Hồi ức & Suy Nghĩ  (07)

Trần Quang Cơ

 

Đại hội VII và cái giá phải trả cho việc b́nh thường hoá quan hệ với Trung Quốc.

 

Từ 17 đến 27/6/1991 ĐCS VN họp Đại hội lần thứ 7 đưa lại nhiều thay đổi quan trọng về nhân sự: Đỗ Mười thay Nguyễn Văn Linh làm tổng bí thư; Lê Đức Anh nay nghiễm nhiên giữ vị trí thứ 2 trong Đảng, ủy viên thường trực Bộ Chính trị kiêm bí thư trung ương phụ trách cả 3 khối quốc pḥng–an ninh–ngoại giao; Vơ Văn Kiệt được giới thiệu với Nhà Nước cử làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng; Đào Duy Tùng thường trực Ban bí thư. Bộ ba Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Đào Duy Tùng nắm bộ phận thường trực của Bộ Chính trị và của Ban Bí thư. Đại tướng Vơ Nguyên Giáp bị gạt ra khỏi chức ủy viên Trung ương. C̣n Nguyễn Cơ Thạch bị bật ra khỏi Bộ Chính trị và chuẩn bị thôi chức bộ trưởng Bộ Ngoại giao… (Thực ra những thay đổi về nhân sự trong Bộ Chính trị đă được quyết định từ tháng 5 và Trung Quốc đă biết). Dư luận quốc tế xôn sao cho rằng Nguyễn Cơ Thạch là “vật tế thần” trong việc Việt Nam b́nh thường hoá quan hệ với Trung Quốc. Tôi nghĩ rằng đó mới chỉ là một cách nói đơn giản v́ vấn đề không chỉ là b́nh thường hoá quan hệ mà là phụ thuộc hoá quan hệ.

 

Trước hết vấn đề đặt ra là ai sẽ thay anh Thạch giữ chức bộ trưởng ngoại giao? Từ đầu tháng 7, tôi đă nhiều lần được triệu tập lên gặp TBT Đỗ Mười và Trưởng ban Tổ chức trung ương Lê Phước Thọ (người thay Nguyễn Đức Tâm), để được thông báo và đă thông về dự định đưa tôi làm bộ trưởng ngoại giao. Sáng ngày 10/7/91, thấy tôi từ chối, Đỗ Mười đă hiểu lầm tưởng tôi không nhận v́ chưa được vào Bộ Chính trị như Bùi Thiện Ngộ (người thay Mai Chí Thọ làm bộ trưởng bộ Nội Vụ) nên hứa sẽ giải quyết chuyện đó sau. Tôi nói chỉ v́ lư do “sức khoẻ” mà tôi không nhận. “45 năm nay tôi liên tục công tác, cố gắng làm tốt các công việc được giao, không từ nan. Song lần này không thể nhận. Tôi chỉ có nguyện vọng là làm nốt công việc thứ trưởng ngoại giao. Đề nghị các anh quyết định theo phương án chúng tôi đề nghị ngày hôm qua: cử anh Vũ Oanh hay anh Vũ Khoan. Nhân đây tôi xin phản ánh tư tưởng chung của anh em cán bộ nhân viên Bộ Ngoại giao là có sự đối xử chưa công bằng với Ngoại giao”.

 

V́ sao tôi được người ta chọn để thay Nguyễn Cơ Thạch tuy biết rơ tôi đồng quan điểm chính trị với anh Thạch? Tôi nghĩ có 2 lư do: một là che đậy ư nghĩa chính trị của việc sa thải Nguyễn Cơ Thạch; hai là cơ chế mới về đối ngoại sau Đại hội VII có khả năng vô hiệu hoá hoàn toàn mọi chủ trương và hành động sai khác với quan điểm của mấy vị trong Ban Thường Trực BCT mới.

