Hồi ức & Suy Nghĩ  (05)

Trần Quang Cơ

 

 

BCT đánh giá cuộc đàm phán tháng 6/1990

 

Ngày 19/6/1990 Bộ Chính Trị đă họp để đánh giá cuộc đàm phán. Rất tiếc không hiểu v́ sao ngay sáng hôm họp BCT anh Linh lại đi vào Thành phố Hồ Chí Minh và nhắn qua anh Nguyễn Thanh B́nh đề nghị BCT cứ họp nhưng chưa bàn về phương hướng tới.

 

Là người trực tiếp đàm phán với TQ, tôi đă tŕnh bày trước BCT bản báo cáo của Bộ Ngoại Giao trong đó có nhận định về ư đồ của Trung Quốc qua cuộc đàm phán này:

·    Ư đồ Trung Quốc về vấn đề quan hệ với Việt Nam và về vấn đề Campuchia; qua cuộc gặp này đă bộc lộ rơ. Chiến lược của Trung Quốc là đặt ưu tiên cao nhất vào việc tranh thủ Mỹ, phương Tây, ASEAN để phục vụ mục tiêu “4 hiện đại hoá”. Chính sách đối với Việt Nam, cũng như với Liên Xô và các nước khác đều phải phục tùng lợi ích tối cao này, không được gây nên bất kỳ ảnh hưởng xấu nào trong quan hệ của Trung Quốc với Mỹ, phương Tây, ASEAN. Chính v́ vậy Trung Quốc đă không đáp ứng những đề nghị mà TBT Nguyễn Văn Linh và anh Lê Đức Anh nói với đại sứ Trung Quốc trước cuộc đàm phán này:

a)  về việc ta đề nghị gặp cấp cao nhất của 2 nước càng sớm càng tốt, Trung Quốc trả lời chỉ sau khi giải quyết xong vấn đề Campuchia th́ lănh đạo Trung Quốc mới suy nghĩ đến việc này cũng như mới có thể bàn vấn đề b́nh thường hoá quan hệ hai nước.

b) về việc ta đề nghị hai nước đoàn kết để bảo vệ chế độ xă hội chủ nghĩa, họ nói rơ họ coi quan hệ với Việt Nam sau này cũng chỉ nằm trong phạm vi quan hệ giữa hai nước láng giềng, trên cơ sở 5 nguyên tắc cùng tồn tại hoà b́nh. Họ c̣n nói quan hệ Việt Nam–Trung Quốc không thể làm cho Mỹ và ASEAN lo ngại.

c)  về việc ta đề nghị hai nước cùng thúc đẩy 2 phái cộng sản Khơ–me hoà giải với nhau, họ cũng chỉ  trả lời là giải quyết xong vấn đề Campuchia th́ lănh đạo Trung Quốc sẽ tính về việc này. Thực chất phương án giải quyết vấn đề Campuchia của Trung Quốc là nhằm xoá đi chính quyền và lực lượng quân sự của Nhà Nước Campuchia để giao thực quyền cho Hội Đồng Dân Tộc Tối Cao do Sihanouk chủ tŕ. Hai chính quyền hiện nay–Nhà Nước Campuchia và Campuchia Dân Chủ–đều do hai lực lượng cộng sản kiểm soát là chính, và các lực lượng quân sự Campuchia mạnh nhất cũng là của hai nhóm cộng sản Khơ–me. Trung Quốc đ̣i cho quân sự của Liên Hiệp Quốc hỗ trợ hoặc đ̣i để Liên Hiệp Quốc cai trị hoàn toàn Campuchia. Để thực hiện tính toán chiến lược của họ, Trung Quốc sẵn sàng ngả theo phương án của Mỹ và phương Tây, trái với suy tính của ta.

 

·    Trung Quốc không đáp ứng các đề nghị của lănh đạo ta, đồng thời họ lại đánh giá sai lầm là Việt Nam yếu, có nhiều khó khăn do t́nh h́nh bản thân VN và do tác động của t́nh h́nh Liên Xô, Đông Âu nên quá lo sợ bị đế quốc diễn biến hoà b́nh như đối với các nước Đông Âu, do đó Việt Nam rất cần Trung Quốc. V́ vậy họ đă lợi dụng ḷng khát khao hợp tác với Trung Quốc của lănh đạo ta để gây sức ép mạnh với ta trong đàm phán. Đồng thời, từ khi có cuộc gặp không chính thức với ta ở Bắc Kinh cho đến nay, Trung Quốc không ngừng đưa tin về các hoạt động của Trung Quốc ở Trường Sa và Hoàng Sa với ư đồ vừa gây sức ép với ta vừa làm cho Mỹ, ASEAN yên tâm là quan hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam chẳng phải có sự ưu ái ǵ hơn mối quan hệ của Trung Quốc với các nước Đông Nam Á khác.

