy theo quyền
lợi của dân chúng Sài G̣n, của toàn thể Việt Nam,
của tất cả những cái mà ông ta đă bảo vệ, và theo t́nh
cảm cũng như văn hoá của người Việt Nam”!
Mục đích của Hoa Kỳ khi đưa Tướng Dương Văn Minh lên
thay Tướng Thiệu là để tuyên bố đầu hàng Cộng Sản,
nhưng để tránh rối loạn có thể xẩy ra trong lúc Hoa Kỳ
thực hiện cuộc di tản, họ phải giả vờ tuyên bố đưa Dương
Văn Minh lên để “nói chuyện với phía bên kia”,
v́ Hà Nội chỉ chịu nói chuyện với Dương Văn Minh chứ
không chịu nói chuyện với Nguyễn Văn Thiệu!
Để làm cho việc “nói chuyện với phía bên kia”
có vẻ thật, sáng 20.4.1975, Đại Sứ Mattin đă đi gặp Đại
Sứ Mérillon của Pháp và xin tiếp một tay. Ông nói với
Đại Sứ Merillon rằng ông được phái bộ CIA cho biết t́nh
h́nh không c̣n cứu văn được. Nếu Hà Nội quyết định đánh
nhanh, không giữ nổi một tháng, dù có bảo vệ tốt. Mặc
dầu Hà Nội muốn chiếm Sài G̣n nguyên vẹn chứ không muốn
thấy Sài G̣n đổ nát, nhưng không nên loại trừ khả năng
thứ hai nếu không đi đến thương lượng. Đại Sứ Mérillon
đă giúp rất tận t́nh trong vấn đề này.
Frank Snepp nói rằng không ai tin đến giờ phút đó
Việt Cộng c̣n chấp nhận đàm phán. Nhưng các chánh khứa
của miền Nam, nhất là “thành phần thứ ba”, vốn có
thói quen suy mghĩ và hành động theo cảm tính như
đa số người Việt chống cộng ở hải ngoại ngày nay, tin
rằng Dương Văn Minh có thể thương lượng được!
Cái khó khăn mà người Mỹ đă gặp phải khi thi hành kế
hoạch của họ sau khi Tổng Thống Thiệu từ chức là ông
Trần Văn Hương không hiểu ǵ về t́nh h́nh, tưởng cờ đă
đến tay nên nhất định đ̣i phất, không chịu trao quyền
lại cho Tướng Dương Văn Minh. Frank Snepp mô tả như sau:
“Tổng Thống mới Trần Văn Hương, 71 tuổi, bị liệt,
gần như mù, thề đứng vững cho đến khi “quân đội bị tiêu
diệt hay là nước mất”! (tr. 396).
Nhưng rồi mọi việc vẫn phải được tiến hành như kế
hoạch đă dự tính. Câu chuyện này rất dài ḍng, chúng tôi
chỉ xin tóm lược như sau:
Do sự thúc đẩy của CIA, ngày 26.4.1975 lưỡng viện
Quốc Hội họp tại Thượng Viện dưới quyền chủ toạ của ông
Trần Văn Lắm, Chủ Tịch Thượng Viện, để đưa Tướng Dương
Văn Minh lên làm Tổng Thống. Có 136 trong số 219 nghị sỉ
và dân biểu đến họp. Sau khi Đại Tướng Cao Văn Viên,
Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực VNCH, và Tướng Nguyễn Khắc
B́nh, Tổng Giám Đốc CSQG tŕnh bày về t́nh h́nh, Quốc
Hội bắt đầu thảo luận về việc trao quyền cho Tướng Dương
Văn Minh. Có rất nhiều sự bất đồng về việc trao quyền,
nhiều người cho rằng sự trao quyền này là bất hợp hiến.
Nhưng các nhóm vận động hậu trường đă hoạt động rất ráo
riết. nên cuối cùng, lúc 20 giờ 54 phút, Quốc Hội đă
biểu quyết chấp thuận trao quyền cho Tướng Dương Văn
Minh với số phiếu 147/151.
Ngày 28.4.1975, Tướng Dương Văn Minh đă nhận chức
Tổng Thống. Chiều hôm đó, lễ bàn giao được diễn ra tại
Pḥng Khánh Tiết, Dinh Độc Lập, lúc 17 giờ 01 phút.
