Hồi ức & Suy Nghĩ  (09)

Trần Quang Cơ

 

 

Nguy cơ lớn nhất và thúc bách nhất đe dọa an ninh và phát triển của ta là từ đâu?

 

Trong 4 đối tượng có thể tạo nên nguy cơ đe dọa ta, có những nước lớn cỡ toàn cầu hoặc khu vực như Mỹ, TQ, Nhật; riêng Thái Lan là nước ngang tầm với ta nên mức độ thách thức đối với ta không so được với các nước lớn. Trong các dạng thách thức khác nhau của cả 4 đối tượng, có nhiều điều mới trên cơ sở giả định hoặc dự pḥng để cảnh giác, song có những điều đang là hiện thực, đang là những vấn đề thực tế và thúc bách đặt ra trước mắt ta. V́ vậy với khả năng rất hạn hẹp về mọi mặt của ta, ta cần phân biệt rơ đâu là nguy cơ lớn nhất trực tiếp đe dọa những lợi ích sống c̣n của dân tộc VN để tập trung trí lực và vận dụng cao độ sách lược đối ngoại đối phó lại. Trước hết chắc chắn đó không phải là Nhật hay Thái Lan. Đó chỉ có thể là Mỹ hay TQ .

 

1.        Chiến lược của Mỹ và ư đồ của Mỹ đối với VN:

Sau sự tan ră của LX và sự kết thúc chiến tranh lạnh, Mỹ gặp phải nhiều thách thức hơn là cơ hội. Thách thức bởi những vấn đề kinh tế–xă hội cấp bách trong nước, thách thức bởi những đối thủ vốn là đồng minh cũ của Mỹ trong chiến tranh lạnh như Nhật, EC. V́ vậy mục tiêu chiến lược của Mỹ phải điều chỉnh lại một cách thực tế và khiêm tốn hơn: cố gắng duy tŕ vị trí số một trên thế giới và ở Châu Á–TBD, hiện đang trở thành vũ đài chính của thế giới. Trước thách thức ngày càng lớn của các trung tâm kinh tế phương Tây, việc xoá CNXH ở Châu Á chưa phải là ưu tiên hàng đầu của Mỹ hiện nay.

 

Khoảng cách về so sánh lực lượng giữa Mỹ và các cường quốc khác không c̣n quá lớn như trước để thực hiện được mục tiêu chiến lược, phương hướng của Mỹ chủ yếu là tạo một cân bằng lực lượng giữa các đối thủ có tiềm năng đe dọa vị trí số một thế giới của Mỹ, dùng đối thủ này kiềm chế đối thủ kia, thông qua hợp tác để kiềm chế các đối thủ, tăng cường vai tṛ các thể chế quốc tế (như LHQ) trong việc xử lư các xung đột khu vực, tạo thành một thế ổn định chung có lợi cho Mỹ.

 

Mỹ đang cô lập nên trật tự khu vực mới trên cơ sở tam giác chiến lược mới Mỹ–Nhật–Trung thay cho tam giác Mỹ–Xô–Trung ngày trước, trong đó Mỹ vừa tranh thủ và hợp tác với TQ mà chủ yếu là với Nhật, vừa cảnh  giác kiềm chế cả hai, chủ yếu là TQ.

 

Riêng với TQ, Mỹ rất coi trọng vai tṛ của đất nước có hơn 1 tỷ dân này trong kế hoạch tạo lập một trật tự quốc tế mới. Mỹ cần thúc đẩy và tranh thủ sự hợp tác của TQ trong nhiều vấn đề nhất là trong việc xử lư các cuộc xung đột khu vực .

 

Mỹ không thể khuyến khích hoặc làm ngơ để TQ tự do bành trướng xuống ĐNÁ. Trong chiến lược Châu Á–TBD của Mỹ, chính quyền Clinton đă tỏ ra coi trọng vai tṛ ĐNÁ hơn trước. Có thể v́ đây là một vùng khá năng động về phát triển kinh tế, đồng thời lại có một cơ chế tiểu khu vực có sức sống và gắn bó với lợi ích kinh tế của Mỹ. Song mặt khác v́ đây là hướng bung ra của TQ trong ư đồ lấp “khoảng trống quyền lực” sau khi LX tan ră và Mỹ thu bớt sự có mặt quân sự ở ĐNÁ. Lợi ích của Mỹ là tạo ra được ở đây một ĐNÁ ổn định và đủ mạnh để cản bước TQ trong chiến lược “biên giới mềm” và “mở rộng không gian sinh tồn”. Ư đồ của Mỹ là từng bước thúc đẩy việc mở rộng ASEAN thành một tổ chức chung cho cả 10 nước ĐNÁ, có khả năng trở thành một đối trọng đáng kể đối với TQ bảo đảm ổn định khu vực. Trong kế hoạch tạo lập một cơ chế an ninh khu vực của Châu Á–TBD, Mỹ, Nhật và phương Tây nói chung đều đă lấy ASEAN làm cốt lơi về tổ chức. Hội nghị thường niên giữa ASEAN và 6 nước đối tác đang trở thành diễn đàn trao đổi về an ninh khu vực Châu Á–TBD. Nga cũng tỏ thái độ ủng hộ phương hướng này. Riêng TQ không mặn mà.