 

Mọi vấn đề quan trọng về đối ngoại của Nhà Nước đều do Hồng Hà, bí thư T.Ư. Phụ trách đối ngoại, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Lê Đức Anh và tất nhiên được sự tán thưởng của TBT Đỗ Mười, quyết định. Những phần công việc xưa nay vốn do Bộ Ngoại giao đảm nhiệm nay đều do Hồng Hà và Ban Đối Ngoại chủ tŕ. Một thí dụ điển h́nh về v́ ư đồ cá nhân họ sẵn sàng bỏ qua danh dự và quốc thể: ngày 5/8/91, giữa cuộc họp Hội đồng bộ trưởng, Hồng Hà tuyên bố: Từ nay trong quan hệ với Trung Quốc các ngành cứ tập trung ở chỗ anh Trương Đức Duy (đại sứ TQ), không cần qua sứ quán Việt Nam ở Bắc Kinh”. (Lê Đức Anh cho biết khi ở TQ, Ban Đối Ngoại TQ Chu Lương có đề nghị: v́ lư do kỹ thuật (?) quan hệ giữa hai đảng xin làm qua Trương Đức Duy). Hôm sau, Hồng Hà với tư cách trưởng ban đối ngoại tiếp đại sứ CPC Ouch Borith, đă thông báo: Theo sự phân công của Bộ Chính trị VN, từ nay đồng chí Lê Đức Anh và đ/c Hồng Hà sẽ phụ trách thảo luận giải pháp CPC và các vấn đề liên quan. Nếu lănh đạo CPC muốn bàn các vấn đề trên th́ đề nghị quan hệ và thảo luận trực tiếp với 2 đồng chí đó.

 

Sau khi tôi được miễn, đă có một cuộc vận động khá sôi nổi về chức bộ trưởng ngoại giao. Những tên tuổi như Vũ Oanh, Hồng Hà, Hoàng Bích Sơn, Nguyễn Dy Niên, Vũ Khoan… được nói tới. Cuối cùng, Nguyễn Mạnh Cầm (lúc đó đang là đại sứ ta ở Liên Xô) được chọn, mặc dù khi đó anh c̣n rất lưỡng lự.

 

Ngày 9/7/91, vừa được bàn làm tổng bí thư, Đỗ Mười gặp đại sứ TQ Trương Đức Duy tỏ ư muốn cử đặc phái viên đi Bắc Kinh để thông báo về Đại hội VII và trao đổi về quan hệ giữa hai nước. Trước đó ít ngày–ngày 11/6/91–Bộ Ngoại Giao ta cũng đă gặp đại sứ Trung Quốc đề nghị mở lại đàm phán cấp thứ trưởng ngoại giao hai nước. Ngày 17/7, Trung Quốc trả lời đồng ư gặp cấp thứ trưởng ở Bắc Kinh từ 5/8 đến 10/8. Hai ngày sau, Trung Quốc trả lời đồng ư việc ta cử đặc phái viên gặp lănh đạo Trung Quốc, nhưng lại sắp xếp sau cuộc gặp đặc phái viên trước cuộc gặp thứ trưởng ngoại giao. Việc làm trên cho thấy một mặt Trung Quốc muốn gặp ta ở cả hai cấp, mặt khác muốn dùng những thỏa thuận với cấp đặc phái viên để ép ta trong cuộc gặp cấp thứ trưởng ngoại giao. Để đề cao công việc này, phía Trung Quốc đă đề nghị thay chữ “đặc phái viên” thành “đoàn Đại diện đặc biệt của Ban chấp hành Trung Ương Đảng cộng sản Việt Nam” tuy Đoàn chỉ có 2 thành viên là Lê Đức Anh và Hồng Hà. Hồng Hà lúc đó là bí thư T.Ư. phụ trách đối ngoại. Phụ tá đoàn là Trịnh Ngọc Thái, phó ban Đối ngoại của Đảng. Tôi nhớ khi đó Bộ Ngoại Giao có đề nghị có một thứ trưởng ngoại giao là ủy viên Trung Ương đi với đoàn để nắm t́nh h́nh vận dụng vào cuộc đàm phán cấp thứ trưởng ngoại giao ngay sau đó, nhưng đề nghị không được chấp nhận. Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc Đặng Nghiêm Hoành cũng không được tham dự các hoạt động của đoàn, trong khi đó đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam, Trương Đức Duy, lại có mặt trong mọi hoạt động chính thức của đoàn tại Trung Quốc.

