Hồi ức & Suy Nghĩ  (04)

Trần Quang Cơ

 

Đặng Tiểu B́nh tiếp Kaysone Phomvihan[72] để nói với Việt Nam 

 

Những biến động lớn trong t́nh h́nh thế giới bên ngoài lúc này đă tác động mạnh mẽ tới suy nghĩ của lănh đạo ta về phương hướng chiến lược đối ngoại. Cuộc khủng hoảng chính trị tại nhiều nước theo chế độ xă hội chủ nghĩa đă bùng nổ từ năm 1989 và đang có chiều hướng lan rộng ra. Tháng 6/1989 xảy ra vụ Thiên An Môn ở Trung Quốc. Cũng trong năm 1989, chế độ xă hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu như CHDC Đức, Ba Lan, Ru–ma–ni, Hung, Tiệp, Hà Lan[73] đều đă sụp đổ. Đầu tháng 10/1989, TBT Nguyễn Văn Linh đi dự kỷ niệm 40 năm Quốc Khánh CHDC Đức, khi về đến Hà Nội th́ bức tường Berlin đổ, Honecker bị lật. Lănh tụ Ru–ma–ni Ceaucescu, người mà khi ở Berlin anh Linh xem ra tâm đầu ư hợp trong việc bàn chuyện tâm huyết cứu văn sự nghiệp xă hội chủ nghĩa thế giới đang lâm nguy, vừa chân ướt chân ráo về đến Bucarest th́ bị truy bắt. Với “tư duy mới” của Gorbachov, t́nh h́nh Liên Xô ngày càng trở nên lộn xộn.

 

Trước t́nh h́nh ấy, trong nội bộ lănh đạo ta đă nảy sinh những ư kiến khác biệt trong nhận định về sự kiện Thiên An Môn cũng như về những biến đổi dồn dập tại các nước xă hội chủ nghĩa Đông Âu và Liên Xô. Nổi lên là ư kiến nhấn mạnh mặt xă hội chủ nghĩa của Trung Quốc, phải bằng mọi giá bắt tay ngay sau Trung Quốc để bảo vệ chủ nghĩa xă hội, để chống Mỹ và các thế lực đế quốc khác. Chính điều đó đă tạo nên bước ngoặt khá đột ngột trong thái độ của ta đối với Trung Quốc. Suy nghĩ đơn giản của ta là không có lư ǵ Việt Nam lại ngủng ngỉnh với Trung Quốc trong khi Liên Xô đă b́nh thường hoá quan hệ với Trung Quốc (tháng 5/1989). Lào cũng đă thoả thuận trao đổi đại sứ trở lại với Trung Quốc và b́nh thường hoá quan hệ giữa hai nước, đánh dấu bằng cuộc đi thăm chính thức Trung Quốc của Kayson Phomvihan, tổng bí thư Đảng NDCM Lào, tháng 10/1989.

 

Chính là thông qua cuộc nói chuyện với Kayson ngày 7/10/89 mà Đặng Tiểu B́nh đă bộc lộ rơ phần nào những tính toán sâu xa của ḿnh đối với Việt Nam: phân hoá Việt –Lào, Việt–CPC, Việt–Xô và phân hoá cả nội bộ Việt Nam. Đặng nói với Kayson rằng Việt Nam đă có biểu hiện chống Trung Quốc từ khi Hồ Chí Minh c̣n sống; rằng sau khi thắng Mỹ, Lê Duẩn trở mặt chống Trung Quốc, xâm lược Campuchia, Việt Nam đi theo Liên Xô, đưa quân vào Campuchia, nên mới có chuyện Trung Quốc đánh Việt Nam. Lúc đầu Trung Quốc cho là v́ Brejnev xúi giục nên Việt Nam xâm lược Campuchia, nhưng chính là do Việt Nam có ư đồ lập Liên bang Đông Dương, không muốn Lào, Campuchia độc lập. Việt Nam chống Trung Quốc v́ Trung Quốc là trở ngại cho việc lập Liên bang Đông Dương …Trong khi không tiếc lời phê phán Lê Duẩn, Đặng đă hết lời ca ngợi Nguyễn Văn Linh; Đặng kể lại khi làm tổng bí thư Đảng Cộng Sản Trung Quốc, năm 1963, đă tổ chức đưa Nguyễn Văn Linh từ miền Nam sang Hồng Kông để đi thăm Bắc Kinh gặp nhau, khen anh Linh là “người tốt, sáng suốt và có tài”; nhờ Kayson chuyển lời hỏi thăm anh Linh; khuyên Nguyễn Văn Linh nên giải quyết dứt khoát vấn đề Campuchia, nếu làm được việc này th́ sẽ khôi phục được uy tín của Việt Nam. Cho đây là việc Việt Nam phải làm, v́ những ǵ Việt Nam đang làm là sai lầm; mong muốn b́nh thường hóa quan hệ với Việt Nam trước khi ông ta nghỉ hưu… Về điều kiện b́nh thường hoá quan hệ Trung–Việt, Đặng nhấn mạnh Việt Nam phải rút hết quân, rút triệt để, rút thật sự khỏi CPC th́ sẽ có b́nh thường hoá quan hệ (tuy lúc đó ta đă kết thúc đợt rút quân cuối cùng khỏi CPC từ ngày 26/9/1989).

 

Theo thông báo của đại sứ Lào tại Trung Quốc, trong 70 phút nói chuyện với Kayson, Đặng nói về Việt Nam và quan hệ Trung–Việt tới 60 phút.