 

Vậy có khả năng Mỹ đồng t́nh hay câu kết với TQ chống VN không? Trước đây Mỹ và TQ hợp lực chống VN trong vấn đề CPC là v́ cả 2 cùng có yêu cầu chung là đánh vào LX và xoá bỏ ảnh hưởng của LX ở ĐNÁ. Nay LX đă sụp đổ, thế chiến lược ở Châu Á–TBD đă thay đổi, nếu Mỹ lại đi với TQ chống VN th́ chẳng khác ǵ là đẩy VN vào t́nh thế hoặc chủ động liên minh với TQ hoặc phải khuất phục trước sức mạnh của TQ, từ đó tạo điều kiện cho TQ từng bước khống chế cả ĐNÁ một cách dễ dàng và nhanh chóng trở thành một trong những đối thủ đe dọa vị trí số 1 của Mỹ trên toàn cầu. Điều này hoàn toàn ngược lại mục tiêu chiến lược của Mỹ.

 

Mặt khác, một nước VN đổi mới, độc lập với Nga, TQ, cũng như không chịu sự chi phối của Nhật, cải thiện quan hệ và hoà nhập với các đồng minh của Mỹ ở ĐNÁ là phù hợp với lợi ích của Mỹ về hoà b́nh, ổn định, nhằm duy tŕ ảnh hưởng của Mỹ và hạn chế các thách thức nổi lên đối với vị trí của Mỹ ở khu vực. VN tuy không có một vị trí quan trọng trong chiến lược toàn cầu của Mỹ, nhưng VN vẫn là một nhân tố mà Mỹ không thể không tính đến trong chiến lược của Mỹ ở Châu Á–TBD và ĐNÁ. Hơn nữa về kinh tế Mỹ có lợi ích tranh thủ thị trường và nguồn nguyên liệu của VN. Mỹ không muốn vắng mặt trong khi các đối thủ của Mỹ đi mạnh vào thị trường VN.

 

Bên cạnh những lợi ích có phần nào trùng hợp với ta như trên, mặt tiêu cực trong chính sách của Mỹ đối với ta không nhỏ. Mỹ không thể từ bỏ ư đồ diễn biến hoà b́nh với ta. Tuy nhiên Mỹ có làm được hay không chủ yếu c̣n tuỳ thuộc vào khả năng giữ vững ổn định chính trị trong nước của ta, tức là tuỳ thuộc vào bản lĩnh chính trị của Đảng ta và sự vững vàng cảnh giác của cán bộ và nhân dân ta và sự gắn bó giữa dân với Đảng. Ở đây nhân tố vững mạnh bên trong có ư nghĩa quyết định. Thắng lợi của công cuộc Đổi mới, sự ổn định về kinh tế–xă hội ở nước tavà việc không ngừng nâng cao cảnh giác cách mạng trong quá tŕnh đa dạng hoá và mở rộng quan hệ quốc tế sẽ là đảm bảo tốt nhất hạn chế tác động của mọi thủ đoạn diễn biến hoà b́nh. Mặt khác cũng phải thấy rơ không phải Mỹ tập trung chống phá VN với bất cứ giá nào v́ Mỹ có những ưu tiên chiến lược lớn hơn và hơn nữa hiện nay Mỹ là đang có những lợi ích trùng hợp với ta ở khu vực mà ta có thể tranh thủ lợi dụng để phục vụ hữu hiệu cho mục tiêu chiến lược của ta.

