Hồi ức & Suy Nghĩ  (06)

Trần Quang Cơ

 

Thành Đô là thành công hay là thất bại của ta?  

   

Ngay sau khi ở Thành Đô về, ngày 5/9/1990 anh Linh và anh Mười, có thêm anh Thạch và anh Lê Đức Anh đă bay sang Nông Pênh thông báo lại nội dung cuộc gặp cấp cao Việt–Trung với BCT Campuchia. Để thêm sức thuyết phục Nông Pênh nhận Thỏa thuận Thành Đô, anh Linh nói với lănh đạo Campuchia: “Phải thấy giữa Trung Quốc và đế quốc cũng có mâu thuẫn trong vấn đề Campuchia. Ta phải có sách lược lợi dụng mâu thuẫn này. Đừng đấu tranh với Trung Quốc đến mức xô đẩy họ bắt tay chặt chẽ với đế quốc “. Lập luận này được Lê Đức Anh mở rộng thêm: “Mỹ và phương Tây muốn cơ hội này để xoá cộng sản. Nó đang xoá ở Đông Âu. Nó tuyên bố là xoá cộng sản trên toàn thế giới. Rơ ràng nó là kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm. Ta phải t́m đồng minh. Đồng minh này là Trung Quốc.”

 

Nhưng câu trả lời của Heng Somrin thay mặt cho lănh đạo CPC, vẫn là: “Phải giữ nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của chúng ta. Những vấn đề nội bộ liên quan đến chủ quyền CPC phải do các bên CPC giải quyết”. Về “giải pháp đỏ”, Nông Pênh nhận định ư đồ của Trung Quốc không muốn 2 phái cộng sản ở Campuchia hợp tác với nhau gây phức tạp cho quan hệ của họ với Sihanouk và với phương Tây. V́ vậy chúng tôi thấy rằng khó có thể thực hiện giải pháp đỏ v́ giải pháp đỏ trái với lợi ích của TQ. Mặc dù ban lănh đạo Campuchia đă xác định rơ thái độ như vậy, song Lê Đức Anh vẫn cứ cố thuyết phục bạn: Ta nói giải pháp đỏ nhưng là giải pháp hồng, vừa xanh vừa đỏ. Trước mắt không làm được nhưng phải kiên tŕ. Ta làm bằng nhiều con đường, làm bằng thực tế. Các đồng chí cần t́m nhiều con đường tiếp xúc với Khơ–me đỏ. Vấn đề tranh thủ Khơ–me đỏ là vấn đề sách lược mang tính chiến lược… Nên kiên tŕ t́m cách liên minh với Trung Quốc kéo Khơ–me đỏ trở về … Ta đừng nói với Trung Quốc là làm giải pháp đỏ, nhưng ta thực hiện giải pháp đỏ. Có đỏ có xanh, nhưng thực tế là hợp tác 2 lực lượng cộng sản. Nguyễn Văn Linh bồi thêm: Xin các đồng chí chú ư lợi dụng mâu thuẫn, đừng bỏ lỡ thời cơ, TQ muốn đi với Mỹ, nhưng Mỹ ép TQ nên TQ cũng muốn có quan hệ tốt với Lào, Việt Nam và Campuchia. Nếu ta có sách lược tốt th́ ta có giải pháp đỏ.

 

Theo báo cáo của Đại sứ Ngô Điền, thái độ của bạn CPC đối với ta từ sau Thành Đô đổi khác. Về công khai, bạn cố tránh tỏ ra bị lệ thuộc vào Việt Nam. Trên cơ sở tính toán về lợi ích của ḿnh, bạn tự quyết định lấy đối sách, không trao đổi trước với ta, hoặc quyết định khác với sự gợi ư của ta trên nhiều việc.

 

Nh́n lại, trong cuộc gặp Thành Đô, ta đă bị mắc lỡm với Trung Quốc ít nhất trên 3 điểm:

· Trung Quốc nói cuộc gặp Thành Đô sẽ đàm phán cả vấn đề CPC và vấn đề b́nh thường hoá quan hệ, nhưng thực tế chỉ bàn vấn đề Campuchia, c̣n vấn đề b́nh thường hoá quan hệ hai nước Trung Quốc vẫn nhắc lại lập trường cũ là có giải quyết vấn đề Campuchia th́ mới nói đến chuyện b́nh thường hoá quan hệ hai nước;

· Trung Quốc nói mập mờ là Đặng Tiểu B́nh có thể gặp Cố vấn Phạm Văn Đồng, nhưng đó chỉ là cái “mồi” để kéo anh Đồng tham gia gặp gỡ cấp cao.

· Trung Quốc nói giữ bí mật việc gặp cấp cao hai nước, nhưng ngay sau cuộc gặp hầu như tất cả các nước đă được phía Trung Quốc trực tiếp hay gián tiếp thông báo nội dung chi tiết bản Thoả thuận Thành Đô theo hướng bất lợi cho ta.

 

Ngày 7/9/90 BCT đă họp thảo luận về kết quả cuộc gặp cấp cao Việt–Trung và cuộc gặp cấp cao Việt–CPC sau đó, và quyết định ngay hôm sau Đỗ Mười gặp đại sứ TQ thông báo lại lập trường của Nhà Nước CPC; đồng thời thông báo với Liên Xô, Lào như đă thông báo với CPC. Nếu có ai hỏi về công thức 6+2+2+2+1, nói không biết.

 

Báo Bangkok Post ngày 19/9/90 trong bài của Chuchart Kangwaan đă công khai hoá bản Thỏa thuận Thành Đô, viết rơ Việt Nam đă đồng ư với Trung Quốc về thành phần HĐDTTC của Campuchia gồm 6 người của Nhà nước Campuchia, 2 của Khơ–me đỏ, 2 của phái Son San, 2 của phái Sihanouk. Thành viên thứ 13 là Hoàng thân Sihanouk giữ chức chủ tịch Hội đồng. C̣n Lư Bằng trong khi trả lời phỏng vấn của Paisai Sricharatchang, phóng viên tờ Bangkok Post tại Bắc Kinh, ngày 24/10/1990, đă xác nhận có một cuộc gặp bí mật giữa lănh đạo Trung Quốc và Việt Nam hồi đầu tháng 9 và cho biết kết quả cuộc gặp đă được phản ánh qua cuộc họp giữa các bên Campuchia ngày 10/9/90 tại Jakarta. Trong khi nói không biết chắc phía Việt Nam đă cố gắng thuyết phục Nông Pênh đến đâu, Lư nhận định là Hà Nội chắc chưa làm đủ mức. Điều đó có thể thấy được qua việc Nông Pênh đă có “một thái độ thiếu hợp tác (uncooperative)”.