·    Trung Quốc ép ta chấp nhận lập trường của họ về 2 vấn đề thuộc phạm vi nội bộ Campuchia c̣n nhằm mục đích chia rẽ ta với bạn CPC, sau khi Trung Quốc đă cố gắng tranh thủ Lào, nhằm tách Lào khỏi Việt Nam và Liên Xô.

·    Trung Quốc không hài ḷng về Thông cáo chung Tokyo v́ nó đề cao vai tṛ Nhật ở Châu Á đồng thời xoá bỏ vai tṛ Khơ–me đỏ, con chủ bài của Trung Quốc trong vấn đề Campuchia… ngày 4 và 5/6/1990 ở Tokyo đă có cuộc họp giữa các bên Campuchia và đă ra được Thông cáo chung Hun–xen–Sihanouk thỏa thuận một cuộc ngừng bắn tự nguyện đồng thời với việc lập ra Hội Đồng Dân Tộc Tối Cao gồm số người của 2 bên ngang nhau (6+6), nhưng Trung Quốc không dám công khai phản đối nên cố kéo ta cùng có lập trường khác với Thông cáo Tokyo.

·    Trung Quốc đưa ra dự kiến giải quyết vấn đề Campuchia theo 5 bước nhằm giành cho Trung Quốc vai tṛ trung tâm và chủ động trong cả quá tŕnh giải quyết vấn đề CPC, qua đó khẳng định các vấn đề Châu Á không thể chỉ Mỹ và Liên Xô giải quyết mà không có Trung Quốc. Trung Quốc xem đàm phán với ta là bước mở đầu có tính quyết định của “kế hoạch 5 bước” để giải quyết vấn đề Campuchia, v́ Trung Quốc cho rằng Liên Xô không ép được Việt Nam, chỉ có Trung Quốc dùng đ̣n bẩyvề b́nh thường hoá quan hệ với Việt Nam mới ép được Việt Nam xoá bỏ hoặc hạn chế đến mức thấp nhất chính quyền Nông Pênh.

·    Trong quan hệ với ta, Trung Quốc luôn có hai giới hạn: một đàng là Trung Quốc muốn không làm ǵ với Việt Nam gây ảnh hưởng bất lợi đến quan hệ với Mỹ, phương Tây, ASEAN; một đàng là Trung Quốc cũng không muốn tỏ ra quá căng với Việt Nam làm cho vấn đề Campuchia không thể sớm giải quyết được, đồng thời duy tŕ quan hệ căng thẳng với Việt Nam không phù hợp với lợi ích Trung Quốc lúc này là tạo hoàn cảnh quốc tế thuận lợi cho việc ổn định nội bộ thực hiện “4 hiện đại”.

 

Nghe xong bản báo cáo và kiến nghị của Bộ Ngoại Giao, BCT chưa có ư kiến ngay mà bàn tới diễn biến của cuộc đàm phán vừa qua. Về vụ to tiếng giữa anh Thạch và Từ Đôn Tín chiều 13/6, anh Đào Duy Tùng nói “Cần phải nói lại mạnh mới được”. C̣n anh Đồng Sĩ Nguyên nói: “Nếu anh không phản ứng mạnh th́ chúng tôi không thể hiểu nổi”. Về việc anh Lê Đức Anh và anh Linh gặp Trương Đức Duy trước khi ta và Trung Quốc đàm phán, anh Tô phát biểu: “Trong cuộc họp BCT bàn về đàm phán với Trung Quốc, tôi đă nói 3 lần là không được hớ phải rất thận trọng với trung Quốc. Đằng này anh lại ngửa bài trước để họ biết hết và kết quả là điều đă xảy ra. Trung Quốc họ nghĩ theo kiểu Đại Hán của họ và kết quả là họ ép ḿnh. Ngoại giao như đánh bài phải giữ thế, không phải lúc nào cũng lật hết lá bài ra. Không thể đưa ngực ra cho nó biết”. Khi anh Lê Đức Anh nói có ư thanh minh sở dĩ anh nói “giải pháp đỏ” với đại sứ Trung Quốc là v́ Campuchia nhờ ta thăm ḍ Trung Quốc, anh Vơ Văn Kiệt nói: “Nhưng ta thăm ḍ thật thà quá! Anh Vơ Chí Công nói: “Trung Quốc lấy lợi ích dân tộc của họ là chính, không phải theo lợi ích quốc tế của xă hội chủ nghĩa. Họ khác ta. Dù ta có muốn hợp tác họ cũng không chịu đâu. Anh Lê Đức Thọ,  ngày 12/6, khi nghe báo cáo nội dung trả lời của Trung Quốc về các đề nghị của anh Nguyễn Văn Linh và anh Lê Đức Anh, đă có ư kiến: “Việc anh Nguyễn Văn Linh và anh Lê Đức Anh gặp đại sứ Trung Quốc đă làm cho Trung Quốc cứng lên. Đáng lẽ không nên gặp”. (Anh Lê Đức Thọ lúc này đang ốm nặng, nằm ở nhà). Ngày 12/6, khi dặn ḍ anh Đặng Nghiêm Hoành, đại sứ ta ở TQ, anh Lê Đức Anh lại nói: “Anh Linh nói chuyện với Trương Đức Duy cũng có đôi chỗ thật ḷng quá. Nhưng cũng không phải v́ thế mà nó cho là ḿnh yếu” (?).

