Hồi ức & Suy Nghĩ  (08)

Trần Quang Cơ

 

Kết thúc một chặng đường nhưng lịch sử chưa sang trang

 

Sau 12 năm ḍng dă, đối với chúng ta, vấn đề Campuchia coi như đă kết thúc và đă trở thành một hồ sơ của bộ phận lưu trữ trong Bộ Ngoại Giao Việt Nam. Nhưng những bài học của 12 năm ấy vẫn c̣n đó, vẫn c̣n có nhiều tính chất thời sự, nhất là bài học về chính sách và thái độ cư xử với các nước lớn.

 

Tiếp sau  việc vấn đề Campuchia được giải quyết là việc thực hiện b́nh thường hoá quan hệ với Trung Quốc. Theo thỏa thuận giữa hai bên, ngày 5.11.1991, tổng bí thư Đỗ Mười và thủ tướng Vơ Văn Kiệt đă có cuộc đi thăm chính thức nước CHND Trung Hoa, đánh dấu sự b́nh thường hoá quan hệ giữa hai nước. “Quan hệ Việt–Trung tuân thủ các nguyên tắc tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lănh thổ của nhau, không xâm phạm lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau… Quan hệ Việt–Trung không phải là quan hệ đồng minh, không trở lại quan hệ những năm 50–60…”

 

Tuy nhiên sau khi b́nh thường hoá quan hệ, lại dồn dập diễn ra những sự kiện xấu trên nhiều mặt quan hệ giữa hai nước, tập trung gay gắt nhất là các vấn đề liên quan đến lănh thổ trên bộ vùng biên giới (Hà Giang tháng 2, 3, 4/92; vụ nối lại đường xe lửa Liên vận ở Đồng Đăng, Lạng Sơn tháng 12/91, 4, 5/92; Lục Lâm, Quảng Ninh tháng 5/92) và tranh chấp biển đảo mà đỉnh cao là vụ Trung Quốc công khai hoá việc kư kết hợp đồng thăm ḍ khai thác dầu khí với Công ty Năng lượng Mỹ Crestone tại một vùng rộng lớn trên thềm lục địa của Việt Nam (băi Tư Chính).

 

V́ sao Trung Quốc tăng cường lấn ép ta vào thời điểm này? V́ Trung Quốc cho rằng t́nh h́nh lúc đó đang thuận lợi cho họ tranh thủ gấp rút thực hiện yêu cầu tăng thế và lực (xây dựng hải quân nhanh, nổ thử bom 1000–kilotons, thi hành chiến lược “biên giới mềm”) nhằm tạo cho ḿnh một vị thế đỡ bất lợi so với Mỹ và các nước lớn khác, trong đó có ư đồ gấp rút biến biển Nam Trung Hoa thành vùng biển độc chiếm của Trung Quốc, từ đó khống chế toàn bộ vùng Đông Nam Á:

1.  Trật tự thế giới cũ không c̣n, trật tự thế giới mới chưa h́nh thành. Các đối thủ chính của Trung Quốc ở Châu Á–Thái B́nh Dương đều đang gặp khó khăn. Liên Xô vừa tan ră, Liên bang Nga trước mắt chưa phải là thách thức đáng kể. Mỹ đang giảm bớt sự có mặt về quân sự ở Châu Á–Thái B́nh Dương tránh can thiệp nếu lợi ích của Mỹ và đồng minh không bị đụng đến.

2.  Đông Nam Á mới bắt đầu quá tŕnh nối lại các quan hệ giao lưu giữa hai nhóm nước đối đầu cũ. Triển vọng liên kết hay nhất thể hoá Đông Nam Á, bất lợi đối với ư đồ bá quyền của Trung Quốc, đang c̣n có những trở ngại (nghi ngờ nhau do khác ư thức hệ, va chạm lợi ích, ư đồ của Thái Lan đối với Lào, Campuchia) đ̣i hỏi thời gian khắc phục. Trung Quốc muốn tranh thủ thời gian này để cản phá xu thế hợp tác khu vực giữa Đông Dương chủ yếu là Việt Nam, và ASEAN, tạo ra một tập hợp lực lượng thân Trung Quốc ở Đông Nam Á (quân phiệt Thái, quân phiệt Myanmar, Khơ–me đỏ ở CPC và Lào nếu có thể) để khuất phục Việt Nam.