 

Sở dĩ ta dễ dàng bị mắc lừa ở Thành Đô là v́ chính ta đă tự lừa ta. Ta đă tự tạo ảo tưởng là Trung Quốc sẽ giương cao ngọn cờ Chủ nghĩa xă hội, thay thế Liên Xô làm chỗ dựa vững chắc cho cách mạng Việt Nam và chủ nghĩa xă hội thế giới, chống lại hiểm họa “diễn biến hoà b́nh” của chủ nghĩa đế quốc do Mỹ đứng đầu. Tư tưởng đó đă dẫn đến sai lầm Thành Đô cũng như sai lầm “giải pháp đỏ”, v.v…

 

Sau Thành Đô, trong Bộ Chính trị đă có nhiều ư kiến bàn căi về chuyến đi này. Song măi đến trước Đại hội VII, khi BCT họp (15–17/5/1991) thảo luận bản dự thảo “Báo cáo về t́nh h́nh thế giới và về việc thực hiện đường lối đối ngoại của Đại hội VI và phương hướng tới”, cuộc gặp cấp cao Việt Nam–Trung Quốc ở Thành Đô mới lại được đề cập tới khi dự thảo báo cáo của Bộ Ngoại giao có câu “có một số việc làm không đúng với các Nghị quyết của Bộ Chính trị về vấn đề Campuchia”. Cuộc họp này có mặt đầy đủ tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, cố vấn Phạm Văn Đồng, Vơ Chí Công, các ủy viên BCT Đỗ Mười, Vơ Chí Công, Vơ Văn Kiệt, Nguyễn Cơ Thạch, Lê Đức Anh, Mai Chí Thọ, Nguyễn Đức Tâm, Đào Duy Tùng, Đồng Sĩ Nguyên, Đoàn Khuê, Nguyễn Thanh B́nh.

 

Anh Tô nói: Có thời giờ và có cơ hội đem ra kiểm điểm những việc vừa qua để nhận định sâu hơn th́ tốt thôi. Sau chuyến đi Thành Đô, tôi vẫn ân hận về thái độ của ḿnh. Nói là tự kiểm điểm th́ đây là tự kiểm điểm. Tôi ân hận ở hai chỗ. Lúc ở Thành Đô, khi bàn đến vấn đề Campuchia, người nói trước là anh Linh. Anh Linh nói đến phương án hoà giải dân tộc Campuchia. Sau đó Lư Bằng tŕnh bày phương án “6+2+2+2+1” mà Từ Đôn Tín khi đàm phán với anh Cơ ở Hà Nội đă ép ta nhận song ta bác. Anh Linh đă đồng ư (nói không có vấn đề). Lúc đó có lẽ do thấy thái độ của tôi, Giang mời tôi nói. Tôi nói tôi không nghĩ phương án 13 này là hay, ư tôi nói là không công bằng… Tôi ân hận là lẽ ra sau đó đoàn ta nên hội ư lại sau bữa tiệc buổi tối. Nhưng tôi không nghĩ ra, chỉ phân vân. Sáng sớm hôm sau, mấy anh em bên Ban Đối Ngoại và anh Hồng Hà nói nhỏ với tôi là cốt sao tranh thủ được nguyên tắc “consensus”, c̣n con số không quan trọng. Tôi nghe hơi yên tâm, nhưng vẫn nghĩ có hội ư vẫn hơn. Sau đó, Trung Quốc đưa kư bản Thoả thuận có nói đến con số 13… Tôi phân vân muốn được biết nội dung trước khi ta hạ bút kư. Nếu như đoàn ta trao đổi với nhau sau phiên họp đầu, sau khi Lư Bằng đưa ra công thức 6+2+2+2+1 th́ có thể ta có cách bàn thêm với họ. Hai là trước khi kư văn bản do chuyên viên hai bên thỏa thuận, các đồng chí lănh đạo cần xem lại và bàn bạc xem có thể thêm bớt ǵ trước khi kư. Nghĩ lại, khi họ mời tổng bí thư, chủ tịch Hội đồng bộ trưởng ta sang gặp tổng bí thư và chủ tịch Quốc vụ viện, họ lại mời thêm tôi. Tôi khá bất ngờ, không chuẩn bị kỹ. Anh Mười cho là họ mời rất trang trọng cơ hội lớn nên đi. Nhưng đi để rồi kư một văn bản mà ta không lường trước hậu quả về phản ứng của bạn CPC, rất gay gắt. Tôi hiểu là bạn khá bất b́nh, thậm chí là uất nhau. Cho là ta làm sau lưng, có hại cho người ta.

 

Anh Linh: Anh Tô nhớ lại xem. Không phải tôi đồng ư, tôi chỉ nói ta nghiên cứu xem xét và cuối cùng đặt vấn đề thông báo lại Campuchia… Bây giờ tôi vẫn nghĩ thế là đúng. Tôi không thấy ân hận về việc ḿnh chấp nhận phương án 13… Vấn đề Campuchia dính đến Trung Quốc và Mỹ. Phải tính đến chiến lược và sách lược. Phải tiếp tục làm việc với Campuchia về chiến lược, phải có nhiều biện pháp  làm cho bạn thấy âm mưu của đế quốc Mỹ chống phá chủ nghĩa xă hội ở Châu Á, cả ở Cuba. Nó đă phá Trung Quốc qua vụ Thiên An Môn rồi, nay chyển sang phá ta… Trung Quốc muốn thông qua Khơ–me đỏ nắm Campuchia. Song dù bành trướng thế nào th́ Trung Quốc vẫn là một nước xă hội chủ nghĩa.

 

Anh Thạch: …Về chuyện Thành Đô, Trung Quốc đă đưa cả băng ghi âm cuộc nói chuyện với lănh đạo ta ở Thành Đô cho Nông Pênh, Hun–xen nói là trong biên bản viết là hai bên đồng ư thông báo cho Campuchia phương án 6+2+2+2+1, nhưng băng ghi âm lại ghi rơ là anh Linh nói “Không có vấn đề ǵ”. Tôi xin tŕnh bày để các anh hiểu nguyên do con số 13 là từ đâu? Tại Tokyo tháng 6/1990, Sihanouk và Hun–xen đă thỏa thuận thành phần SNC gồm 2 bên ngang nhau = 6+6. Từ Đôn Tín sang Hà Nội, ép ta nhận công thức 6+2+2+2+1 không được. Đến cuộc gặp Thành Đô, Trung Quốc lại đưa ra. Khi ta sang Nông Pênh để thuyết phục bạn nhận con số 13 với nguyên tắc làm việc theo “consensus” trong SNC, anh Hun–xen nói riêng với tôi: chúng tôi thắng mà phải nhận số người ít hơn bên kia (bên ta 6, bên kia 7) th́ mang tiếng là Campuchia bị Việt Nam và Trung Quốc ép. Như vậy dù là “consensus” cũng không thể thuyết phục nhân dân Campuchia được. Chỉ có thể nhận 12 hoặc 14 thành viên trong Hội đồng Dân tộc Tối cao. Phải nói là Nông Pênh thắc mắc nhiều với ta. Liên Xô, Anh, Pháp, Mỹ đều cho ta biết là Trung Quốc đă thông báo cho họ đầy đủ về Thoả thuận Thành Đô, và nói họ là lănh đạo Việt Nam không đáng tin cậy, Trung Quốc đă sử dụng Thành Đô để phá quan hệ của  ta với các nước và chia rẽ nội bộ ta.