 

2.        Chiến lược của TQ và ư đồ TQ đối với VN:

Trái với Mỹ, TQ thấy ở những biến đổi lớn trong cục diện thế giới ngày nay, một “cơ hội ngàn năm có một”. Đối với TQ cơ hội đang tăng lên, c̣n thách thức giảm đi. Trong khi Mỹ cảm thấy cần co bớt lại để củng cố và pḥng ngự là chính th́ TQ nuôi tham vọng lớn là muốn vươn lên trở thành 1 cực trong trật tự thế giới đa cực mới. Trong khi hiện đại hoá trên 4 mặt vẫn là cứu cánh chính để thực hiện mục tiêu đó, TQ không ngừng tranh thủ mọi cơ hội có được để thực hiện kế hoạch bành trướng, gây mất ổn định cho nước khác hoặc lợi dụng t́nh trạng mất ổn định của nước khác (CPC, Myanmar) để mưu lợi cho ḿnh. Do hiện nay thế cũng như lực chưa đủ mạnh, nên họ thực hiện ư đồ một cách tính toán thận trọng tuỳ theo diễn biến của t́nh h́nh khu vực, phản ứng của các đối thủ và thực lực của chính họ.

 

Trước mắt TQ đang ra sức thực hiện ư đồ nhanh chóng trở thành 1 cường quốc ở Châu Á–TBD, có địa vị ngang hàng với Mỹ, Nhật ở khu vực này. TQ đặt mục tiêu lấn chiếm toàn bộ biển Đông ở vị trí ưu tiên hàng đầu. TQ coi trọng vị trí chiến lược của biển Đông v́ kiểm soát được biển Đông tức là khống chế được cả ĐNÁ và cả con đường giao lưu huyết mạch từ Thái B́nh Dương qua Ấn Độ Dương, và cũng là khu vực giàu tài nguyên nhất là dầu khí (trữ lượng dầu ở khu vực này ngang Vịnh Ba Tư[90]) mà TQ đang cần để đẩy nhanh tốc độ phát triển.

 

Đáng chú ư là trong khi TQ mở một chiến dịch hoạt động ngoại giao rộng lớn nhằm tranh thủ tăng cường quan hệ hợp tác phát triển với tất cả các nước công nghiệp hoá phương Tây, tranh thủ các nước đang phát triển và không liên kết ḥng khôi phục vai tṛ lănh đạo thế giới thứ ba, cải thiện quan hệ với các nước láng giềng cùng chung biên giới, đặc biệt là gần đây tăng cường lôi kéo các nước khu vực ĐNÁ để phá thế “quần lang đấu hổ”, th́ TQ luôn tập trung mũi nhọn gây sức ép và lấn dần VN trên mọi vấn đề, mặc dù ta đă dùng đủ phương sách để tỏ thái độ cầu hoà và hữu hảo với họ. Phải chăng v́ TQ cho rằng VN là điểm yếu và dễ tính để lấn nhất lúc này (khó về quân sự, nghèo về kinh tế, đơn độc về chính trị) mà lại chiếm một vị trí chiến lược quan trọng ở ĐNÁ và là trở ngại lớn nhất cho kế hoạch biển Đông của TQ.

 

Những hoạt động bất lợi đối với VN của TQ sẽ không dừng lại ở trạng thái hiện nay mà sẽ c̣n được tiếp tục đẩy tới v́ TQ cho rằng t́nh thế hiện tại đang rất thuận lợi cho việc TQ lấn ép VN mà chỉ gặp phải phản ứng quốc tế ở mức thấp nhất v́ Mỹ chưa bỏ cấm vận VN; quan hệ hợp tác, đầu tư giữa các nước và VN c̣n chưa phát triển; vấn đề CPC đang c̣n thu hút nhiều sự chú ư của dư luận quốc tế; cơ chế an ninh khu vực Châu Á–TBD chưa h́nh thành. TQ đặt năm 1997 thành một mốc thời gian quan trọng trong quá tŕnh xây dựng sức mạnh mọi mặt của TQ: năm 1997 là năm TQ thu hồi Hồng Kông và cũng có thể là năm thực hiện một bước kế hoạch h́nh thành “vành đai kinh tế Đại Trung Hoa” bao quanh ĐNÁ; năm 1997 là năm quân đội TQ sẽ được trang bị hàng không mẫu hạm và các trang bị tối tân khác, đặc biệt về hải không quân để có thể vươn ra khắp biển Đông; có tin TQ đang cố rút ngắn mục tiêu của năm 2000 xuống năm 1997 sẽ tăng tổng sản phẩm quốc dân lên gấp  4 lần. Sức ép của TQ đối với ta sẽphát triển thuận chiều với sự phát triển các mặt của TQ.