 

Tôi nghĩ, xét cho cùng nội bộ ta lúc này đă có hai cách đánh giá về Trung Quốc, cũng như có hai cách đánh giá về cuộc khủng hoảng chính trị ở Đông Âu và Liên Xô nên đă có hai cách xử sự khác nhau. Từ Đôn Tín nói ta có “hai tiếng nói trái ngược”, “không biết cái nào giả, cái nào thật” và khuyên Bộ Ngoại Giao nên nhất trí với ư kiến của lănh đạo cấp cao”, như thế có nghĩa là Trung Quốc đă biết nội bộ ta đă có kẽ hở mà họ không dại ǵ bỏ qua không lợi dụng để giành lợi cho họ.

 

Ngày 25/6/1990 TBT Nguyễn Văn Linh từ Thành phố Hồ Chí Minh điện ra cho Bộ Chính Trị tôi đă đọc biên bản cuộc họp BCT 19/6/1990, có một số ư kiến sẽ phát biểu sau. Anh không đồng ư thông báo cho Trung ương và các cấp ủy về điều tối mật (tức là những điều Lê Đức Anh đă nói với Trương Đức Duy ngày 6/6/1990 mà chỉ thông báo rằng cuộc họp Việt–Trung vừa qua không có kết quả là do Trung Quốc phá. Ngoại giao cần có cách giải thích cho dư luận theo hướng trên. Ngoại giao theo dơi khi Trung Quốc lộ ra những điều mà ta lấy t́nh bạn nói với họ th́ phủ nhận ngay, không để chậm.

 

Đợt đàm phán tháng 6/1990 không kết quả, nhưng TQ không cắt cầu như các lần trước mà để thực hiện ư đồ… đại sự! Như vậy, sau khi đàm phán thất bại đă có hàng loạt hành động tiến hành song song; hai bên vừa tiếp tục nói chuyện với nhau, vừa công kích nhau trên mặt trận dư luận.

 

Để giành chủ động trong việc tranh thủ dư luận quốc tế, ngày 21/6/1990, dưới h́nh thức trả lời phỏng vấn của Việt Nam Thông Tấn Xă, tôi đă nêu rơ nguyên nhân khiến cuộc nói chuyện với TQ không tiến triển được chỉ v́ VN kiên quyết tuân thủ nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ CPC, cản trở chính cho giải pháp CPC là việc Trung Quốc vẫn cố bám giữ bọn diệt chủng Polpot. Song điều khiến Trung Quốc cay cú nhất là tôi đă vạch “Trung Quốc không tán thành Thông cáo chung Tokyo nhưng không muốn đơn phương một ḿnh chống lại. Họ muốn Việt Nam và Trung Quốc cùng có một lập trường trái với Thông cáo chung Tokyo”. V́ vậy ngay sau đó, tờ Nhân Dân Nhật Báo Bắc Kinh ngày 5/7/1990 đă có ngay bài “Kế hoạch một ḥn đá ném hai đích của Hà Nội” của Thái Tích Mai, Tân Hoa Xă, phản ứng ngay về bài đó, nói Trần Quang Cơ định “dụ dẫn nhân dân thế giới vào cái bẫy của họ bằng hàng loạt sách lược một ḥn đá nhằm hai cái đích”. Ư đồ thứ nhất của Hà Nội là thông qua việc ngừng bắn tại chỗ để che đậy về việc quân đội VN vẫn có mặt ở CPC. Ư đồ thứ 2 của Hà Nội là thành lập HĐDTTC trong khuôn khổ Nông Pênh. Ư đồ thứ 3 là lấy cuộc đối thoại giữa hai chính quyền thay thế nguyên tắc 4 bên.