Ngày 28/7/91, đoàn đă đến Bắc Kinh và trong mấy ngày sau đó đă gặp Kiều Thạch, Lư Bằng, Giang Trạch Dân thông báo khá chi tiết về Đại hội VII (những ư kiến khác nhau, quá tŕnh thảo luận, tranh luận và việc biểu quyết những vấn đề quan trọng trong Đại hội; và cơ cấu nhân sự của Ban Chấp hành Trung Ương…) Giang Trạch Dân và Lư Bằng tỏ ra quan tâm đến việc Việt Nam sẽ có ngoại trưởng mới (thay Nguyễn Cơ Thạch) trong kỳ họp Quốc hội tháng 8/1991. Giang tỏ ư hài ḷng “Từ đáy ḷng ḿnh, tôi hết sức hoan nghênh kết quả Đại hội VII của các đồng chí Việt Nam”.

 

Đặc biệt mặc dù chuyến đi có mục đích gặp lănh đạo Trung Quốc thông báo về Đại hội VII và bàn quan hệ hai nước, nhưng Lê Đức Anh và Hồng Hà đă chủ động xin gặp Từ Đôn Tín tới 2 lần, chiều 29/7/ và tối 31/7 để tạ lỗi (?). Mở đầu cuộc gặp chiều 29/7, Lê Đức Anh đă nói: “Năm ngoái khi đồng chí Từ Đôn Tín sang Việt Nam đă xảy ra một số trục trặc không hay lắm do phía chúng tôi gây ra (!) Đồng chí Nguyễn Văn Linh và chúng tôi khi biết việc này, chúng tôi không vui lắm. Hôm nay gặp đồng chí, tôi nói t́nh cảm của đồng chí Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và của tôi … T́nh h́nh trục trặc trong quan hệ là một việc đau ḷng, nhất là giữa những người cộng sản. Khúc nhạc cũ đă qua rồi, mong các đồng chí yên tâm”. C̣n Từ th́ cũng mượn dịp này để than phiền về đại sứ Đặng Nghiêm Hoành: “Một năm nay đồng chí ấy không gặp tôi, trừ khi gặp ở các cuộc chiêu đăi. Đây là lần đầu tiên tôi gặp đồng chí Hoành kể từ tháng 6 năm ngoái” (sự thực là phía Trung Quốc đă có thành kiến với anh Hoành từ trong cuộc đàm phán tháng 6/1990 ở Hà Nội). Từ không quên nhắc đến điều kiện không thể thiếu để có thể b́nh thường hoá quan hệ với Việt Nam: “Tôi rất hoan nghênh đồng chí Lê Đức Anh và đồng chí Hồng Hà là từ nay không nói diệt chủng nữa. Khi về Hà Nội nếu gặp Campuchia đề nghị các đồng chí cũng nói ư này… Nếu các đồng chí lănh đạo Việt Nam sang Trung Quốc mà cái đuôi Campuchia vẫn c̣n th́ chúng tôi khó nói với nhân dân. Mong vấn đề Campuchia được giải quyết th́ khi b́nh thường hoá quan hệ với chúng tôi có thể ăn nói với nhân dân Trung Quốc và nhân dân thế giới”.