 

Hôm sau, BCT họp tiếp, anh Mười nói: Ta tán thành Sihanouk làm chủ tịch Hội đồng Dân tộc Tối cao, Hun–xen làm phó chủ tịch, lấy nhất trí trong Hội đồng Dân tộc Tối cao làm nguyên tắc. Đây không phải là một nhân nhượng… Nếu có anh Thạch đi Thành Đô th́ tốt hơn…

 

Anh Tô: Vấn đề chủ yếu không phải là thái độ của ta ở Thành Đô như anh Mười nói, mà là kết quả và tác động đến bạn Campuchia đánh giá ta như thế nào? ở Thành Đô điều ta làm có thể chứng minh được, nhưng Campuchia cho là ta giải quyết trên lưng họ. V́ vậy mà tôi ân hận. Tôi ân hận về sau này sẽ để lại hậu quả.

 

Anh Mười: …Với tinh thần một người cộng sản, tôi cho là ta không sai. Bạn Campuchia nghĩ ǵ ta là quyền của họ. Với tinh thần một người cộng sản, ta không bao giờ vi phạm chủ quyền của Campuchia.

 

Anh Thạch: Họp Bộ Chính trị để kiểm điểm, tôi xin được nói thẳng. Có phải khi đi Thành Đô, anh Đỗ Mười có nói với tôi là hai ông anh nhận hơi sớm. Anh Linh nhận công thức 13 và anh Tô “consensus” (nguyên tắc nhất trí).

 

Anh Vơ Văn Kiệt: Trong thâm tâm tôi, tôi không đồng ư có anh Tô trong đoàn đi Thành Đô. Nếu có gặp Đặng th́ anh Tô đi là đúng. Tôi nói thẳng là tôi xót xa khi biết anh Tô đi cùng anh Linh và anh Mười chỉ để gặp Giang và Lư, không có Đặng. Ḿnh bị  nó lừa nhiều cái quá. Tôi nghĩ Trung Quốc chuyên là cạm bẫy.

 

Vốn là người điềm đạm, song anh Tô có lúc đă phải phát biểu: Ḿnh hớ, ḿnh dại rồi mà cũng c̣n nói sự nghiệp cách mạng là trên hết, c̣n được hay không th́ không sao. Cùng lắm là nói cái lư đó, nhưng tôi không nghĩ như vậy là thượng sách. Tôi không nghĩ người lănh đạo nên làm như vậy.

 

Thỏa thuận Việt Nam–Trung Quốc ở Thành Đô đúng như anh Tô lo ngại đă để lại một ấn tượng không dễ quên đối với Nông Pênh. Trong phiên họp Quốc hội Campuchia ngày 28/2/1991, Hun–xen phát biểu: “Như các đại biểu đă biết, vấn đề Hội đồng Dân tộc Tối cao này rất phức tạp chúng ta phải đấu tranh khắc phục và làm thất bại âm mưu của kẻ thù nhưng bọn ủng hộ chúng không ít đâu. Mặc dù Hội đồng đă được thành lập trên cơ sở 2 bên b́nh đẳng nhưng người ta vẫn muốn biến nó thành 4 bên theo công thức 6+2+2+2+1, và vấn đề chủ tịch làm cho Hội đồng không hoạt động được”.

 

Tôi c̣n nhớ khi tiếp tôi ở Nông Pênh, ngày 28/9/1990, Hun–xen đă có những ư khá mạnh  khi nói về thoả thuận Thành Đô: Khi gặp Sok An ở Băng Cốc hôm 17/9, TQ dọa và đ̣i SNC phải công nhận công thức mà VN và TQ đă thỏa thuận. Nhưng Nông Pênh độc lập. Sok An đă nói rất đúng khi trả lời TQ là ư này là của VN không phải của Nông Pênh.

 

Cuộc hội đàm Thành Đô tháng 9/1990 hoàn toàn không phải là một thành tựu đối ngoại của ta, trái lại đó là một sai lầm hết sức đáng tiếc về đối ngoại. V́ quá nôn nóng cải thiện quan hệ với Trung Quốc, đoàn ta đă hành động một cách vô nguyên tắc, tưởng rằng thoả thuận như thế sẽ được ḷng Bắc Kinh nhưng trái lại thỏa thuận Thành Đô đă làm chậm việc giải quyết vấn đề Campuchia và do đó chậm việc b́nh thường hoá quan hệ với Trung Quốc, uy tín quốc tế của ta bị hoen ố.

 

Việc ta đề nghị hợp tác với Trung Quốc bảo vệ chủ nghĩa xă hội chống đế quốc Mỹ, thực hiện giải pháp đỏ ở Campuchia là không phù hợp với Nghị Quyết 13 của Bộ Chính Trị mà c̣n gây khó khăn cho ta trong việc đa dạng hóa quan hệ với các đối tượng khác như Mỹ, phương Tây, ASEAN và tác động không thuận lợi đến quan hệ giữa ta và đồng minh, nhất là quan hệ với Liên Xô và Campuchia. Trung Quốc một mặt bác bỏ những đề nghị đó của ta, nhưng mặt khác lại dùng ngay những đề nghị đó để bôi xấu ta với các nước khác nhằm tiếp tục cô lập ta, gây sức ép với ta và Campuchia.

 

Cùng với việc ta thúc ép Nông Pênh đi vào giải pháp đỏ, việc ta thỏa thuận với Trung Quốc về công thức HĐDTTC tại Thành Đô là không phù hợp với nguyên tắc nhất quán của Đảng ta là không can thiệp và không quyết định các vấn đề nội bộ của Campuchia, làm tăng mối nghi ngờ vốn có của bạn Campuchia đối với ta, đi ngược lại chủ trương tăng cường và củng cố mối quan hệ của ta với Campuchia và Lào.

 

Ai là người đáng lư ra phải nhớ dai?

 

Sau cuộc gặp cấp cao ở Thành Đô, yêu sách chính của Trung Quốc đối với ta trong vấn đề Campuchia tập trung chủ yếu vào việc đ̣i ta thực hiện thỏa thuận Thành Đô, tác động với Nông Pênh theo hướng: nhận bầu Sihanouk làm chủ tịch Hội đồng Dân tộc Tối cao (Supreme National Council) gồm 13 thành viên của 4 bên Campuchia; chấp nhận văn kiện của 5 nước thường trực Hội Đồng Bảo An về vấn đề Campuchia.