 

Hiểm độc nhất là Trung Quốc đă thông báo khá rộng răi với các nước những điều Nguyễn Văn Linh và Lê Đức Anh nói riêng với Trương Đức Duy về “giải pháp đỏ” và đoàn kết xă hội chủ nghĩa nhằm gây ấn tượng xấu về ta đối với các nước quan tâm đến vấn đề CPC, kể cả Liên Xô và các nước bạn khác của ta. Sáng 26/6/1990, đại sứ CHLB Đức khi gặp Vụ Châu Âu II BNG[81] ta cho biết là ngày 22/6 Trung Quốc đă thông báo cho đại sứ các nước Thị trường chung Châu Âu ở Bắc Kinh nội dung cuộc hội đàm giữa Từ Đôn Tín và tôi, và đưa ra kết luận: Việt Nam là những người rất xảo trá, rất xấu xa và rất cứng rắn. Họ chỉ muốn Hun–xen độc quyền. Họ không chịu nhân nhượng bất cứ điều ǵ… Ông Nguyễn Cơ Thạch là người xảo quyệt, rất cứng rắn và căm thù Trung Quốc cao độ.

 

Tuy nhiên, theo chủ trương kiên tŕ thúc đẩy b́nh thường hoá quan hệ với Trung Quốc v́ lợi ích chiến lược của ta, trong thời gian này hàng tuần tôi vẫn gặp trao đổi ư kiến với đại sứ Trung Quốc để giữ cầu.

 

Một sự chọn lựa thiếu khôn ngoan

 

Trong cuộc gặp tôi ngày 25/6/1990 ở Bộ Ngoại Giao, không hiểu sao Trương Đức Duy đă đọc lại toàn văn trả lời của lănh đạo Trung Quốc gửi lănh đạo Việt Nam và nói là bản này “chính xác hơn” (so với bản mà Từ Đôn Tín đă chuyển ngày 12.6) (?), trong đó đoạn cuối về CPC đă sửa lại là: “Vấn đề Campuchia đă kéo dài 11 năm, trở thành vấn đề quốc tế trọng đại mà cộng đồng quốc tế, đặc biệt là các nước ASEAN , rất chú trọng. Chúng tôi cho rằng việc này cần làm gấp. Trước mắt là hai bên Trung Quốc–Việt Nam nên đi đến thỏa thuận càng sớm càng tốt về một số mặt quan trọng trong giải pháp chính trị về vấn đề CPC để thúc đẩy và tăng cường hơn tiến tŕnh giải quyết toàn diện vấn đề CPC. Bước này đi tốt th́ có lợi cho việc suy tính những vấn đề của bước sau và tạo điều kiện cần thiết cho cuộc gặp cấp cao Trung Quốc–Việt Nam, và tạo sự hoà giải nội bộ Campuchia”. Thực ra nội dung không có ǵ khác, chỉ là lời lẽ được sửa lại cho bớt giọng xấc xược ngạo mạn.

 

Ngày 2/8/90. trước khi họp BCT, Tổng bí thư hỏi Nguyễn Cơ Thạch có nên nhắc lại TQ về gặp cấp cao và nói “giải pháp đỏ”. Vào cuộc họp, Thạch nói TQ đă 3 lần bác bỏ “giải pháp đỏ”. Anh Vơ Chí Công nói thêm: đó chỉ là ảo tưởng, ngây thơ.

 

Trong cuộc gặp Trương ngày 5/8/1990, tôi đă nêu lại những điểm mà hai bên đă có được sự nhất trí và những điểm tồn tại về vấn đề CPC, đồng thời nói rơ lập trường của VN về vấn đề vai tṛ LHQ và về việc lập HĐDTTC CPC. Tôi nhấn mạnh lập trường nguyên tắc của VN là công việc nội bộ của CPC chỉ có thể do người CPC quyết định. Trương Đức Duy đồng ư là những vấn đề nội bộ CPC phải thuộc chủ quyền của CPC, nhưng lại cho rằng nếu không có sự can thiệp của bên ngoài th́ sẽ khó có được giải pháp toàn diện. Qua trao đổi, đại sứ TQ đă phải thừa nhận là các nước khác có thể bàn nhưng phải là người CPC quyết định th́ mới thực hiện được. Về quan hệ hai nước, Trương đọc bản viết sẵn: “Chúng tôi cho rằng hiện nay t́nh h́nh quốc tế chuyển biến rất nhanh, không chờ đợi chúng ta. Mong phía VN nắm vững thời cơ, sớm hạ quyết tâm, có quyết sách loại trừ chướng ngại, tạo điều kiện cho việc sớm b́nh thường hoá quan hệ hai nước”, và nói thêm “Trung Quốc coi trọng quan hệ TQ–VN nhưng phải làm từng bước một”.