 

Để dọn đường cho cuộc gặp cấp thứ trưởng ở Bắc Kinh tháng 8/1991, tối 31/7 Hồng Hà vẫn bảo với Từ Đôn Tín: “Đồng chí Lê Đức Anh và tôi sẽ làm việc trực tiếp với thứ trưởng Nguyễn Dy Niên (người được chỉ định đi đàm phán với Trung Quốc chỉ v́ chưa có “tiền sử” với Trung Quốc) trước khi đồng chí ấy đi Trung Quốc. Chúng tôi phải báo cáo với Bộ Chính trị để có ư kiến chỉ đạo  không những cả về nội dung mà cả về tinh thần và thái độ làm việc. Tinh thần của chúng tôi là phấn đấu làm cho cuộc gặp thành công”. Sau khi đă cam kết từ nay không nói đến vấn đề diệt chủng nữa, Hồng Hà hỏi Từ: “Tôi muốn hỏi đồng chí ngoài vấn đề diệt chủng, c̣n hai vấn đề gai góc là vấn đề quân đội các bên Campuchia và vai tṛ Liên Hiệp Quốc th́ phương hướng giải quyết nên thế nào, để chúng tôi có thể góp phần làm cho cuộc gặp thứ trưởng Việt–Trung ở Bắc Kinh sắp tới đạt kết quả tốt”. Xin ư kiến đối phương về hướng giải quyết vấn đề đàm phán trước khi đàm phán, thật là chuyện có một không hai trong lịch sử ngoại giao!

 

Sau khi ở Trung Quốc về, ngày 4/8/1991, Lê Đức Anh và Hồng Hà gặp tôi và Nguyễn Dy Niên tại Văn pḥng Trung Ương Đảng để chuẩn bị cho Niên đi đàm phán với Trung Quốc. Sau khi anh Niên đọc bản đề án của Bộ Ngoại giao, tôi nói: “Anh Hoành (đại sứ ta ở TQ) vừa điện về, phía TQ thông báo có 3 buổi làm việc nhưng họ nói có thể làm một buổi là xong. Chắc chắn Từ Đôn Tín sẽ đưa văn bản buộc chúng ta phải thoả thuận. Nếu ta nhận, họ sẽ x́ ra cho các nước PS, ASEAN và bạn CPC. Ta sẽ bị vào thế phản bội đồng minh, phản bội bạn bè. Nếu ta đ̣i sửa văn bản của TQ th́ sẽ không ra được văn bản, sẽ thất bại. Chúng tôi đă xem lại biên bản thấy TQ gắn rất chặt vấn đề CPC, với việc b́nh thường hoá quan hệ, vẫn coi CPC là điều kiện. TQ rất khôn, khi gặp cấp cao chỉ tập trung vào vấn đề quan hệ hai nước, c̣n cái xương để lại. Gặm cái xương này, chúng ta phải giải quyết vấn đề có tính nguyên tắc. Ta quyết tâm b́nh thường hoá với TQ nhưng không được phá quan hệ với CPC và không được để thế giới thấy anh Việt Nam là người tráo trở”. Biết tôi quá gai góc, không chịu chấp nhận ư đồ thỏa hiệp vô nguyên tắc với TQ, Lê Đức Anh và Hồng Hà chỉ nói chung chung về chuyến đi Bắc Kinh vừa qua. Hồng Hà nói: Tinh thần tôi nắm được là ư Trương Đức Duy và Từ Đôn Tín đều lo cuộc gặp thứ trưởng thất bại. Không biết đồng chí  thứ trưởng nào gặp tôi có nắm được tinh thần này không?” Tôi liền bảo: “Như vậy càng rơ là họ có yêu cầu cao nên họ sợ ta không thể chấp nhận được”, Hồng Hà: “Tôi hiểu họ muốn b́nh thường hoá quan hệ là chính nên họ lo”. Tôi đáp: Về mặt này th́ phải nói là Việt Nam lo hơn v́ Việt Nam muốn b́nh thường hóa quan hệ với TQ hơn”. Vào cuối buổi họp, Hồng Hà nói: Chuyến đi của anh Niên là thuận lợi, sau chuyến đi của anh Lê Đức Anh. Anh Niên cũng là nhân vật mới, không có “tiền sử”. Khi nhắc đến tháng 6/90 họ rất cay cú. Lê Đức Anh thêm vào: Sau tháng 6/90 lại có phát biểu với báo chí của hai bên nên càng tích tụ thêm, găng thêm. (ư nói đến lần đàm phán tháng 6/90 giữa tôi và Từ Đôn T́n). Và đến chiều, khi họp Thường trực Bộ Chính trị bàn về việc đàm phán với TQ, họ triệu tập anh Niên, không triệu tập tôi.