3.  Bản thân Việt Nam c̣n đang lúng túng về những vấn đề chiến lược (vấn đề đồng minh, vấn đề tập hợp lực lượng, vấn đề bạn–thù) trong t́nh h́nh mới sau khi Liên Xô tan ră, quan hệ với Mỹ chưa b́nh thường hóa, Trung Quốc muốn đi vào b́nh thường hoá quan hệ với Việt Nam trên thế mạnh.

 

V́ vậy Trung Quốc nhẩn nha trong các bước b́nh thường hoá quan hệ với Việt Nam, vừa tạo bề ngoài thân mật gắn bó Trung–Việt, vừa xiết chặt bên trong, giành lợi thế cho ḿnh trên mọi lĩnh vực quan hệ. Cả hai  mặt đều nhằm mục tiêu khẳng định Việt Nam–Đông Dương là thuộc khu vực ảnh hưởng của Trung Quốc, muốn tách Việt Nam khỏi Đông Nam Á và thế giới bên ngoài.

 

Ngày 29/11/1993, tại cuộc họp Trung ương thứ 6 khoá VII để nhận định t́nh h́nh và bàn về phương hướng tới, dự tính trước việc tôi sẽ xin rút khỏi Trung ương, tôi đă tranh thủ nói rơ quan điểm của tôi trước phiên họp toàn thể Trung ương dưới dạng tŕnh bày những suy nghĩ của ḿnh về “Thời cơ và Thách thức”. Tôi cho rằng cục diện mới lúc này có mặt thuận lợi là làm nảy sinh những xu thế phù hợp với yêu cầu mở cửa, hoà nhập vào đời sống kinh tế–chính trị quốc tế của ta,  đang tạo nên thời cơ thực hiện mục tiêu hoà b́nh và phát triển của nước ta. Đó là:

1.  xu thế độc lập tự chủ, tự lực tự cường của những nước nhỏ và vừa, có ư thức về lợi ích dân tộc của ḿnh, cưỡng lại chính trị cường quyền áp đặt của nước lớn.

2.  xu thế đa dạng hoá quan hệ đối ngoại, tăng cường ngoại giao đa phương do nhu cầu đẩy mạnh giao lưu kinh tế và an ninh tập thể.

3.  xu thế giữ hoà b́nh ổn định thế giới và khu vực nhằm đảm bảo môi trường quốc tế thuận lợi cho tập trung phát triển kinh tế.

4.  xu thế liên kết khu vực kinh tế và an ninh khu vực.

 

Đồng thời, cũng có những thách thức lớn đối với an ninh và phát triển của ta, cả từ bên trong lẫn từ bên ngoài:

a)  thách thức bên trong là tệ nạn tham ô và  nhũng  nhiễu đang hủy hoại sức đề kháng vật chất cũng như tinh thần của dân tộc ta, làm giảm hẳn khả năng chống đỡ của ta đối với các thách thức bên ngoài

b) diễn biến hoà b́nh–một dạng biểu hiện của mâu thuẫn Đông–Tây sau chiến tranh lạnh.

c)  Bá quyền bành trướng. Nguy hiểm không kém diễn biến hoà b́nh, ở sát nách ta, thể hiện lúc mềm lúc cứng dễ gây mơ hồ mất cảnh giác (điểm này trong hội nghị hầu như không có ư kiến nào đề cập tới v́ ngại đụng TQ, tuy là nói trong nội bộ).

d) T́nh h́nh Campuchia c̣n đầy bất trắc với Khơ–me đỏ, cộng với chủ nghĩa dân tộc cực đoan của người Campuchia.

 

Trên cơ sở nhận định về thời cơ và nguy cơ như vậy, tôi đă đưa ra kiến nghị:

1.  Cần nh́n tổng thể t́nh h́nh khách quan và chủ quan, đối chiếu các thách thức với khả năng các mặt của ta để chọn cách xử lư sát thực tế, vừa sức.

2.  Trước hết xử lư thách thức nào trong tầm tay của ta, tập trung chống tham nhũng để bảo tồn và tăng cường sức đề kháng pḥng ngừa thách thức bên ngoài.

3.  Ưu tiên cho liên kết khu vực (Đông Nam Á). Liên kết không phải để đối đầu chống nước nào.