 

Đến cuộc gặp ngày 13/8/90, theo lời dặn của TBT Nguyễn Văn Linh trong cuộc họp BCT 12/8, sau khi tỏ ư hoan nghênh tuyên bố của Lư Bằng[82] ở Singapo 12/8 (“Trung Quốc hy vọng sắp tới đây sẽ b́nh thường hoá quan hệ với Việt Nam và sẽ bàn bạc với Việt Nam những vấn đề có tranh chấp như quần đảo Trường Sa”), tôi nói: Lănh đạo chúng tôi rất vui mừng v́ hai bên có suy nghĩ gặp nhau, chúng tôi cho rằng hai nước chúng ta cần có sự hợp tác với nhau trước mắt cũng như lâu dài, về những vấn đề cụ thể như vấn đề Campuchia cũng như các vấn đề rộng lớn hơn mà hai nước cùng có sự quan tâm giống nhau. Trương Đức Duy  tŕnh bày 7 điểm lập trường của TQ về vấn đề CPC, trong đó có việc lập HĐDTTC gồm 4 bên CPC do Sihanouk đứng đầu, thành phần và số lượng do các bên CPC quyết định, và là cơ chế hợp pháp duy nhất. Các điểm khác không có ǵ mới. Để gây tác động làm giảm sức ép của Trung Quốc; tôi đă thông báo cho TQ cuộc nói chuyện giữa ta và Mỹ tại Nữu Ước ngày 6/8/1990 về vấn đề CPC (trong cuộc gặp này Mỹ chủ yếu thăm ḍ, vận động ta chấp nhận 2 văn kiện của P5[83] về giải pháp CPC), VN và Mỹ sẽ c̣n tiếp tục nói chuyện.

 

Tháng 8/1990, t́nh h́nh quốc tế cũng như vấn đề CPC tiếp tục diễn biến phức tạp. Từ đầu 1990 mở đầu thời kỳ hoà hoăn giữa 3 nước lớn, đồng thời 3 nước lớn bắt đầu dùng cơ chế 5 nước thường trực Hội Đồng Bảo An (P5) giải quyết vấn đề CPC cũng như vấn đề vùng Vịnh. Từ khi Việt Nam rút hết quân khỏi CPC và càng đi gần vào giải pháp th́ lợi ích của CPC và của ta càng kênh nhau lớn. Chúngta đứng trước t́nh h́nh 5 nước lớn quyết tâm đạt thỏa thuận về một giải pháp chính trị về vấn đề CPC. C̣n CPC lại đang trước một t́nh thế tiến hoá lưỡng nan: khó kéo dài nội chiến v́ khó khăn kinh tế chính trị trong nước và trên thế giới, mà đi vào giải pháp chính trị th́ lo thất bại trong tuyển cử. Mặt khác, thái độ của Mỹ có đổi khác: ngày 18/7/1990 ngoại trưởng James Baker tuyên bố Mỹ thôi không công nhận CPC Dân Chủ (tức chính quyền 3 phái do Sihanouk đứng đầu), lên án Khơ–me đỏ, nhận đối thoại với VN qua phái đoàn ở Nữu–ước. Ngày 6/8/1990, ta với Mỹ tiếp xúc ở Nữu–ước, Mỹ chủ yếu thăm ḍ thái độ ta về văn kiện khung của LHQ về giải pháp CPC.

 

Ngày 8/8/1990 Bộ Ngoại Giao tŕnh BCT đề án về vấn đề CPC theo hướng phân rơ mặt quốc tế và mặt nội bộ của giải pháp. Về mặt quốc tế, góp ư với bạn nên đồng ư phương án của P5, c̣n mặt nội bộ phải do bạn CPC quyết định, ta tôn trọng.

 

Chiều 8/8/1990, tôi đến gặp Cố vấn Phạm Văn Đồng xin ư kiến về đề án này. Anh nói: T́nh h́nh hiện nay tạo cơ hội thuận lợi cho giải pháp CPC. Cần tận dụng cơ hội mới này trong khi ta c̣n sử dụng được. Phải dám chơi với Liên Hiệp Quốc, với Hội Đồng Bảo An, với Mỹ và phương Tây. Cần tranh thủ nhân tố Mỹ trong t́nh h́nh mới… Đề án về lư thuyết th́ tốt nhưng làm sao thực hiện được… Không nên đặt yêu cầu quá cao “giữ vững thành quả cách mạng (CPC)”… Đi vào tổng tuyển cử bạn giành được 50% là lư tưởng…

 