 

Được biết trong cuộc họp này TBT Đỗ Mười đă khẳng định là không nên v́ vấn đề Campuchia mà cản trở việc b́nh thường hoá quan hệ của ta với Trung Quốc. Về vấn đề CPC, họ chỉ thị cho Niên thỏa thuận với phía TQ:

 

a)  không nói vấn đề diệt chủng. Lê Đức Anh nói phải dứt khoát thôi vấn đề diệt chủng. Và TBT Đỗ Mười nhấn thêm: Nếu nói vấn đề diệt chủng tức là đồng minh với Mỹ chống Trung Quốc (!)

b) nâng cao vai tṛ HĐDTTC, hạ thấp vai tṛ LHQ.

c)  giảm quân các bên CPC 50%.

 

Để đảm bảo cuộc đàm phán không đi chệch khỏi quỹ đạo đă dàn xếp trước với Trung Quốc, Hồng Hà c̣n để Trịnh Ngọc Phái, phó ban Đối ngoại, ở lại Bắc Kinh để tham gia đoàn đàm phán, thực chất để giám sát Nguyễn Dy Niên theo đúng những điều họ đă thoả thuận trước với Trung Quốc. Ngày 10/8/1991, sau khi cái gọi là cuộc đàm phán này đạt kết quả đúng ư Trung Quốc (hoan nghênh Sihanouk giữ chức chủ tịch HĐDTTC, ủng hộ văn kiện khung của LHQ về giải pháp CPC… ) vào đúng ngày Quốc Hội Việt Nam thông qua việc bổ nhiệm Nguyễn Mạnh Cầm thay Nguyễn Cơ Thạch làm bộ trưởng Ngoại Giao. Ngoại trưởng Trung Quốc Tiền Kỳ Tham nhận tiếp Nguyễn Dy Niên và ngỏ lời mời ban ngoại trưởng Nguyễn Mạnh Cầm ngày 10/9/1991 thăm Trung Quốc để chuẩn bị cho cuộc gặp cấp cao Trung–Việt ở Bắc Kinh.

 

Ta đă dự kiến sau cuộc đàm phán ở Bắc Kinh sẽ sang Nông Pênh thông báo cho bạn CPC, nhưng tối 18/8/1991 Hồng Hà gọi điện chỉ thị: Theo ư kiến đồng chí Lê Đức Anh, anh Niên không phải đi CPC thông báo với bạn nữa và cũng không thông báo cho bất cứ ai về cuộc đàm phán ở Bắc Kinh vừa qua (mặc dù phía TQ đă thông báo cho các nước ASEAN và các nước phương Tây rồi). Và c̣n nói thêm: Từ nay trở đi, trên giấy trắng mực đen đừng ghi ư đồ của Trung Quốc nữa (?) v́ vấn đề này BCT đă nắm rồi.