 

6 giờ sáng ngày 9/9/1990, đại sứ Trung Quốc đến Ban Đối Ngoại (chứ không đến Bộ Ngoại giao) gặp Hồng Hà trao thông điệp báo các bên CPC sẽ họp ngày 10/9 tại Gia–các–ta để bàn việc lập HĐDTTC và nhấn mạnh yêu cầu phía Việt Nam tác động theo hướng đă thoả thuận tại Thành Đô. Ngay sau đó BCT đă họp trao đổi về thông điệp đó và quyết định cử tôi đi Gia–các–ta. Trong cuộc họp này BCT đă quyết định từ nay các tiếp xúc đối ngoại về mặt Nhà Nước đều phải qua Bộ Ngoại Giao và phải báo cáo trước với anh Thạch và Bộ Trưởng Quốc Pḥng Lê Đức Anh (?) v́ cách làm của đại sứ Trung Quốc phớt lờ Bộ Ngoại Giao một cách quá lộ liễu.

 

Trưa ngày 9/9/1990 tôi cùng anh Huỳnh Anh Dũng đáp máy bay qua đường Bangkok sang thủ đô Inđônêxia để theo dơi cuộc họp của các bên Campuchia bàn về việc thành lập HĐDTTC. Không có “cẩm nang” nào kèm theo chỉ thị đó cả, chỉ có lời dặn ngắn gọn của Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh là cố lập được HĐDTTC. Chiều tối 10/9/1990, vừa chân ướt chân ráo từ sân bay về đến sứ quán ta ở Gia–các–ta, tôi đă nhận được một cú điện thoại từ sứ quán Trung Quốc gọi tới. Trương Thanh gọi điện thoại đến nói lời chào từ biệt tôi trước khi rời Gia–các–ta và cảm ơn tôi đă tác động tích cực khiến cho cuộc họp các bên  Campuchia tối  nay đạt được một số kết quả (?). Tôi trả lời là tôi không dám nhận sự biểu dương đó, nếu như cuộc họp có kết quả tốt th́ đó là do thiện chí của Nhà Nước Campuchia.

 

Chả là lúc tôi xuống sân bay Gia–các– ta cũng là lúc cuộc họp giữa các bên CPC vừa bế mạc sau khi đă thoả thuận lập HĐDTTC gồm 12 thành viên, chức chủ tịch c̣n để trống và tuần tới sẽ họp phiên đầu ở Bangkok để giải quyết nốt vấn đề chủ tịch HĐDTTC. Bản Tuyên bố chung của cuộc họp có ghi “Các bên CPC chấp nhận toàn bộ văn kiện khung của P5 làm cơ sở để giải quyết cuộc xung đột CPC”. Tôi nghĩ bụng Bộ Chính Trị bảo tôi sang Gia–các–ta có thể là một tác động sách lược để tỏ ra với Trung Quốc là ta đang tích cực thực hiện thỏa thuận Thành Đô. C̣n Trương Thanh gọi điện cảm ơn tôi thực ra cũng là một sự vỗ về của Trung Quốc để khuyến khích tôi tiếp tục cố gắng thực hiện thỏa thuận Thành Đô. Nhưng sự khuyến khích đó lại có tác dụng trái ngược lại, làm thức tỉnh cái con người bướng bỉnh trong tôi. Từ đầu, tôi và số anh em chuyên nghiên cứu vấn đề Campuchia và quan hệ với Trung Quốc trong Bộ Ngoại giao đă rất không thông với Thỏa thuận Thành Đô v́ nhiều lẽ, nay tôi càng thấy ḿnh không thể hành động trái với điều ḿnh cho là lẽ phải.

 

Ngày 13/9/1990 tôi lại được trong nước chỉ thị đi thẳng từ Jakarta sang Bangkok để theo dơi phiên họp đầu tiên của SNC ở đó. Sáng 14/9/1990 Bí thư thường trực Bộ Ngoại Giao Thái Kasem mời tôi tới Bộ Ngoại Giao Thái Lan nói chuyện. Chủ đề câu chuyện vẫn là vấn đề Campuchia, Kasem hỏi ḍ tôi về thoả thuận giữa Việt Nam và Trung Quốc về cơ chế SNC. Tôi trả lời đó chỉ là những tin đồn không căn cứ, không nên tin. Trưa hôm đó, Sok An, thứ trưởng ngoại giao Campuchia, t́m đến gặp tôi. Anh hỏi ư kiến tôi về cuộc họp SNC ở Bangkok sắp tới, thái độ ta nên như thế nào nếu đối phương đ̣i đưa Sihanouk làm chủ tịch SNC và là thành viên thứ 13 của SNC? Tôi gợi ư cần giữ vững nguyên tắc hai bên ngang nhau. Để tỏ thiện chí, một lần nữa, ta có thể nhận cho đối phương thêm 1 người nhưng bên ta cũng phải thêm 1 người (mỗi bên 7 người). Không 12 th́ 14 chứ không nhận 13. Sau đó tôi lại được anh Sok An cho biết là Kraisak, con trai Thủ tướng Chatichai và là thành viên trong nhóm cố vấn của thủ tướng Thái, đă bảo anh rằng ông ta được Bộ Ngoại Giao Thái thông báo là Việt Nam cũng ủng hộ việc lập SNC với 13 thành viên do Sihanouk đứng đầu. Tôi nói với Sok An đấy là điều bịa đặt và tôi sẽ gặp Kraisak để nói lại. Chiều hôm đó khi gặp Kraisak, tôi đă nói khá thẳng rằng: “Không thể coi ông Sihanouk là ông chủ ở Campuchia, là vua đứng trên tất cả. Vấn đề thành phần cũng như chức chủ tịch Hội đồng Dân tộc Tối cao phải do người Campuchia quyết định. Việt Nam và Trung Quốc không có quyền bỏ phiếu về vấn đề đó”. Sau đó Kraisak đă kể lại cho cả Kasem. Kết quả là cuộc họp Hội đồng Dân tộc Tối cao Campuchia (SNC) phiên đầu tiên ngày 17/9/1990  tại Bangkok  đă tan vỡ v́ Hun–xen không chấp nhận công thức “6+2+2+2+1”, cự tuyệt bầu Sihanouk làm chủ tịch với tư cách là thành viên thứ 13 của HĐDTTC. Hẳn TQ đă gán trách nhiệm, hoặc ít nhất cũng là một phần trách nhiệm về thất bại đó cho tôi.