Ngày 12/8/1990, Bộ Chính trị họp về đề án CPC của Bộ Ngoại giao. Sau khi thảo luận, anh Linh kết luận: Với Mỹ, ta tiếp tục đối thoại như BCT đă cho ư kiến; với TQ, trong cuộc gặp 13/8 (giữa tôi và Trương Đức Duy), ta nên nói là 2 nước XHCN Việt Nam và Trung Quốc nên hợp tác giải quyết vấn đề CPC để có một nước CPC hữu nghị với các nước láng giềng, trước hết là Việt Nam, Trung Quốc, Lào. Ta không nói VN và TQ là hai nước xă hội chủ nghĩa cần đoàn kết chống đế quốc, bảo vệ chủ nghĩa xă hội.

 

Nhưng rồi cuộc gặp Thành Đô đă làm lănh đạo Việt Nam xa rời quan điểm thực tế này mà ngả hẳn theo Trung Quốc, thậm chí c̣n định ép Nông Pênh chấp nhận đ̣i hỏi quá đáng của Bắc Kinh về vấn đề HĐDTTC CPC.

 

Cuộc gặp cấp cao Việt–Trung tại Thành Đô 3–4/9/90

 

Ngày 29/8/1990, đại sứ Trương Đức Duy xin gặp Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh và Thủ tướng Đỗ Mười chuyển thông điệp của Tổng Bí thư Giang Trạch Dân[84] và Thủ tướng Lư Bằng mời TBT Nguyễn Văn Linh, Thủ tướng Đỗ Mười và Cố vấn Phạm Văn Đồng sang Thành Đô, thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc ngày 3/9/90 để hội đàm bí mật về vấn đề Campuchia và vấn đề b́nh thường hoá quan hệ hai nước. Trương nói mập mờ là Đặng Tiểu B́nh có thể gặp anh Tô. Trung Quốc c̣n lấy cớ ở Bắc Kinh đang bận chuẩn bị tổ chức ASIAD[85] (Á Vận hội) nên không gặp cấp cao Việt Nam ở thủ đô Bắc Kinh được v́ khó giữ được bí mật, mà gặp ở Thành Đô.

 

Đây quả là một sự chuyển biến đột ngột của phía Trung Quốc. Trước đây Trung Quốc nói rằng chỉ sau khi giải quyết xong vấn đề Campuchia mới gặp cấp cao ta và mới bàn vấn đề b́nh thường hoá quan hệ hai nước. Năm ngày trước–ngày 24/8/1990–Trung Quốc c̣n bác bỏ việc gặp cấp cao, nay lại mời ta gặp cấp cao trong một thời hạn rất gấp và đồng ư cấp cao sẽ nói chuyện về cả hai vấn đề CPC và vấn đề b́nh thường hoá quan hệ.

 

Thái độ “thiện chí” gấp gáp như vậy của Bắc Kinh không phải là tự nhiên mà có. Nó có những nguyên nhân sâu xa và nhân tố bức bách:

a)  tất cả những hoạt động đối ngoại và đối nội của Trung Quốc trong hơn 10 năm qua khẳng định chiến lược nhất quán của họ là kiên quyết thực hiện “4 hiện đại”, biến Trung Quốc thành một cường quốc hàng đầu trên thế giới, đồng thời xác định vị trí nước lớn của ḿnh trước hết ở Đông Nam Á và châu Á–Thái B́nh Dương. V́ lợi ích chiến lược đó, Trung Quốc kiên tŕ tranh thủ Mỹ, Nhật, phương Tây, đồng thời b́nh thường hoá quan hệ với Liên Xô. Nhưng sau hơn 10 năm cải cách và mở cửa, t́nh h́nh chính trị, xă hội và kinh tế của Trung Quốc rất khó khăn. Sau sự kiện Thiên An Môn, mục tiêu chiến lược đó đang bị đe dọa nghiêm trọng. Về đối ngoại, bị Mỹ, Nhật và phương Tây thi hành cấm vận. Trong khi đó, quá tŕnh cải thiện quan hệ Mỹ–Xô tiến triển rất nhanh và rất sâu. Xô–Mỹ hợp tác chặt chẽ giải quyết các vấn đề thế giới và khu vực không kể đến vai tṛ của Trung Quốc. Ngay trong vấn đề Campuchia, vai tṛ Trung Quốc cũng bị lấn át (Xô–Mỹ tiếp xúc trao đổi chặt chẽ về vấn đề CPC; cuộc gặp Sihanouk–Hun–xen ở Tokyo là do sự dàn xếp của Mỹ, Nhật và Thái, ngoài ư muốn của Trung Quốc). Phương Tây tiếp tục đ̣i Trung Quốc thực hiện dân chủ và giải quyết vấn đề CPC trên cơ sở kiềm chế Khơ–me đỏ.