 

Nói chung, từ sau Đại hội VII, tiến tŕnh b́nh thường hoá quan hệ Việt Nam–Trung Quốc như cỗ máy đă được tra dầu đầy đủ, diễn biến chơn chu theo tŕnh tự đă định. Ngày 5 đến 10/11/91, sau khi Hiệp Định về Campuchia được kư kết ở Pa–ri, TBT Đỗ Mười và Thủ tướng Vơ Văn Kiệt thăm chính thức CHND Trung Hoa để hoàn thành việc b́nh thường hoá mối quan hệ bị trục trặc lớn từ tháng 2/1979. Nhưng trong khi lănh đạo ta ôm kỳ vọng cùng TQ “bảo vệ xă hội chủ nghĩa chống đế quốc” th́ họ đă xác định quan hệ với ta là “thân nhi bất cận, sơ nhi bất viễn, tranh nhi bất đấu” (thân nhưng không gần, sơ nhưng không xa, đấu tranh nhưng không đánh nhau). TQ nói thế song luôn luôn lấy thế nước lớn để lấn chiếm lănh thổ lănh hải ta, và hiểm độc nhất là không ngừng tác động vào nội bộ ta. 

                          

Hiệp 2 của Hội nghị quốc tế về Campuchia.

 

Với đà tiến triển nhanh chóng qua các cuộc họp SNC tại Jakarta (6/91), Bắc Kinh, Pattaya (Thái Lan) và Nữu ước (9/91), 5 nước thường trực Hội Đồng Bảo An quyết tâm quyết nhanh gọn vấn đề Campuchia làm đà giải quyết các cuộc xung đột khu vực khác, đặc biệt là Trung Đông. Cả Liên Xô lẫn Trung Quốc đều có lợi ích đồng t́nh với phương Tây–chủ yếu là Mỹ–gạt nốt những vướng mắc cuối cùng trong việc thông qua các văn bản dự thảo Hiệp định 28/11/1990 của P5.

 

Cuối tháng 9/1991, tôi dẫn đầu đoàn đại biểu nước ta đi Nữu Ước dự khoá họp thứ 46 Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc. Khác với năm 1988, khi tôi đại diện Việt Nam dự Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc khoá thứ 43, lần này vấn đề CPC đă đi sát đến giải pháp. Trong thời gian ở Nữu Ước, tôi đă tranh thủ tiếp xúc với anh Hun–xen họp SNC ở đó để t́m hiểu thái độ bạn đối với dự thảo Hiệp định. Tôi được biết ngày 21/9/91, Nhà Nước Campuchia cuối cùng cũng đă buông thả rất nhanh tất cả các điểm yêu cầu sửa dự thảo Hiệp định. Như vậy, chỉ c̣n lại một ḿnh Việt Nam là nước duy nhất đ̣i bổ sung dự thảo về 4 điểm liên quan đến Việt Nam. Tôi vội thông báo t́nh h́nh này về nước để nhà sớm có quyết sách thích đáng cho đoàn đại biểu ta đi dự Hội nghị quốc tế Pa–ri về Campuchia. Ngày 13/10/1991 bộ phận thường trực và sau đó các đồng chí khác trong BCT đă thông qua chủ trương Việt Nam tham gia kư kết Hiệp định với 2 phương án đấu tranh về 4 điểm bổ sung của ta. Sáng 14/10, anh Vơ Văn Kiệt đă gặp tôi ở Văn pḥng Hội đồng bộ trưởng để cho ư kiến về 2 văn bản do Bộ Ngoại Giao chuẩn bị cho cuộc họp về vấn đề Campuchia ở Pa–ri . Sau khi nghe tôi tŕnh bày, anh Kiệt tán thành Tờ tŕnh BCT về phương án đấu tranh của ta tại Hội nghị quốc tế Pa–ri, và góp ư nên sửa lại 2 chỗ trong bản dự thảo Tuyên bố Chính phủ.