4.  Đối với các nước lớn, hữu hảo không đối đầu nước nào, nhưng đều phải giữ khoảng cách nhất định.

5.  Song song với việc kết bạn, không lơ là việc đấu tranh khi cần thiết. Song luôn luôn giữ giới hạn không gây nguy cơ mất ổn định khu vực.

6.  Tránh không làm ǵ có thể dồn hai hoặc ba đối thủ câu kết lại với nhau chống ta.

7.  Những ư kiến trên đây có thể dùng làm đoạn kết cho phần hồi ức này của tôi, v́ phản ánh đầy đủ quan điểm của tôi và cho đến nay (1999) xem ra nó chưa phải là đă lỗi thời. Trước đấy ngày 14/6/1993, theo yêu cầu của Thường trực Bộ Chính trị, tôi đă viết và ngày 20/6/1991 đă gửi các đồng chí Thường trực BCT tài liệu “Những thách thức đối với an ninh và phát triển của ta. Một số kiến nghị đối sách” (xem phụ lục Hồi ức), thẳng thắn nêu ư kiến của ḿnh về mấy vấn đề lớn: những thách thức, đe dọa đối với an ninh và phát triển của có thể xuất xứ từ đâu, dưới những dạng nào.

 

 

 

Những thách thức đối với an ninh và phát triển của ta –– Một số kiến nghị đối sách

(Viết theo yêu cầu của Thường trực Bộ Chính trị và đă gửi các đồng chí Thường trực BCT ngày 20.6.1993)

 

Những biến đổi lớn trong chính trị thế giới những năm gần đây cũng như những biến đổi lớn của t́nh h́nh kinh tế thế giới và những tiến bộ vượt bậc của khoa học kỹ thuật đă tác động tổng hợp vào sự h́nh thành cục diện chiến lược ngày nay với những xu thế mới ngày càng thể hiện rơ nét.

 

Bối cảnh chung này đă thúc đẩy tất cả các nước lớn nhỏ, đă phát triển hay đang phát triển phải điều chỉnh lại chiến lược, điều chỉnh lại thứ tự ưu tiên các mục tiêu chiến lược của ḿnh sao cho phù hợp đặc điểm t́nh h́nh thế giới mới và những xu thế chung hiện nay.

 

Một vấn đề lớn đặt ra cho mỗi nước là sớm xác định được những cơ hội và nhất là những thách thức trở ngại cho việc thực hiện mục tiêu chiến lược của ḿnh. Đối với ta, trong khi phấn đấu thực hiện mục tiêu chiến lược là sớm đưa đất nước “ra khỏi khủng hoảng, ổn định t́nh h́nh kinh tế–xă hội, phấn đấu vượt qua t́nh trạng nước nghèo và kém phát triển cải thiện đời sống của nhân dân, củng cố quốc pḥng và an ninh, tạo điều kiện cho đất nước phát triển với nhịp độ mới vào đầu thế kỷ 21” để bảo đảm hoà b́nh và ổn định chúng ta cần t́m ra được câu trả lời cho những vấn đề cấp bách là: hiện nay về mặt đối ngoại đất nước ta đang đứng trước những thách thức, đe dọa chủ yếu ǵ? có thể từ đâu đến và dưới dạng nào? Đâu là mối đe dọa trực tiếp nhất, thúc bách nhất cần đối phó? Phương hướng xử lư, trong đó có vấn đề tập hợp lực lượng để đối phó với những đe dọa, thách thức đó sao cho phù hợp với khả năng c̣n rất hạn chế về mọi mặt của ta?

 

Những thách thức đe dọa an ninh và phát triển của ta có thể xuất xứ từ đâu và dưới những dạng nào?

 

Hơn 2 năm qua kể từ Đại hội Đảng lần thứ 7, trên cơ sở những thành tựu trong công cuộc Đổi mới trong nước, việc triển khai đường lối đối ngoại rộng mở, đa dạng hoá quan hệ theo hướng “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu v́ hoà b́nh, độc lập và phát triển”, chúng ta đă cải thiện một bước đáng kể vị trí nước ta trên quốc tế. Quan trọng nhất là ta đă phá được một bước quan trọng thế bị cô lập về chính trị trong môi trường quốc tế, thuận lợi hơn cho việc giữ vững hoà b́nh và đẩy mạnh phát triển kinh tế.