 

Hạ tuần tháng 9/1990, Trung Quốc đón Phó thủ tướng Vơ Nguyên Giáp thăm Trung Quốc và dự lễ khai mạc Á Vận Hội (ASIAD) 11 với tư cách là “khách mời đặc biệt của Chính phủ Trung Quốc” (tuy nhiên báo chí TQ vẫn đưa tin việc TQ mời Vơ Nguyên Giáp là theo yêu cầu của ta, dù rằng ngày 1/9/1990 khi tiếp đoàn cấp cao ta ở Thành Đô chính GiangTrạch Dân đă nói sẽ mời anh Giáp dự khai mạc ASIAD như một cử chỉ thiện chí của họ). Ngày 24/9/1990 khi tiếp Đại tướng Vơ Nguyên Giáp, Thủ tướng Lư Bằng có nói: “Sau cuộc gặp cấp cao ở Thành Đô, cuộc họp Jakarta kết quả tốt, đă ra được tuyên bố lập HĐDTTC 13 người. Song đến khi họp HĐDTTC ở Bangkok th́ không tốt. Xin nói thẳng thẳn với đồng chí là chúng tôi thấy Thứ trưởng Trần Quang Cơ có tác dụng xấu trong việc này. Khi Kasem hỏi có thực sự giữa Việt Nam và Trung Quốc đă đi đến thoả thuận lập SNC gồm 13 người hay không? Trần Quang Cơ đă đáp rằng hoàn toàn không có việc đó, đó hoàn toàn là những điều dối trá. Chúng tôi không hiểu tại sao Thứ trưởng Trần Quang Cơ lại nói nhữnglời như vậy, hoàn toàn truyền đạt thông tin không đúng đâu”. Anh Giáp đáp: “Khi về tôi sẽ hỏi lại về phát biểu của đồng chí Cơ. Nếu có như vậy th́ đấy không phải là ư kiến của Trung Ương chúng tôi. Tôi không biết việc này v́ tôi không phụ trách công tác ngoại giao”.

 

Tiện đây tôi thấy cũng nên ghi lại một chuyện có thể giúp cho chúng ta hiểu thêm đặc điểm của người Trung Quốc: sau khi đến Bắc Kinh, Đại tướng Vơ Nguyên Giáp có đề nghị gặp một số tướng lĩnh cao cấp trong quân đội Trung Quốc như Dương Đắc Chí (Dương là tổng chỉ huy cuộc chiến tranh đánh Việt Nam năm 1979). Nhưng Dương nói một cách bực tức: “Đời nào tôi lại gặp ông ta. Mồ của các cán bộ chiến sĩ ta c̣n chưa xanh cỏ!” Ngày 1/10/90 Dương cùng một số tướng lĩnh khác c̣n gọi điện thoại thăm hỏi động viên sĩ quan binh lính ở Vân Nam, Quảng Tây. Nhà văn quân đội Lư Tôn Bảo, tác giả cuốn “Ṿng hoa dưới chân núi cao” viết về cuộc tấn công vào Việt Nam tháng 2 năm 1979, phát biểu: “Xem tin Lư Bằng tiếp Vơ Nguyên Giáp mà trong ḷng tôi cảm thấy bứt rứt. Giờ đây chúng ta phải xem xét lại xem có nên gây ra cuộc chiến tranh đó không? Chẳng những phần lớn sĩ quan binh lính dưới đơn vị không thông mà ngaycả một số tướng lĩnh cao cấp cũng không thông nổi”.

 

Tư liệu trên đây tôi lấy ở bài “Vơ Nguyên Giáp thăm Bắc Kinh gây chấn động” của Quan Nghiệp Thành đăng trên báo “Tranh Minh” xuất bản ở Hồng Kông tháng 11/1990. Từ đó đến nay, tôi vẫn phân vân măi là người Việt Nam và người Trung Quốc đáng lư ra ai là người phải nhớ dai hơn về sự kiện tháng 2 năm 1979?

 

Món nợ Thành Đô

 

Từ sau cuộc gặp Thành Đô, yêu sách chính của Trung Quốc đối với ta về vấn đề CPC chủ yếu là đ̣i ta thực hiện thỏa thuận Thành Đô, cụ thể là tác động với Nông Pênh nhận SNC có 13 thành viên và do Sihanouk làm chủ tịch, chấp nhận văn kiện của P5. Trung Quốc thấy rằng việc thực hiện thỏa thuận Thành Đô gặp trở ngại chính từ Bộ Ngoại Giao Việt Nam nên chủ trương chia rẽ nội bộ ta càng trắng trợn hơn. Đại sứ mới của Malaysia ngày 3/10/90 đến chào xă giao, nói với tôi là ở Bắc Kinh người ta đưa tin là có sự khác nhau giữa Bộ Ngoại Giao và Lănh đạo Đảng về chủ trương đối ngoại cho nên trong chuyến đi Thành Đô gặp cấp cao Trung Quốc không có ông Nguyễn Cơ Thạch. Sau Thành Đô, trong khi ta nới rộng phạm vi hoạt động của sứ quán Trung Quốc ở Việt Nam th́ phía Trung Quốc lại tỏ ra lạnh nhạt với Bộ Ngoại Giao, công kích lănh đạo Bộ Ngoại Giao Việt Nam; hạn chế hoạt động của đại sứ ta ở Bắc Kinh, không sắp xếp đại sứ ta tham dự các cuộc Lư Bằng tiếp anh Vơ Nguyên Giáp, anh Vũ Oanh; cử cán bộ cấp thấp tiếp và làm việc với  đại sứ ta. Trung Quốc một mặt khẳng định là vấn đề Campuchia chưa giải quyết th́ quan hệ Trung–Việt “chỉ có bước đi nhỏ”, mặt khác thăm ḍ và tích cực tác động đến vấn đề nhân sự và phương hướng chuẩn bị Đại hội VII của Đảng Cộng Sản Việt Nam sẽ họp vào giữa năm 1991. Từ tháng 3/91, tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội Trung Quốc khoá 7, Lư Bằng tuyên bố “quan hệ Trung–Việt đă tan băng” và có một số điều chỉnh mềm dẻo hơn trong vấn đề Campuchia. Về vấn đề HĐDTTC của Campuchia, Trung Quốc không cố bám giữ con số 13, tạm gác vấn đề chủ tịch, phó chủ tịch, đưa ra công thức Sihanouk chủ tŕ các cuộc họp SNC. Từ chỗ chỉ có quan hệ với 3 phái, sau cuộc gặp SNC ở Pattaya (Thái Lan), Trung Quốc chuyển sang quan hệ trực tiếp với Nhà Nước Campuchia, mời Hun–xen thăm Bắc Kinh trong 3 ngày (22–24/7/91). Những thỏa thuận cấp cao ở Thành Đô đă trở thành vô nghĩa,

 