Tướng Minh cử Luật sư Vũ Văn Mẫu thuộc “thành phần thứ
ba” làm Thủ Tướng. Đáng lẽ ra chính phủ Vũ Văn Mẫu làm
lễ ra mắt trong ngày 29.4.1975, nhưng Bắc Sĩ Hồ Văn Minh
coi bói và cho biết ngày 30.4.1975 ra mắt chính phủ mới
tốt, nên cả Tướng Dương Văn Minh lẫn Luật sư Vũ Văn Mẫu
đồng ư như vậy!
NÓI CHUYỆN VỚI “PHÍA BÊN KIA”!
Nguời ta tưởng Tướng Dương Văn Minh có đường dây nào
để “nói chuyện với phía bên kia”, không ngờ ông
lại giao việc này cho Thượng Tọa Thích Trí Quang!
Đêm 29.4.1975, Tướng Minh vào ngủ trong Dinh Độc Lập
để tránh pháo kích và đợi Thượng Toạ Thích Trí Quang đưa
người “phía bên kia” đền nói chuyện. Tướng Nguyễn Hữu Có
cho biết trong đêm đó, thỉnh thoảng Tướng Minh lại cầm
điện thoại hỏi Thượng Tọa Thích Trí Quang công việc đă
tiến hành tới đâu. Nhưng lúc 5 giờ 15 sáng ngày
30.4.1975, Thượng Tọa Thích Trí Quang đă nói với Dương
Văn Minh qua điện thoại:
“Thưa Tổng Thống, cũng như Tổng Thống là tôi vẫn
chờ đến giờ nầy và theo tôi nghĩ có lẽ với t́nh thề hiện
tại, trong sứ mạng của tôi, người đứng trung gian bắc
nhịp cầu của thế cờ chính trị, có thể nói là chấm dứt.
Với trọng trách là Tổng Thống, hơn nữa là một Đại Tướng,
tôi nghĩ công việc phải nhờ vào tài quân sự
của Đại Tướng, chứ giải pháp chính trị của tôi
coi như chấm dứt, và từ giờ phút
này nếu có chuyện ǵ xẩy đến th́ mọi trách nhiệm đều do
Tổng Thống, à quên Đại Tướng quyết định với giải pháp
quân sự, mà trong lănh vực này Đại Tướng rất rành và
giỏi hơn tôi. Xin chào Tổng Thống...”
Dương Văn Minh chỉ trả lời gọn một câu: “Thầy giết tôi rồi!”
và cúp máy điện thoại.
Lúc 11 giờ 30 sáng ngày 30.4.1975, khi thấy không
c̣n ǵ để hy vọng nữa, Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng.
Chiếc xe tăng loại T-54 đầu tiên của Bắc Việt tiến trên
đại lộ Thống Nhứt về phía Dinh Độc Lập, ủi sập một cánh
cổng đă mở sẵn, sau khi bắn hai phát đại bác long trời
lở đất.
Tiếng chân chạy ồn ào trong đại sảnh, có tiếng đạn
lên ṇng, một khẩu lệnh vang lên: “Mọi người đi ra
khỏi pḥng ngay!” Dương Văn Minh là người bước ra
đầu tiên, Thiếu Tá tùy viên Hoa Hải Đường đi bên cạnh,
phía sau là Vũ Văn Mẫu, Nguyễn Văn Huyền... Nhiều bộ đội
ở đầu kia đại sảnh hét to:
“Mọi người giơ hai tay
lên!”. Dương Văn Minh, Vũ Văn Mẫu và đoàn tùy tùng
nhất loạt tuân lệnh.
Tính lại, Dương Văn Minh đă làm Tổng Thống được 40
tiếng đồng hồ!
RÚT ĐƯỢC BÀI HỌC G̀?
Trước hết, chúng tôi cám ơn Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ
Thoại đă cho chúng tôi biết thêm một số sự kiện lịch sử
mà từ trước chúng tôi chưa hề biết đến.
Qua một vài sự kiện lịch sử được chúng tôi ghi lại
nói trên, chúng ta có thể thấy rơ kể từ khi Tổng Thống
Ngô Đ́nh Diệm bị giết, Anh Hai Chống Cộng đă điều khiển
hoàn toàn cuộc chiến Việt Nam và điều hành luôn cả
chuyện đầu hàng!
Trong 32 năm sống trên đất Mỹ, không ngày nào
người Việt lưu vong ngưng tranh đấu cho một nước Việt
Nam tự do dân chủ. Nhưng cuộc tranh đấu này cũng lại do
Anh Hai Chống Cộng và Anh Hai Nhân Quyền lănh đạo và lèo
lái, c̣n chúng ta cũng chỉ “ăn theo”. Số phận của
người “ăn theo” như thế nào, ai cũng thấy rơ,
nhưng không ai nghĩ phải làm thế nào để có thể tiến dần
tới chủ động đấu tranh.