                       

3.        Những phân tích t́nh h́nh trên đây có thể dẫn đến kết luận:  

Trước mắt cũng như trong tương lai dư báo được, TQ là nguồn xuất xứ chính của những thách thức đe dọa đối với chủ quyền và toàn vẹn lănh thổ, cũng như đối với an ninh và phát triển của VN. Những thách thức đe dọa trên nhiều mặt của TQ đối với ta đều đang là những vấn đề hiện thực, đang xảy ra và ta đang phải xử lư, khác với những thách thức đe dọa của các đối tượng khác, kể cả Mỹ, có phần nào c̣n là giả định và dự pḥng. Nhưng mâu thuẫn và lợi ích trên các mặt giữa ta với TQ có nhiều hơn đối với các đối tượng khác.

 

Kiến nghị đối sách

 

1.        Xét về so sánh lực lượng giữa Việt Nam và Trung Quốc, Việt Nam là nước nhỏ so với TQ là nước lớn, trọng lượng và ảnh hưởng chính trị rộng lớn hơn ta nhiều đẩy mạnh phát triển kinh tế, để cải thiện thế chính trị của ta trong cuộc đấu tranh nhằm giải quyết các vấn đề tranh chấp với TQ để bảo vệ lợi ích chính đáng của ta.

V́ bên cạnh những chỗ mạnh so với ta, trên mặt trận đối ngoại TQ có những điểm yếu cơ bản mà ta có thể và cần biết  cách khai thác để hạn chế TQ trong chính sách lấn ép ta trên nhiều mặt. Những điểm yếu đó là:

a)  Để thực hiện ưu tiên tối cao là đẩy nhanh hiện đại, TQ cần Mỹ hơn là Mỹ cần TQ. Do đó tuy giữa Mỹ–TQ có đấu tranh và thoả hiệp, nhưng rơ ràng TQ ngại phản ứng của Mỹ, không dám thách thức Mỹ trong khi thế và lực của TQ c̣n có hạn. Thế giới cũng như các nước khu vực đều coi Mỹ là đối trọng có hiệu quả nhất trong việc kiềm chế TQ. Cũng v́ thế TQ rất  không muốn Mỹ cải thiện quan hệ và đi tới b́nh thường hoá quan hệ với VN.

 

  b)  Trong lúc chưa xây dựng được lực lượng kinh tế cũng như quân sự đủ mạnh, TQ rất ngại các khu vực ĐNÁ–đối tượng bành trướng trước mặt của TQ–liên kết với nhau, đặc biệt là giữa ASEAN và VN, thành thể “quần lang đấu hổ” chống  lại nguy cơ chung. Chính v́ vậy mà TQ đang t́m mọi cách lôi kéo phân hoá ĐNÁ thành những mảnh riêng biệt, thậm chí có thể chống đối nhau.

 

  c)  Trước xu thế mạnh mẽ của chung trên thế giới và trong khu vực muốn có ổn định để tập trung ganh đua phát triển kinh tế, TQ rất ngại bị dư luận quốc tế, trước hết là dư luận khu vực, coi là “nhân tố gây mất ổn định” ở Châu Á–TBD  và thế giới . Cuộc vận động của Mỹ, Nhật, nhất là ASEAN, nhằm từng bước thúc đẩy việc h́nh thành một diễn đàn và tiến tới một cơ chế về an ninh tập thể khu vực Châu Á–TBD hiện nay chính là nhằm kiềm chế TQ.

 

 2. Để có thể tận dụng những điểm yếu của TQ vào việc cải thiện thế chính trị trong cuộc đấu tranh không cân sức này, ta nhất thiết cần phải chọn lựa và h́nh thành một chiến lược đối ngoại hết sức linh hoạt phù hợp với chiều hướng diễn biến chung của chính trị và kinh tế thế giới, thích ứng với những đặc điểm lớn của cục diện quốc tế hiện đại. Cuộc đấu tranh chống lại những thách thức đe dọa của đối tượng đặc biệt này là một nhiệm vụ hết sức thúc bách, đ̣i hỏi những biện pháp tổng hợp song diễn ra trên mặt trận ngoại giao là chính.