b) chuyến đi Đông Nam Á của Lư Bằng (6–13/8/1990) nằm trong yêu cầu chiến lược của Trung Quốc tranh thủ hoàn cảnh quốc tế hoà b́nh để thực hiện “4 hiện đại”, diễn ra trong bối cảnh liên minh mà Trung Quốc xây dựng ở Đông Nam Á trong 10 năm qua để chống Việt Nam đang tan vỡ sau khi Việt Nam rút quân khỏi CPC và sau khi Mỹ đă điều chỉnh chính sách. Cuộc đi thăm của Lư đă bộc lộ những điểm đồng và bất đồng giữa Trung Quốc và các nước ASEAN. Các nước ASEAN vẫn rất lo ngại ư đồ bành trướng của Trung Quốc. Trung Quốc buộc phải cam kết nội bộ các nước trong khu vực không ủng hộ các đảng cộng sản và vấn đề Hoa kiều, tuyên bố sẵn sàng thương lượng và hợp tác về vấn đề Trường Sa. Tiếp tục đối đầu với Việt Nam không c̣n phù hợp với chính sách Đông Nam Á của Trung Quốc lúc này nữa.

c)  sau khi Việt Nam đă hoàn tất việc rút quân khỏi CPC, các nước phương Tây, Mỹ, Nhật, ASEAN đi vào cải thiện quan hệ với ta theo hướng không có lợi cho tính toán của Trung Quốc ở Đông Nam Á. Trước t́nh h́nh đó, Trung Quốc không muốn chậm chân.

d) về thời điểm: trong cuộc họp ngày 27 và 28/8/1990 tại Nữu ước, 5 nước thường trực Hội Đồng Bảo An đă thoả thuận văn kiện khung về giải pháp toàn bộ cho vấn đề Campuchia (gồm 5 vấn đề: lực lượng vũ trang CPC, tổng tuyển cử dưới sự bảo trợ của LHQ, nhân quyền và bảo đảm quốc tế đối với thể chế tương lai của Campuchia). Văn kiện về nhân quyền không đề cập trực tiếp đến vấn  đề diệt chủng, chỉ nói CPC sẽ không trở lại chính sách và hành động trong quá khứ. C̣n Trung Quốc buộc phải nhân nhượng không c̣n đ̣i lập chính phủ liên hiệp 4 bên ngang nhau, phải chấp nhận vai tṛ lớn của Liên Hiệp Quốc. Năm nước thường trực HĐBA/LHQ thỏa thuận lịch giải quyết vấn đề CPC: trong tuần từ 3/9 đến 9/9 họp các bên CPC ở Gia–các–ta để lập HĐDTTC trước phiên họp Đại hội đồng LHQ, tiếp đó họp mở rộng với các nước trong khu vực (có TQ), đến khoảng tháng 10 11 năm 1990 họp ủy ban Phối hợp Hội nghị Pa–ri về CPC để soạn thảo Hiệp định trên cơ sở văn kiện khung do 5 nước vạch ra; các ngoại trưởng kư Hiệp định; 15 nước trong Hội Đồng Bảo An thông qua, Trung Quốc đặt cuộc gặp cấp cao Trung–Việt trong cái khung thời gian này. Tuy nhiên Bắc Kinh dấu không cho ta biết ǵ về những thỏa thuận giữa họ và các nước lớn trong HĐBA, mặt khác cũng giữ kín việc hẹn gặp ta ở Thành Đô v́ không muốn làm cho phương Tây và ASEAN lo ngại khả năng đoàn kết và hợp tác giữa Trung Quốc và Việt Nam.

 

Ngày 30/8/1990, Bộ Chính Trị họp bàn về việc gặp lănh đạo Trung Quốc. Anh Linh nêu ư kiến sẽ bàn hợp tác với Trung Quốc để bảo vệ chủ nghĩa xă hội chống đế quốc, và hợp tác giữa Nông Pênh và Khơ–me đỏ để giải quyết vấn đề Campuchia, mặc dù trước đó Bộ Ngoại giao đă tŕnh bày đề án nêu rơ là rất ít có khả năng thực hiện phương án này v́ phương hướng chiến lược của TQ vẫn là tranh thủ phương Tây phục vụ “4 hiện đại”. Anh Lê Đức Anh bổ sung ư anh Linh: Phải nói về hoà hợp dân tộc thực sự ở Campuchia. Nếu không có Polpot th́ vẫn tiếp tục chiến tranh. Anh Vơ Chí Công không đồng ư, nói: Trung Quốc sẽ không nghe ta về hợp tác bảo vệ chủ nghĩa xă hội. Trung Quốc muốn tranh thủ phương Tây. Anh Thạch cảnh giác: Vẫn có 3 khả năng về quan hệ giữa ta và Trung Quốc, không phải chỉ là khả năng tốt cả. Dự kiến Trung Quốc sẽ nêu công thức “HĐDTTC 6+2+2+2” để nhấn rơ là có 4 bên Campuchia. (trong đó Khơ–me đỏ là 1 bên), xoá vấn đề diệt chủng… Sự thực này cho thấy Trung Quốc c̣n đ̣i cao hơn thế!