 

Tuy nhiên, trong t́nh h́nh quan hệ đối ngoại của ta đă bị đảo lộn ghê gớm với sự tan ră của hệ thống các nước bạn bè ở Liên Xô và Đông Âu th́ những kết quả này mới chỉ là bước đầu và chưa thật vững chắc. Về chính trị, ta chưa tạo được một hậu thuẫn quốc tế thay thế chừng nào cho những chỗ dựa truyền thống mà ta vừa mất đi. Về kinh tế, đất nước ta c̣n ở t́nh trạng lạc hậu về kinh tế, KHKT so với nhiều nước trong khu vực và chưa ra khỏi cuộc khủng hoảng về kinh tế–xă hội. Ngày nay quan hệ giữa ta và các nước chủ yếu dựa trên cơ sở lợi ích tương đồng, trên từng mặt, từng vấn đề; hoàn toàn khác với phương thức tập hợp lực lượng truyền thống trước đây và đối với bất cứ đối tác nào cũng đều có hai mặt hợp tác và đấu tranh rất phức tạp. Trong khi đó, những đe dọa thách thức đă và đang nảy sinh từ những phía khác nhau, trước mắt và trong tương lai gần.

 

Trên cơ sở dự báo chiến lược, những đối tượng chính trước mắt hoặc sau này có thể tạo nên những đe dọa thách thức chủ yếu đối với sự nghiệp an ninh và phát triển của ta là: Trung Quốc, Mỹ, Nhật và Thái Lan.

 

Sau đây là những dạng thách thức đe dọa mà mỗi đối tượng có thể gây ra đối với ta:

 

1.     Trung Quốc: Sau hơn 1 năm b́nh thường hoá, quan hệ Việt–Trung có nhiều mặt được thúc đẩy như trao đổi đoàn qua lại, mở một số cửa khẩu, buôn bán biên giới… Song mặt tiêu cực và hạn chế đang nổi lên, nhiều hiệp định đă kư kết và nhiều thỏa thuận ở cấp cao chưa được thực hiện. Đặc biệt từ đầu năm 1993, TQ dùng nhiều biện pháp tổng hợp để tăng sức ép và tạo thêm nhiều khó khăn cho ta, gây t́nh h́nh không ổn định cho ta cả bên trong lẫn bên ngoài nhằm làm chậm đà phát triển kinh tế của ta và ḱm hăm việc mở rộng quan hệ đối ngoại của ta trước hết là ở khu vực ĐNÁ và Châu Á–TBD. Những thách thức và đe dọa của Trung Quốc đối với ta đang được thể hiện ngày càng rơ nét dưới các dạng chính sau đây:

 

a.  Xâm phạm chủ quyền và toàn vẹn lănh thổ của ta trên bộ và trên biển: trong khi trên bộ, TQ không có dấu hiệu nào muốn giải quyết các vấn đề tồn tại về biên giới, lại c̣n làm xấu thêm t́nh h́nh (xâm canh xâm cư, xây kè cống làm thay đổi ḍng chảy  các sông suối biên giới có lợi cho TQ, lấn sang phía ta) th́ trên biển TQ liên tiếp có những bước leo thang nghiêm trọng từ tranh chấp ngoài biển Đông, TQ đă từng bước ngày càng lấn sâu vào thềm lục địa, ngay trong khu vực ta đă phân lô kư kết với các công ty nước ngoài và đang thăm ḍ khai thác dầu khí (đầu tháng 5/93 TQ cho tàu “FENDOU 4” vào thăm ḍ địa chấn ở khu vực lô 6 nằm sâu trong thềm lục địa của ta) bộc lộ ư đồ biến một số khu vực trong thềm lục địa của ta thành vùng tranh chấp, đang chuẩn bị dư luận để đưa đảo Bạch Long Vĩ vào diện tranh chấp.

b.  Phá môi trường quốc tế ḥa b́nh ổn định của VN với những hoạt động: ở CPC, thông qua Khơ–me đỏ khuấy động vấn đề người VN ở CPC đồng thời làm cho t́nh h́nh CPC khó đi vào ổ định; lôi kéo 3 nước (Thái, Miến, Lào) thành một cụm liên kết kinh tế ở ĐNÁ lục địa thượng lưu sông Mê Kông gắn với TQ, tách rời VN, khủng hoảng biển Đông kéo dài cũng có tác động phá môi trường phát triển của VN.