Với sự kết thúc trạng thái thế giới phân thành 2 cực đối đấu nhau, do tính tuỳ thuộc lẫn nhau ngày càng tăng giữa các nước trên toàn cầu và trong mỗi khu vực, việc không ngừng mở rộng quan hệ quốc tế theo hướng đa phương hoá, đa dạng hoá để hoà nhập vào đời sống chung của cộng đồng quốc tế là rất quan trọng cả về chính trị lẫn kinh tế. Đồng thời trong bối cảnh quốc tế hiện nay, an ninh của một nước tuỳ thuộc rất lớn và trước hết vào mối quan hệ quốc tế và khu vực của ta vừa qua cho thấy việc xử lư tốt mối quan hệ với các nước lớn là cực kỳ quan trọng đối với lợi ích an ninh  và phát triển của nước ta. Kinh nghiệm xương máu của dân tộc ta trong những thập kỷ qua cho thấy cần có chính sách  quan hệ cân bằng giữa các nước lớn, và tuyệt đối không để bên ngoài hiểu là VN có ư đồ đi với nước lớn này chống nước nọ, gắn lợi ích của ta với lợi ích an ninh và phát triển của các nước láng giềng trong khu vực để tạo cho nước ta một thế quốc tế thuận lợi hơn.

 

3.        Những trọng điểm trong chiến lược đối ngoại của ta phải là các nước lớn trong tam giác chiến lược Châu Á–TBD và khối các nước ASEAN, những nhân tố có khả năng tác động nhiều tới TQ.

 

d)  Với Mỹ:

Quan hệ với Mỹ là một bộ phận quan trọng chính sách đa dạng hoá quan hệ đối ngoại của ta. Hiện nay Mỹ là nhân tố duy nhất có khả năng làm đối trọng và kiềm chế TQ, do đó ta cần kiên tŕ và quyết tâm kéo Mỹ đi vào b́nh thường hoá quan hệ. Kéo Mỹ vào để Mỹ có lợi ích trực tiếp ở VN, nhất là lợi ích trong lĩnh vực dầu khí ngoài khơi VN, khiến Mỹ không thể làm ngơ trước t́nh h́nh “bất ổn định” do TQ khiêu khích, xâm lấn gây ra. Một nhà nghiên cứu Mỹ về Châu Á đă đánh giá “một dàn khoan của Công ty Mobil Oil (Mỹ) ở biển Đông có giá trị ngang với cả một Hạm đội 7”.

 

Thúc đẩy b́nh thường hoá quan hệ với Mỹ trước hết là việc bỏ cấm vận có ư nghĩa rất quan trọng đối với yêu cầu an ninh, ổn định và phát triển kinh tế của ta, giúp ta cải thiện với các đối tượng khác và tạo thêm điều kiện thuận lợi cho ta đối phó với các thách thức hiện nay. Triển khai mạnh  mẽ quan hệ với Mỹ cũng như với các đối tượng khác không phải để tạo một tập hợp lực lượng chống TQ v́ điều đó trái với phương châm đối ngoại “làm bạn với tất cả” của ta, cũng không phù hợp với các tính toán chiến lược của Mỹ cũng như của các nước khác.

 

Việc ta xin giữ hoà khí với TQ vừa có quan hệ b́nh thường với Mỹ và thúc đẩy quan hệ với Nhật, phương Tây và ASEAN và các nước khác sẽ tạo ra cho ta thế mạnh trong quan hệ cân bằng với các đối tượng.

 

Trong t́nh h́nh hiện nay việc hợp tác giải quyết tốt vấn đề POW/MIA là khâu thiết yếu để tháo gỡ trở ngại cho quan hệ Việt–Mỹ. Đồng thời đẩy mạnh công tác vận động trong nội bộ Mỹ (lobby) với khẩu hiệu có tính sách lược để tranh thủ dư luận Mỹ thúc đẩy Mỹ sớm bỏ cấm vận, thu hút các công ty Mỹ vào làm ăn ở VN vừa tạo áp lực vừa tạo điều kiện cho chính quyền Mỹ đi vào b́nh thường hoá với ta sớm nhất. Mặt khác ta cần quan tâm có chủ trương, chính sách và biện pháp thích đáng để vô hiệu hoá ư đồ của Mỹ và các nước phương Tây dùng vấn đề “dân chủ, nhân quyền” để gây sức ép với ta.

 

Song song với các bước cải thiện quan hệ VN và Mỹ, cần kết hợp mở rộng đường lối “hoà hợp dân tộc” bằng những chính sách cụ thể đối với Việt kiều ở Mỹ và các nước khác nhằm chuyển họ thành những lực lượng mạnh mẽ hỗ trợ cho công cuộc hiện đại hoá nền kinh tế và KHKT[91] của nước nhà. Việc làm mày tất nhiên sẽ tác động trở lại đối với việc tăng cường quan hệ hợp tác của ta với Mỹ và các nước có người Việt sinh sống.