Đạo Phật có 84.000 pháp môn, hay nói đúng
hơn, có vô lượng pháp để giải phóng con người
khỏi kiếp luân hồi. Ngướ Tàu có “tam thập lục kế”
mà ta thưởng gọi là “trente six modes”,
trong đó có cả kế “dĩ đào vi thượng sách.” V́ thế, chúng
ta thấy tại mỗi nơi, các nước Tây Phương cũng như Giáo
Hội Công Giáo đă áp dụng những phương pháp khác nhau,
tùy theo hoàn cảnh, để loại bỏ dần các chế độ áp bức
trên thế giới. Chẳng hạn như ở Zimbabwe, các nước Tây
phương đă áp dụng các biện pháp rất cứng rắn để gây áp
lực. Giáo Hội Công Giáo cũng đă chọn con đường đó.
Trong Thư Chung Lễ Phục Sinh vừa qua, với tiêu đề
“Thiên Chúa nghe tiếng kêu của những người bị áp bức”,
các Đức Giám Mục Zimbabwe kêu gọi dân chúng ăn chay
và tham gia vào buổi lễ cầu nguyện cho đất nước này cho
đến khi tổng thống Robert Mugabe bị lật đổ.
Sau đó, bất chấp những đe dọa của cảnh sát Zimbabwe,
Đức Tổng Giám Mục Pius Ncube và các Đức Giám Mục
Zimbabwe đă tổ chức hai buổi canh thức cầu nguyện cho tự
do dân chủ tại Zimbabwe.
Một buổi cầu nguyện thứ nhất đă được tổ chức hôm thứ
năm 12.4.2007 tại Vương Cung Thánh Đường Đức Maria tại
Bulawayo vào lúc 5 giờ 30 chiều. Trong buổi cầu nguyện
này có sự hiện diện đông đảo của các đảng đối lập và các
nhân vật chính trị tại Zimbabwe. Hai vị Giám Mục Nam Phi
đă đồng tế với Đức Tổng Giám Mục Pius Ncube.
Trong bài giảng, Đức Tổng Giám Mục Buti Tlagale của
tổng giáo phận Johannesburg đă so sánh t́nh trạng của
Zimbabwe với thời kỳ chủ nghĩa phân biệt chủng tộc tại
Nam Phi và nhận định rằng Giáo Hội có nghĩa vụ đấu tranh
giành tự do dân chủ cho người dân được sống xứng với
phẩm giá con người. Đức Giám Mục Kevin Dowling của giáo
phận Rustenburg, Nam Phi, lên tiếng chỉ trích các nước
phương Tây đă áp đặt cấm vận lên Zimbabwe mà không quan
tâm đến t́nh trạng lầm than của dân chúng nước này. Theo
ngài, lệnh cấm vận đó chưa làm sụp đổ được chế độ độc
tài của Robert Mugabe th́ đă cướp đi mạng sống bao nhiêu
người yếu thế và trẻ thơ tại quốc gia này.
Trái lại, ở Trung Quốc, Việt Nam và Bắc Hàn, Hoa Kỳ
và các nước trên thế giới lại áp dụng chiến thuật khác.
Hai tay chống cộng can trường nổi tiếng ở Á Châu là Đài
Loan và Nam Hàn đă đầu tư hàng trăm tỷ vào Trung Quốc.
Cai thầu chống cộng của thế giới là Anh Hai Chống Cộng,
cũng đă bỏ vào đó trên 150 tỷ. Hiện nay, Nam Hàn đang
thương lượng để được đầu tư vào Bắc Hàn!
Mặc dầu ở Zimbabwe, Giáo Hội Công Giáo đă cứng rắn
như đă nói trên, tại Trung Quốc và Việt Nam, Giao Hội
đang tiếp tục thương lượng để tái lập bang giao.
Tất cả những hành động nói trên đều có tính toán với
mục tiêu cuối cùng là làm biến mất dần các chế độ cộng
sản c̣n lại.
Riêng người Việt lưu vong chỉ có một chiêu duy nhất
là “đánh phèng la” và lúc nào cũng nhất
quyết phải “đánh cho chúng nó sặc máu”.