c.  Gây mất ổn định chính trị, kinh tế bên trong VN: nêu trở lại “vấn đề người Hoa”, đẩy số người Hoa đă bỏ về TQ từ những năm 78,79 trở lại VN; thông qua Khơ–me đỏ dồn đuổi Việt kiều ở CPC về nước; gây sức ép với Hồng Kông đưa toàn bộ số thuyền nhân ở đó về VN trước năm 1997; để hàng lậu từ TQ tuồn vào VN qua con đường tiểu ngạch bán hàng vào VN với giá rất rẻ gây rối loạn thị trường, gây ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất ở nước ta.

d.  Ḱm hăm phát triển kinh tế đối ngoại của VN: tiếp tục bắt giữ tàu thuyền của ta (số lượng nhiều hơn 1992: 28 chiếc); chống việc ICAO[88] trả lại vùng FIR Hồ Chí Minh cho VN.

 

2.        Mỹ có thể thách thức đe dọa an ninh và phát triển của VN qua các dạng:

a.  Mỹ là nước lớn duy nhất hiện nay chưa b́nh thường hoá quan hệ với Việt Nam và c̣n tiếp tục chính sách cấm vận gây trở ngại cho các tổ chức quốc tế (Quỹ tiền tệ quốc tế, Ngân hàng thế giới … ) và các nước khác trong việc viện trợ tài chính và hợp tác với ta phát triển kinh tế.

b.  Tiến hành diễn biến hoà b́nh: thông qua những cái gọi là đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền ép ta đa nguyên, đa đảng; kích động các vấn đề tôn giáo, dân tộc thiểu số để gây t́nh h́nh phức tạp làm mất ổn định chống ta.

c.  Nuôi dưỡng những phần tử phản động hoặc thoái hoá biến chất c̣n lại ở VN và các lực lượng phản động người Việt đang ở nước ngoài khi có điều kiện thuận lợi th́ gây bạo loạn, lật đổ như đă làm ở một số nước.

 

3.        Nhật Bản trước mắt là một đối tượng hợp tác chính của ta để thực hiện yêu cầu phát triển nhanh kinh tế VN, song ta vẫn phải dự pḥng về lâu dài những khả năng xấu từ phía Nhật:

-    Trước hết là cùng với việc tăng cường đầu tư viện trợ, Nhật sẽ từng bước thao túng kinh tế VN và đưa VN và cả ĐNÁ vào quĩ đạo Nhật Bản phục vụ cho tham vọng bá quyền khu vực và thế giới của Nhật Bản về kinh tế cũng như về chính trị.

-    Mặt khác, cùng với tham vọng về chính trị và kinh tế được thực hiện từng bước, chủ nghĩa quân phiệt Nhật có thể được phục hồi nhằm trở thành 1 siêu cường toàn diện ở khu vực và trên thế giới. Nguy cơ này sẽ có hậu quả trực tiếp tới khu vực Đông Á trong đó có VN.

 

4.        Thái Lan hiện là một bộ phận của ASEAN mà ta đang tích cực tranh thủ hợp tác cả về kinh tế lẫn chính trị. Nhưng chủ nghĩa “Đại Thái” xưa nay là nguy cơ truyền thống đối với an ninh và phát triển của VN, hiện vẫn tồn tại và đầy tham vọng.


Thái luôn coi VN là một đối thủ tiềm tàng về kinh tế cũng như về chính trị. V́ vậy thách thức của Thái đối với ta có thể đến từ hai phía:

-    Về kinh tế, Thái có lợi ích kiềm chế nhịp độ phát triển của VN (vấn đề Uỷ ban Mê Kông, FIR[89] Hồ Chí Minh), đồng thời tận dụng được VN như một thị trường tiêu thụ hàng Thái và một nguồn cung cấp nguyên liệu (lâm sản, hải sản, khoáng sản).

-    Về chính trị, quân sự Thái có lợi ích biến Lào và CPC từ những đồng minh của VN thành vùng chịu ảnh hưởng Thái nhiều hơn. Đồng thời Thái vẫn có thể cung cấp căn cứ địa cho các lực lượng phản động VN thâm nhập phá hoại nội địa ta