 

b)  Với ASEAN:

ASEAN hiện được coi là tổ chức khu vực có sức sống mạnh nhất mà các nước lớn, trong đó có TQ, phải tính đến trong chính sách Châu Á–TBD của họ. Giữa ta và các nước ASEAN có nguyện vọng chung là hoà b́nh, ổn  định và phát triển, đồng thời cùng phải lo đối phó với thách thức bên ngoài, từ TQ và Nhật Bản. Tăng cường hợp các khu vực vừa phù hợp với xu thế hiện nay vừa tạo thế cho ta trong quan hệ với các nước lớn ngoài khu vực, nhất là TQ. Để thúc đẩy quan hệ này, ngoài việc tăng cường quan hệ song phương bằng các biện pháp xây dựng ḷng tin, cần sớm gạt những tồn tại trong quan hệ tay đôi giữa ta và một số nước ASEAN qua việc hợp tác giải quyết vấn đề vùng chống lấn với  Inđônêxia, Malaysia, Thái Lan…, cần có các bước đi mạnh mẽ tham gia các cơ chế hợp tác khu vực v́ an ninh và phát triển phù hợp với khả năng và lợi ích của ta; đặc biệt là cần tích cực tham gia quá tŕnh trao đổi về cơ cấu an ninh khu vực và  sớm  tham gia ASEAN. Nói chung, ta cần tích cực chủ động tăng cường các điểm đồng giữa ta và các nước ASEAN, xử lư khéo léo những khác biệt.

 

c)  Với các nước và các đối tượng khác, đặc biệt là với Nhật Bản, Nga, Cộng đồng Châu Âu…

Ta cần tiếp tục tăng cường quan hệ hợp tác về nhiều mặt nhằm tận dụng tối đa khả năng hợp tác kinh tế, KHKT, kinh nghiệm quản lư của các nước này cho các công cuộc phát triển đất nước và qua đó góp phần tạo thế cân bằng lực lượng có lợi ích cho ta ở khu vực, tranh thủ tập hợp dư luận rộng răi hỗ trợ cho cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền, lănh thổ của ta, tạo nên một mạng lưới lợi ích kinh tế–chính trị che chắn thêm cho ta trước mưu đồ xâm lấn của TQ.

 

d)  Với TQ:

-    B́nh thường hoá với TQ là một yêu cầu chiến lược của ta. Do TQ thi hành chính sách 2 mặt nên đối sách của ta cũng gồm 2 mặt vừa hợp tác vừa đấu tranh, vừa chủ động thúc đẩy quan hệ trên cơ sở những thoả thuận đă đạt được, vừa kiên quyết bảo vệ chủ quyền lănh thổ đồng thời giữ vững phươn châm không để trở lại t́nh trạng đối đầu với TQ cũng như không đặt các nước trước sự lựa chọn hoặc VN hoặc TQ. Biện pháp tối ưu lúc này là chủ động tạo nên cục diện các nước lớn và ASEAN có lợi ích kinh tế, an ninh ngày càng lớn trong quan hệ với VN. Cục diện đó cộng với sự lớn mạnh càng nhanh càng tốt của bản thân chúng ta sẽ là sự răn đe có hiệu quả nhất đối với mọi hoạt động lấn chiếm của TQ.

-    Kiên quyết đấu tranh hạn chế ư đồ lấn chiếm của TQ ở biển Đông, đặc biệt ở vùng thềm lục địa của ta; áp dụng các biện pháp khôn khéo nhưng có hiệu quả ngăn chặn hoạt động của TQ mà không dẫn đến đối đầu về quân sự.

-    Xúc tiến việc xác định phạm vi của quần đảo Trường Sa để xem xét khái niệm “khai thác chung”, phá ư đồ TQ lợi dụng vấn đề này chia rẽ phân hoá giữa ta và ASEAN.

-    Chuẩn bị khả năng đưa ra toà án quốc tế hoặc trọng tài quốc tế vấn đề Trung Quốc vi phạm thềm lục địa của ta.

-    Đến một lúc nào đó ta nên tính đến khả năng mở cảng Cam Ranh thành một thương cảng cho các tàu quốc tế ra vào, kể cả tàu Mỹ, tạo sự có mặt của nhiều quốc gia ở khu vực biển Đông, ngăn ư đồ độc chiếm của một nước. Song tất nhiên ta phải có chính sách và luật pháp chặt chẽ để bảo đảm chủ quyền và an ninh quốc gia

 

 

 

Ngày 14 tháng 6 năm 1993.

Trần Quang Cơ