Chiều chủ nhật 18/11/90 họp BCT về vấn đề CPC. Từ sau khi 5 nước thường trực HĐBA thỏa hiệp về văn kiện khung (28/8/1990), cuộc đấu tranh về vấn đề CPC đi vào giai đoạn cuối, gay gắt và quyết định. Thay mặt BNG, tôi tŕnh bày đề án để BCT cho ư kiến về nguyên tắc đấu tranh về văn kiện khung của P5 và về vấn đề Hội đồng Dân tộc Tối cao CPC. Khi tôi tŕnh bày xong, anh Thạch đề nghị BCT khẳng định 2 điểm: 1) vấn đề HĐDTTC là vấn đề nội bộ của CPC, ta không ép bạn được; phải tôn trọng chủ quyền của bạn, 2)về văn kiện khung, ta phải bác những điểm vi phạm Hiến chương LHQ. Nếu không sau này có thể ảnh hưởng đến vấn đề xử lư Trường Sa… Ta thấy rơ TQ và Mỹ đều nhất trí xoá Nhà Nước CPC bằng cách khác nhau…

 

Cuối cuộc họp, Tổng Bí thư Linh kết luận: về SNC ta không thể góp ư với bạn được… Nếu nói rằng TQ và Mỹ như nhau th́ tôi không đồng ư. Sau hội nghị T.Ư., BCT sẽ định giá lại một số vấn đề liên quan đến Ngoại Giao như nhận định về Trung Quốc thế nào, tuyên bố hoặc nói về TQ như thế nào? (Nguyễn Cơ Thạch nói luôn: Đồng ư đánh giá lại cả cuộc hội đàm ở Thành Đô).

 

Dự thảo Hiệp định toàn bộ về CPC ngày 21/6/90 do P5 thảo ra đă được các thành viên Hội Đồng Dân Tộc Tối Cao Campuchia chấp nhận về cơ bản tại cuộc họp ở Pa–ri ngày 23/12/1990. Chủ trương của ta là giải pháp chính trị về Campuchia, nhất là những vấn đề nội bộ Campuchia, phải do bạn tự quyết định và chịu trách nhiệm với dân tộc CPC. Ta hết sức giúp đỡ họ, gợi ư để họ tránh được những thất bại  không đáng có, nhưng ta không thể làm thay. Như vậy ta vừa hết ḷng giúp bạn vừa không để Việt Nam một lần nữa bị sa lầy vào cuộc đấu tranh nội bộ của CPC. Không để vấn đề giải pháp chính trị về CPC lại một lần nữa trở thành vấn đề lịch sử trong quan hệ Việt Nam–Campuchia.

 

Theo yêu cầu của bạn, ngày 14/1/1991, tôi cùng các anh Huỳnh Anh Dũng, Lê Công Phụng, Vũ Tiến Phúc, chuyên viên về giải pháp Campuchia, sang Nông Pênh làm việc với bạn với mục đích:

a)  t́m hiểu suy nghĩ và ư định của bạn về giải pháp Campuchia sau khi bạn đă chấp nhận văn kiện khung của P5 tại cuộc họp Gia–các–ta 10.9.1990 và chấp nhận về cơ bản dự thảo Hiệp định 26.11 của P5 tại cuộc họp Pa–ri 23.12.1990;

b) thuyết phục bạn kiên quyết tách riêng các vấn đề nội bộ thuộc chủ quyền Campuchia để chỉ thảo luận và giải quyết trong SNC;

c)  thỏa thuận kế hoạch chuẩn bị cho việc họp lại Hội nghị quốc tế Pa–ri.

 

Khi tiếp tôi, anh Hun–xen nói: Trong nội bộ Campuchia, xu hướng mạnh nhất là muốn có một giải pháp chính trị giữ được thành quả cách mạng, không để cho Polpot quay trở lại … T́nh h́nh hiện nay rất tế nhị. T́nh h́nh phức tạp sẽ xảy ra nếu ta chấp nhận một giải pháp vô nguyên tắc. Chỉ cần chấp nhận một giải pháp như vậy th́ nội bộ Campuchia đă hỗn loạn rồi chứ chưa nói là kư kết. Ta giữ lập trường cứng như vừa qua là tốt. Đề nghị Việt Nam không để đẩy  quá nhanh tiến tŕnh giải pháp.

 

Như vậy, qua các cuộc gặp Bộ trưởng Hor Nam Hong, thứ trưởng Dith Munty và thứ trưởng Sok An, nhất là qua phát biểu của Chủ tịch Hun–xen chiều 16.11, có thể thấy được chủ trương của bạn là cố kéo dài trạng thái đánh đàm hiện tại v́ nhiều yếu tố chủ quan khách quan khác nhau, song chủ yếu v́ trong nội bộ lănh đạo bạn xu hướng chưa muốn đi vào giải pháp c̣n rất mạnh. Hun–xen cho biết là theo quyết định của BCT, trong cuộc họp Trung ương ngày 17.1.1991, ông ta sẽ thông báo cho Trung ương là năm 1991 sẽ chưa có giải pháp. Tuy nhiên tôi lại có cảm thấy trong suy nghĩ cũng như trong hành động lănh đạo CPC đang có nhiều mâu thuẫn lúng túng, chưa xác định được cho ḿnh một đường lối rơ ràng mạch lạc, mà chỉ lo đối phó từng bước với những vấn đề trong nội bộ cũng như với đối phương.

 

Trong lần gặp Heng Somrin ở Hà Nội ngày 24.2.1991, anh Nguyễn Văn Linh vẫn cố ép bạn “cần thực hiện tốt chính sách hoà hợp dân tộc, không nên nhấn mạnh vấn đề diệt chủng, nên nhận HĐDTTC gồm 13 thành viên và Sihanouk làm chủ tịch”. Heng Somrin về nói lại với Bộ Chính trị đảng CPC th́ tất cả đều băn khoăn và ngại rằng Heng Somrin không thạo tiếng Việt nên nghe có thể sai sót.

 

Thực ra, như Hun–xen nói với anh Ngô Điền, khi nghe Heng Somrin nói lại những ư kiến của anh Linh, BCT Campuchia rất lo v́ thấy Việt Nam khác Campuchia nhiều quá. Ngày 13/3/91 Hun–xen nói với anh Thạch: Có thể bỏ sách lược phân hoá Khơ–me đỏ, nhưng dứt khoát không thể bỏ vấn đề diệt chủng. Nếu bỏ sẽ có 3 mối nguy hiểm: sẽ mất con bài mặc cả trong đàm phán ngay từ đầu; mất lợi thế trong tổng tuyển cử; kẻ thù sẽ có lợi trong việc vu cáo Việt Nam là mọi chuyện xảy ra 12 năm qua đều do Việt Nam gây ra cả. Số lượng thành viên HĐDTTC  có thể là 12 hoặc 14, không thể chấp nhận con số 13, sẵn sàng cho Sihanouk làm chủ tịch, Hun–xen làm phó, không đ̣i chức chủ tịch luân phiên hay đồng chủ tịch nữa.