 

Ngày 16/10, trên đường đi Pa–ri, tôi được điện của Bộ báo cho biết cả Levitte, thứ trưởng ngoại giao Pháp và Từ Đôn Tín, lúc này đă là thứ trưởng ngoại giao, đều muốn gặp tôi sớm, trước ngày họp Uỷ ban Phối hợp của Hội nghị. Trên cơ sở phán đoán là cả hai đều muốn gặp để thương lượng và thúc đẩy Việt Nam rút các yêu cầu sửa đổi dự thảo Hiệp định để bảo đảm cho cuộc họp Uỷ ban Phối hợp khỏi gặp trắc trở, tôi đă quyết định gặp Levitte trước, sau đó mới gặp Từ. Suy nghĩ của tôi là: Pháp là nước đồng chủ tịch đăng cai hội nghị, rất muốn hội nghị đạt kết quả, đề cao được vai tṛ Pháp trên quốc tế, đồng thời gặp Pháp trước sẽ tỏ được thiện chí và tính độc lập của ta, nếu gặp Trung Quốc trước gặp Pháp sau th́ sẽ chịu tiếng bị sức ép của Trung Quốc mà phải nhượng bộ.

 

Ngày 18/10, ngay sau khi đến Pa–ri, tôi đă gặp Levitte thảo luận. Đúng như đă phán đoán, Pháp tha thiết mong Việt Nam có thái độ mềm dẻo đối với dự thảo Hiệp định. Cuối cùng, để tỏ thiện chí, tôi đă thỏa thuận với Pháp về cách làm như sau: trong báo cáo của Tổng thư kư LHQ trước Hội đồng Bảo an sẽ có giải thích những điểm mà Việt Nam yêu cầu làm rơ. Và ngay trong cuộc họp UB phối hợp ngày 21/10/91, trong bản tŕnh bày của Phó tổng thư kư LHQ Ahmed Rafeuddin cũng phải nêu đầy đủ giải thích này, đồng thời Levitte nhân danh chủ tịch Uỷ ban sẽ tuyên bố hoan nghênh thiện chí hợp tác của Việt Nam đă thôi không đưa các bổ sung dự thảo Hiệp định nữa v́ đă có những giải thích thích đáng của Phó tổng thư kư Liên Hiệp Quốc. Tôi cũng thỏa thuận với Levitte sẽ có cuộc gặp tay ba với Ahmed thoả thuận cuối cùng.

 

Hôm sau, tôi gặp Thứ trưởng ngoại giao Trung Quốc Từ Đôn Tín. Từ cũng có mục đích thu phục ta thôi không đưa các yêu cầu bổ sung nữa, nói nếu Việt Nam đưa bổ sung th́ các nước khác đ̣i bổ sung để cân bằng lại. Mỹ sẽ đ̣i hoăn việc kư kết và đổ trách nhiệm cho Việt Nam.

 

Ngày 20/10/1991, như đă thỏa thuận với Pháp, ngay sau khi Phó tổng thư kư Liên Hiệp Quốc đến Pa–ri, đă có cuộc họp tay ba giữa Việt Nam, Pháp, và Phó tổng thư kư Liên Hiệp Quốc Ahmed thoả thuận cách làm như ta đă bàn với Pháp hôm 18/10 và cho trợ lư của ông ta ghi lại các câu chữ yêu cầu nói rơ khi ông giải thích về mấy điểm bổ sung của ta. Như vậy, thực chất là đă vượt mức yêu cầu của ta, nhưng để giữ cao giá, tôi nói sơ bộ thỏa thuận như vậy, song tôi c̣n phải xin chỉ thị Hà Nội: khẳng định lại trong sáng 21/10 trước khi bắt đầu họp Uỷ ban Phối hợp.

 

Sáng 21/10/1991, khi đoàn Việt Nam đến Trung tâm Hội nghị quốc tế Kléber, có một đoàn của đoàn Trung Quốc ra mời tôi gặp Từ Đôn Tín có việc gấp cần trao đổi trước khi họp. Từ yêu cầu riêng tôi nói chuyện bằng tiếng Tàu không qua phiên dịch, cho biết Mỹ định đưa bổ sung vào Hiệp định một đoạn lên án diệt chủng và yêu cầu tôi cho biết ư kiến. Tôi Trả lời: chuyện này bây giờ chủ yếu là vấn đề của người Campuchia, nên để các bên Campuchia có ư kiến. C̣n quan điểm của Việt Nam là đến nay không nên để bất cứ một vấn đề nào gây trở ngại cho việc kư kết. Từ xem ra hài ḷng về cách tỏ thái độ của ta. Nhưng cuối cùng h́nh như đă có sự thỏa hiệp giữa Mỹ và Trung Quốc, Mỹ rút bỏ từ “diệt chủng” trong đoạn bổ sung và chỉ nói chung chung về “nhân quyền” và các quyền tự do cơ bản của Campuchia cần được các nước tôn trọng.