Nhưng tiếng phèng la của người Việt chống cộng lại quá
nhỏ nên lúc nào cũng phải nhờ Anh Hai tiếp ưng. Nhưng
Anh Hai lại thuộc loại “Siêu Cộng Sản” nên thỉnh
thoảng chơi đá gị lái những đ̣n rất đau khiến phong
trào chống cộng của người Việt lưu vong cứ bị đẩy lui
dần.
Mặc dầu xử dụng một cách đánh đă lỗi thời và không
cỏn hiệu quả nữa, nhiều người, nhất là nhóm Giao Điểm
Công Giáo, nhất định bắt người khác, nhất là Giáo Hội
Công Giáo, phải làm theo họ và cho rằng ai không làm
theo là “đồng lơa với tội ác” hay hèn nhát! Sau vụ Cha
Lư bị bịt miệng, số thầy giảng Kinh Koran cho Hội
Đồng Giám Mục Việt Nam ngày càng gia tăng. Trong
hàng ngũ này, chúng ta thấy có một số thầy nổi bật như:
Thầy Trần Phong Vũ (Orange County), thầy Nguyễn Xuân
Tùng (Orange County), thầy Duyên Lăng Hà Tiến Nhất (San
Jose), thầy Trần Văn Cảo (San Jose), thầy Nguyễn Tiến
Cảnh (Florida), thầy Lữ Thứ (Atlanta), thầy Vũ Linh Huy
(Boston), v.v.!!!
Người chiến bại không có quyền dạy binh pháp và dĩ
nhiên, không ai dại theo binh pháp của kẻ thua trận,
v́ theo loại binh pháp đó chỉ có từ bại đến xụi mà
thôi.
CHO THẾ HỆ TỚI
Làm chính trị là tiêu liệu. Chúng tôi không
làm chính trị, nhưng “viết mà chơi” cũng
phải nh́n thấy được mặt sau của từng biến cố xẩy ra mới
có thể viết đúng được. Từ trước đến nay, những cái nh́n
của chúng tôi lúc đầu bao giờ cũng bị phản đối,
có khi rất mạnh mẻ, nhưng từ vụ Trần Trường với “thùng
tiền chính nghĩa”, vụ Đảng Nhân Dân Hành Động của Nguyễn
Sĩ B́nh, vụ chính phủ Việt Nam Tự Do của Nguyễn Hữu
Chánh, vụ Liên Đảng Cách Mạng Việt Nam của Hoàng Việt
Cương, vụ Linh mục Lư, vụ Ải Nam Quan... đến vụ Đảng Dân
Chủ Nhân Dân, Đảng Thăng Tiến, Đảng V́ Dân, Liên Đảng
Lạc Hồng... đều xẩy ra đúng như chúng tôi đă viết. Chỉ
c̣n Linh mục Phan Văn Lợi vẫn c̣n là một ẩn số cần phảỉ
t́m hiểu.
Khi chúng tôi đang viết bài này th́ nhận được môt
bản tin của con gái bà Trần Khải Thanh Thuỷ báo
tin bà đă bị Công An Hà Nội bắt vào khoảng 12 giờ trưa
ngày 21.4.2007 tại Bến xe Gia Lâm. Theo bản tin của đài
BBC ngày 23.4.2007, khi bị c̣ng tay bắt đi, bà cũng hô
“Đả đảo Công An!” và “Đả đảo Cộng Sản!” như Linh mục Lư
vậy.
Chuyện bà Thủy sẽ bị bắt v́ “đấu tranh loạn xà
ngầu” đă được chúng tôi cảnh báo nhiều lần, nhưng
bắt chước Linh mục Nguyễn Văn Lư, bà cho rằng “uy tín
quốc tế” của bà lúc này đă lớn rồi, Công An không dám
bắt!
Nhiều người đă nói với chúng tôi rằng viết ǵ th́
viết, nói ǵ th́ nói, người Việt chống cộng không bao
giờ chịu thay đổi cách tranh đấu của họ để có thể đem
lại những kết quả tốt hơn, v́ mục tiêu của nhiều người
là “biểu dương khí thế” để kiếm danh,
chứ không cần kết quả. Nhưng chúng tôi thấy nhiều người
và nhiều tổ chức cũng đă tự động tách khỏi con đường
ṃn chống cộng và t́m ra con đường mới để đi. Đó là
một triển vọng tốt.
Vă lại, chúng ta tŕnh bày sự thật lịch sử để giúp
cho thế hệ tới nhận ra được con đường bảo vệ và xây dựng
đất nước hơn là cho thế hệ này.
Tú Gàn