 

Trong cách làm này của ta cho thấy ta chỉ quan tâm đến điều mà ta cho là có lợi ích đối với ta mà thiếu cân nhắc xem điều đó có phù hợp với lợi ích của bạn không. Cách làm đó tất yếu sẽ ảnh hưởng xấu đến quan hệ gắn bó lâu nay giữa ta với Nông Pênh.

 

Đầu năm 1991, BCT đă có cuộc họp tại T78 Thành phố HCM (24–25/1/91) để bàn về vấn đề Campuchia. Tôi tŕnh bày chủ trương tách hai mặt quốc tế với mặt nội bộ của giải pháp CPC, đồng thời báo cáo ư kiến của Hun–xen cho biết là Bộ chính trị CPC quyết định không đi vào giải pháp trong năm 1991. BCT quyết định cần thăm ḍ khả năng họp BCT 3 nước để hướng CPC đi vào giải pháp, họp có tính chất trao đổi, gợi ư chứ không quyết định. Ta không ép bạn, đồng thời phải tỏ được thiện chí, tránh mọi việc làm ta bị cô lập.

 

Nhân dịp này, tôi đă ngỏ ư với anh Thạch là tôi muốn rút khỏi Trung ương khoá tới. Anh Thạch tỏ ư không tán thành. Đến tháng 2/91, khi có cuộc bàn đại biểu ở các tỉnh để đi dự Đại hội VII, tôi đă gửi thư cho anh Nguyễn Đức Tâm, trưởng ban Tổ chức Trung Ương, xin rút khỏi danh sách dự Đại hội VII. Lúc này tinh thần tôi đă có phần mệt mỏi v́ những sự việc trong thời gian qua. Nhưng yêu cầu của tôi không được đáp ứng. Tháng 6/1991, tôi vẫn có giấy đi dự Đại hội Đảng với tư cách đại biểu tỉnh Sơn La tôi tiếp tục tham gia T.Ư. khoá VII.

 

T́nh h́nh bất đồng ư kiến trong BCT càng đến gần Đại hội càng bộc lộ gay gắt. Ngày 13/4/1991, trong cuộc họp BCT bàn về t́nh h́nh thế giới và đường lối đối ngoại để chuẩn bị báo cáo chính trị tại Đại hội, sau khi anh Thạch báo cáo về “T́nh h́nh thế giới và chiến lược đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta”, Lê Đức Anh giới thiệu đại tá Lân, cán bộ Cục II Bộ Quốc Pḥng, tŕnh bày về “t́nh h́nh thế giới và mưu đồ đế quốc”. Nghe xong, TBT Nguyễn Văn Linh phát biểu: Chủ quan tôi nghĩ giữa bản tŕnh bày sáng nay (của Bộ Ngoại giao) và bản tŕnh bày t́nh h́nh quân sự chiều nay (của Bộ Quốc pḥng) có nhiều chỗ khác nhau. Muốn thảo luận chủ trương th́ phải thảo luận t́nh h́nh trước, nhưng cách đánh giá t́nh h́nh c̣n khác nhau. Cố vấn Phạm Văn Đồng: Nói khôi hài lúc này thật không phải lẽ. Chúng ta cần cố gắng làm việc đúng lương tâm, nghiêm chỉnh, đúng trách nhiệm của ḿnh. Bộ Chính trị đă giao cho 3 đồng chí phụ trách 3 ngành làm nhưng lại chưa làm. Lê Đức Anh: BCT nên nghe t́nh h́nh nhiều mặt, ngay trong nước chúng ta cũng đánh giá khác nhau. Căn cứ vào đánh giá chung, mỗi ngành có đề án riêng, không làm chung được. Nguyễn Cơ Thạch đồng ư ngành thảo luận để đi tới nhất trí về t́nh h́nh, c̣n công tác th́ mỗi ngành làm.

 

Trên tinh thần đó, ngày 2/5/1991, đă có cuộc họp giữa Ngoại giao, An ninh và Quốc pḥng để thống nhất nhận định t́nh h́nh thế giới. Dự họp về phía Quốc pḥng có Lê Đức Anh, Trần Văn Quang, đại tá Lân (Lân thọt); Bộ Nội vụ có Mai Chí Thọ; Ngoại giao có Nguyễn Cơ Thạch và 4 thứ trưởng. C̣n có 3 phó ban đối ngoại (Nguyễn Thị B́nh, Trịnh Ngọc Thái, Nguyễn Quang Tạo). Thu hoạch của cuộc họp khá nghèo nàn, không đem lại được sự nhất trí trong nhận định t́nh h́nh, chỉ nhất trí được mấy điểm lư luận chung chung.

 

Chỉ c̣n một tháng đến ngày họp Đại hội VII. BCT họp liền gần 3 ngày (15, 16 và 17/5/1991) để thảo luận bản dự thảo “Báo cáo về t́nh h́nh thế giới và việc thực hiện đường lối đối ngoại của Đại hội VI và phương hướng tới”. BCT có mặt đông đủ. Theo dơi cuộc họp ở ghế dự thính (số dự thính lúc đầu có 10 người, từ chiều 16/5 khi đi vào kiểm điểm việc thực hiện các Nghị quyết về đối ngoại của Đại hội VI th́ số dự thính thu hẹp lại chỉ c̣n có Hồng Hà, Hoàng Bích Sơn, Đinh Nho Liêm và tôi) từ đầu đến cuối, tôi cảm nhận rơ sự đấu tranh giữa hai quan điểm về mặt quốc tế, nhất là khi đi vào phần kiểm điểm thực hiện đường lối đối ngoại, nói đến vấn đề CPC và quan hệ với Trung Quốc. Bản dự thảo báo cáo của Bộ ngoại giao có nêu “đă có một số việc làm không đúng với các Nghị quyết của Bộ Chính trị”, “thái độ đối với Trung Quốc có sự thay đổi qua 2 giai đoạn (trước và sau năm 1989) trái với Nghị quyết 13”, “một số việc làm không đúng với các Nghị quyết của Bộ Chính trị về vấn đề Campuchia”, “giữa ta và bạn Lào đă bộc lộ sự khác nhau rơ rệt” về đối ngoại, ta “lúng túng, thiếu b́nh tĩnh” trước cuộc khủng hoảng chính trị ở Đông Âu và Liên Xô … đă bỏ lỡ cơ hội cải thiện với ASEAN (khi Thái Lan mời Thủ tướng Đỗ Mười sang thăm, nhưng anh Mười nói phải đi Liên Xô, đi Ấn–độ rồi mới đi Thái), đă làm nảy sinh tranh căi khá căng, đặc biệt khi bàn đến đúng sai trong chuyện gặp cấp cao TQ ở Thành Đô tháng 9/1990 và vấn đề chống diệt chủng và “giải pháp đỏ”.