 

Ngày 2/9/90, ba đồng chí lănh đạo cấp cao của ta đến Thành Đô đúng hẹn. Tháp tùng có Hồng Hà chánh văn pḥng Trung Ương, Hoàng Bích Sơn trưởng ban Đối ngoại, và Đinh Nho Liêm thứ trưởng ngoại giao. Đáng chú ư trong đoàn không có bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch.

 

Sau 2 ngày nói chuyện (3–4/9/90), kết quả được ghi lại trong một văn bản gọi là “Biên bản tóm tắt” gồm 8 điểm. Khi nghiên cứu biên bản 8 điểm đó, chúng tôi nhận thấy có tới 7 điểm nói về vấn đề Campuchia, chỉ có 1 điểm nói về cải thiện quan hệ giữa hai nước mà thực chất chỉ là nhắc lại lập trường cũ của Trung Quốc gắn việc giải quyết vấn đề Campuchia với b́nh thường hoá quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc. Trong 7 điểm về Campuchia, 2 điểm là những điểm có tính chất chung về mặt quốc tế mà 2 bên không c̣n tranh căi (giải pháp chính trị toàn diện cho vấn đề CPC; rút hết quân Việt Nam ở Campuchia có kiểm chứng), c̣n 5 điểm th́ hoàn toàn là đáp ứng yêu cầu của Trung Quốc. Không có điểm nào theo yêu cầu của ta cả. Trong bản thỏa thuận, vấn đề nổi cộm nhất là điểm 5 về việc thành lập Hội Đồng Dân Tộc Tối Cao CPC. Lănh đạo ta đă thỏa thuận dễ dàng, không do dự (?), công thức “6+2+2+2+1” (phía Nông Pênh 6 người, phía “3 phái” 7 người: 2 của Khơ–me đỏ, 2 của phái Son San, 2 của phái Sihanouk và bản thân Sihanouk) mà Từ Đôn Tín vừa đưa ra ở Hà Nội và bị tôi bác. Công thức này bất lợi cho Nông Pênh, khác với công thức “6+6” hay “6+2+2+2”, tức là hai bên có số người ngang nhau, mà Sihanouk và Hun–xen đă thỏa thuận ở Tokyo.

 

Về sáng kiến “giải pháp đỏ” cho vấn đề Campuchia mà lănh đạo ta đưa ra, tưởng như phía Trung Quốc sẽ nhiệt t́nh hoan nghênh, song Lư Bằng đă bác đi: “Các đồng chí nói cần thực hiện 2 đảng cộng sản hợp tác với nhau để phát huy hơn nữa. Tôi đồng ư một phần và không đồng ư một phần. Bốn bên Campuchia xét về lực lượng quân sự và chính quyền, mạnh nhất là hai đảng cộng sản, có vai tṛ nhiều hơn. Nhưng phần tôi không đồng ư là ở Campuchia không chỉ có hai đảng cộng sản mà c̣n có các thế lực khác là lực lượng của Sihanouk và lực lượng của Son San. Lực lượng của họ không lớn lắm nhưng họ được quốc tế ủng hộ. Bài xích họ th́ cô lập Hội Đồng Dân Tộc Tối Cao, không thể đoàn kết Campuchia. Cần phải để cho hai bên kia phát huy tác dụng ở Campuchia”. Và Giang Trạch Dân cũng nói thêm: “Các nước phương Tây rất chú ư tới quan hệ của chúng ta. Các đồng chí đến đây, cho đến nay các nước không ai biết, cũng không cho các bên Campuchia biết. Chúng tôi cảnh giác vấn đề này. Họ cho rằng Việt Nam xă hội chủ nghĩa, Trung Quốc xă hội chủ nghĩa đều do đảng cộng sản lănh đạo, hợp với nhau bàn cái ǵ đây? V́ vậy chúng tôi giữ kín chuyện này. T́nh h́nh quốc tế hiện nay nếu để hai đảng cộng sản bắt tay nhau là sách lược không lợi cho chúng ta”.