 

Sau đó đă tiến hành phiên họp thứ 8 của Uỷ ban Phối hợp của Hội nghị quốc tế Pa–ri (PICC[86]) để thông qua lần cuối các văn kiện đưa ra Hội nghị cấp bộ trưởng. Sự việc đă diễn ra hoàn thành đúng như đă thoả thuận giữa ta với Pháp và Tổng thư kư LHQ. Sau lời khai mạc của hai đồng chủ tịch Pháp và Inđônêxia, Phó tổng thư kư Liên Hiệp Quốc Ahmed đọc bản tŕnh bày t́nh h́nh chuẩn bị trong việc thi hành Hiệp định sẽ được kư kết và đọc đầy đủ những lời giải thích về 4 điểm mà ta yêu cầu họ (việc đưa trở lại  hay đưa quân của bất cứ nước ngoài nào vào Campuchia sẽ là vi phạm Hiệp định; thông tin cần cung cấp cho UNTAC chỉ liên quan đến các lực lượng nước ngoài c̣n có mặt ở Campuchia khi kư kết Hiệp định này; sự có mặt của sĩ quan liên lạc UNTAC ở thủ đô Việt Nam, Lào và Thái Lan không có hàm ư mở rộng quyền hạn UNTAC sang các nước láng giềng của Campuchia… phải tôn trọng đầy đủ chủ quyền của các nước này). Đáp lại, tôi đă phát biểu hoan nghênh và ghi nhận những lời giải thích của Phó tổng thư kư Liên Hiệp Quốc, Levitte, đồng chủ tịch cuộc họp, biểu thị cảm ơn Việt Nam, thiện chí hợp tác.

 

Kết quả cả 4 văn kiện để kư kết đều đă được nhất trí thông qua trong UB Phối hợp, không tranh căi nào về thực chất cả, kể cả những vấn đề ta đă dự pḥng như vấn đề tù binh, Việt kiều ở Campuchia, biên giới Việt Nam–Campuchia... đều không có đoàn nào nêu ra. Giờ đây chỉ c̣n là các việc kư kết Hiệp định của anh Nguyễn Mạnh Cầm tối 23/10/1991.

 

Sáng 22/10/1991, Đài RFI[87] (Pháp) đă xin gặp tôi và đặt Câu hỏi: Ông tới Pa–ri với tư cách đại diện của Việt Nam tham dự Hội nghị hoà b́nh về Campuchia, và hôm qua ông đă tham gia thông qua văn bản cuối cùng của Hiệp định hoà b́nh. Trước hết xin ông cho biết cảm tưởng về việc kư kết văn bản này, khi mà sau mười mấy năm chiến tranh ác liệt, nay ở Campuchia đă có hoà b́nh thực sự? Câu trả lời của tôi lúc đó là: “Cảm tưởng của tôi đối với việc một hai ngày nữa sẽ kư kết Hiệp định hoà b́nh về Campuchia là cảm tưởng của một người sau nhiều ngày luồn rừng leo núi đă tới được quăng đường rộng răi thảnh thơi, và cũng là cảm tưởng của một người qua nhiều ngày đi trên sa mạc sắp đến trạm nghỉ. Tất nhiên đây không phải là trạm nghỉ cuối cùng, mà là nghỉ để tiếp tục một chặng đường mới với những thử thách mới, nhưng chắc chắn có nhiều điều hứa hẹn tốt đẹp hơn”.