 

Anh Vơ Chí Công: Về TQ rất phức tạp …BCT đă đánh giá TQ có hai mặt XHCN và bá quyền. Về XHCN cũng cần thấy là trong “nháy nháy”… Khó khăn là chưa b́nh thường hoá quan hệ… Họ đưa ra 5 trở ngại, có cái hàng trăm năm không giải quyết nổi. Ví dụ như Liên bang Đông Dương, họ biết ta không có ư đồ song cứ nêu lên cốt để chia rẽ và giành lấy Lào và Campuchia, gạt ta ra … Chuyện “giải pháp đỏ” là không được, v́ như vậy th́ có nghĩa là TQ sẽ đi với ta chống Mỹ trong lúc chủ trương của họ là tranh thủ khoa học kỹ thuật của phương Tây để hiện đại hoá, c̣n ǵ là TQ nữa?

 

Tới cuộc họp, Nguyễn Đức Tâm c̣n nói: Chưa làm dự thảo Nghị quyết ngay được v́ qua thảo luận thấy ư kiến Bộ Chính trị c̣n khác nhau về đánh giá đúng thành tích, đúng bạn–thù, đối sách Đại hội đến nơi, sau Đại hội không c̣n Bộ Chính trị này nữa, tuy một số đồng chí c̣n ở lại… Mặc dù vậy, Nguyễn Thanh B́nh, chủ tŕ cuộc họp, vẫn kết luận làm dự thảo Nghị quyết về Đối ngoại.

 

Những vấn đề về t́nh h́nh quốc tế

và chính sách đối ngoại c̣n có tranh luận

 

1.        Về t́nh h́nh quốc tế: do tác động của cách mạng KHKT, khoảng cách giàu –nghèo giữa các quốc gia ngày càng lớn. Thách thức lớn nhất của nước ta là nguy cơ tụt hậu về kinh tế, yếu tố quyết định trong sức mạnh tổng hợp của quốc gia hiện nay chủ yếu là kinh tế.

 

A.   có tranh luận: nguy cơ diễn biến hoà b́nh hơn thách thức tụt hậu về kinh tế. Từ đó có ư kiến cho các quốc gia là sức mạnh an ninh quốc pḥng là chủ yếu chứ không phải chủ yếu là sức mạnh kinh tế–xă hội bên trong mỗi nước.

B. về mâu thuẫn thời đại: nhiều ư kiến cho rằng những biến đổi lớn trong cục diện thế giới đă làm thay đổi thứ tự quan trọng của các mâu thuẫn lớn, mâu thuẫn chính chi phối quan hệ quốc tế ngày nay không c̣n là mâu thuẫn Đông–Tây mà là mâu thuẫn Tây–Tây. Nhưng có ư kiến cho mâu thuẫn Đông–Tây vẫn quan trọng.

C. về tập hợp lực lượng: ư kiến chung chủ trương đa dạng hoá quan hệ. Nhưng c̣n tranh luận là tập hợp lực lượng theo ư thức hệ hay theo lợi ích dân tộc; hoặc đa dạng hóa nhưng nhấn ư thức hệ, cần t́m đồng minh chiến lược.

 

2.  Về ư đồ và chính sách của các nước lớn và ASEAN:

 

Mỹ: về câu hỏi “Cục diện thế giới mới tạo cho Mỹ thời cơ hay thách thức?” (Mỹ mạnh lên hay yếu đi)

 

- Có ư kiến cho rằng Mỹ đang tranh thủ lợi thế để thiết lập trật tự một cực do Mỹ chi phối, ư kiến khác cho rằng đang h́nh thành “trật tự đa cực”, “đa trung tâm”, hay trật tự thế giới đang trong quá tŕnh h́nh thành, đang có sự cân bằng giữa các nước lớn.

- Mục tiêu chiến lược toàn cầu của Mỹ là xoá sạch các nước XHCN c̣n lại hay là kiềm chế các trung tâm kinh tế tư bản khác?

- Lư giải hiện tượng các nước khu vực mong muốn Mỹ tiếp tục có mặt sẽ giúp ổn định khu vực, c̣n VN cho Mỹ là mối đe dọa nguy hiểm nhất.

 

* TQ:

- V́ sao các nước khu vực đều lo ngại TQ, c̣n VN đặt hy vọng vào TQ (đồng minh chiến lược)?

- Mặt bành trướng bá quyền của TQ là chính hay mặt XHCN là chính? thực chất của “chủ nghĩa xă hội mang màu sắc TQ”?

 

* Về quan hệ Mỹ–TQ (liên quan đến VN):

- Dư luận chung: Mỹ lo kiềm chế TQ ở Châu Á–Thái B́nh Dương và mong VN góp vào đó. Nhưng có ư kiến cho Mỹ và TQ thoả hiệp bất lợi cho VN. V́ Mỹ đặt ưu tiên quan hệ với TQ cao hơn nên Mỹ sẵn sàng thí VN cho ưu tiên đó.

 

* Đánh giá về ASEAN:

- Có ư kiến cho ASEAN là tổ chức có tiếng nói, có sức sống, biết lợi dụng mâu thuẫn các nước lớn lợi ích quốc gia, v́ lợi ích nhóm nước khu vực ḿnh. VN cần sớm gia nhập tổ chức này.

 

3.  Về chiến lược đối ngoại của ta:

- Vị thế của VN có ǵ khác trước?

- Đe dọa chính đối với an ninh và phát triển của ta nay là ǵ? Nguy cơ tụt hậu về kinh tế hay nguy cơ diễn biến hoà b́nh là đe dọa chính?

- Biện pháp đối phó với đe dọa và thực hiện mục tiêu của ta? (“đồng minh chiến lược”, “quan hệ đặc biệt”).

- Tập trung phát triển kinh tế có phải là lối thoát duy nhất để củng cố ổn định, ra khỏi khủng hoảng kinh tế–xă hội trong nước và nâng cao vị thế và vai tṛ nước ta trên quốc tế, đối phó “diễn biến hoà b́nh” có kết quả hay không? Ta đă đặt ưu tiên cao nhất cho phát triển kinh tế hay chưa?

- Trong thực tế đối ngoại, thường có sự lúng túng ngập ngừng về ưu tiên trong các mối quan hệ sau:

o   giữa phát triển kinh tế và bảo đảm an ninh chính trị (giữa nguy cơ tụt hậu về kinh tế và nguy cơ chệch hướng XHCN, nguy cơ bị diễn biến hoà b́nh).

o   lợi ích dân tộc và nghĩa vụ quốc tế. Tập hợp lực lượng và phân biệt bạn–thù theo quan điểm ư thức hệ hay theo lợi ích dân tộc.

o   độc lập chủ quền và hợp tác quốc tế. Hoà nhập cộng đồng thế giới.(2/1995)