 

Ngày 21/10/1989 BCT ta đă họp để nhận định về phát biểu của Đặng Tiểu B́nh khi tiếp Kayson. Cuộc họp đă đi đến kết luận: trong lúc Trung Quốc đang c̣n găng với ta, ta cần có thái độ kiên tŕ và thích đáng, không cay cú, không chọc tức nhưng cũng không tỏ ra nhún quá. Cần tiếp tục thực hiện đường lối Đại hội VI và Nghị quyết 13 của Bộ Chính Trị, cần thấy cả mặt xă hội chủ nghĩa và mặt bá quyền nước lớn của Trung Quốc. Trong khi cố kéo Trung Quốc, ta cần đồng thời hoạt động trên nhiều hướng; củng cố đoàn kết chặt chẽ với Lào, phân hoá Mỹ, phương Tây, ASEAN với Trung Quốc.

 

Theo phương đó, ngày 6/11/1989, anh Thạch đă chuyển qua đại sứ Trung Quốc thông điệp miệng của TBT Nguyễn Văn Linh gửi Đặng Tiểu B́nh, ngỏ ư mong sớm có b́nh thường hoá quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc. Ba ngày sau, anh Thạch lại gửi  thư cho Tiền Kỳ Tham nhắc lại thông điệp ngày 6/11 và đề nghị: phía Việt Nam sẵn sàng gặp lại phía Trung Quốc ở cấp bộ trưởng hoặc thứ trưởng ngoại giao tại Hà Nội hoặc Bắc Kinh trong tháng 12/1989. Nhưng Trung Quốc không trả lời thông điệp của Tổng bí thư ta lẫn thư của anh Thạch.

 

Măi đến ngày 12/1/1990, đại sứ Trung Quốc mới gặp anh Thạch chuyển thông điệp miệng của phía Trung Quốc trả lời TBT Nguyễn  Văn Linh, vẫn đặt điều kiện cho việc nối lại đàm phán với ta: “Đồng chí Đặng Tiểu B́nh và các lănh đạo khác của Trung Quốc chân thành mong muốn sớm b́nh thường hoá quan hệ Trung–Việt. Vấn đề Campuchia là nguyên nhân chủ yếu làm cho quan hệ hai nước xấu đi đến nay chưa được cải thiện. Việc khôi phục quan hệ hữu nghị giữa hai nước chưa có thể cải thiện nếu bỏ qua vấn đề CPC. Đồng chí Đặng Tiểu B́nh có nêu ra là việc Việt Nam rút quân sạch sẽ, triệt để và việc CPC lập Chính phủ Liên hiệp Lâm thời 4 bên do Sihanouk đứng đầu là hai vấn đề hạt nhân thiết thực cần đồng thời giải quyết. Phía Trung Quốc sẵn sàng suy xét đề nghị của VN về việc mở ṿng thương lượng mới ở cấp thứ trưởng, nếu Việt Nam chấp nhận một cơ chế giám sát quốc tế do Liên Hiệp Quốc chủ tŕ có 4 bên CPC tham gia để kiểm chứng việc rút quân VN và lập chính phủ 4 bên do Sihanouk đứng đầu trong thời kỳ quá độ”.

 

Từ 26/2 đến 1/3/1990 tại thủ đô Inđônêxia đă họp Hội nghị không chính thức về CPC (IMC–Informal Meeting on Campuchia). Dự họp ngoài các bên CPC, VN, Lào và 6 nước ASEAN (như họp JIM, c̣n có thêm đại diện Tổng thư kư LHQ Pháp và Ô–tra–lia[74]). Hội nghị không ra được tuyên bố chung v́ Khơ–me đă dùng quyền phủ quyết.

 

Ngày 8/3/1990, cố vấn Lê Đức Thọ cho gọi tôi và anh Đinh Nho Liêm đến nhà riêng ở số 4 Nguyễn Cảnh Chân nói mấy ư kiến về vấn đề CPC: cần có chuyển hướng chiến lược trong đấu tranh về vấn đề CPC. Phải giải quyết với TQ, nếu không th́ không giải quyết được vấn đề CPC. Không thể gạt Khơ–me đỏ. Cần mềm dẻo về vấn đề diệt chủng, có thể nói không để trở lại chính sách sai lầm trong quá khứ. Không chấp nhận LHQ tổ chức tổng tuyển cử. Cần nêu phương án lập chính phủ liên hiệp lâm thời hai bên  bốn  phái để tổ chức tổng tuyển cử ở CPC. Phải giải quyết một bước cơ bản vấn đề CPC trước Đại hội VII để khai thông những vấn đề khác. Hai hôm sau anh lại nói với Nguyễn Cơ Thạch những ư đó.

 

Đến ngày 3/4/1990, Trung Quốc đột nhiên lại biểu thị hoan nghênh việc thứ trưởng Đinh Nho Liêm đến Bắc Kinh “kiểm tra sứ quán” và công bố tin Trung Quốc sẽ đàm phán với thứ trưởng ngoại giao Việt Nam về vấn đề Campuchia.

 

Lúc này CP87 đă giải thể. Các thành viên thường trực của CP87 đều đă được bổ nhiệm đi nhận trọng trách ở nước ngoài. Anh Đặng Nghiêm Hoành đă nhận quyết định đi đại sứ ở Trung Quốc. Anh Trần Xuân Mận nhận chức đại sứ ở An–giê–ri[75]. Anh Nguyễn Phượng Vũ trên đường đi nhận chức đại sứ ở Phi–li–pin, đă chết trong tai nạn máy bay trên bầu trời Thái Lan. Thay vào đó, Bộ Ngoại Giao đă lập  Nhóm ad hoc về giải pháp Campuchia với nhiệm vụ cụ thể hơn v́ vấn đề CPC đă đến lúc phải giải quyết. Nhóm vẫn do tôi phụ trách, có các anh Trần Huy Chương, Lê Công Phụng, Huỳnh Anh Dũng, Nguyễn Can tham gia.

 

Nhóm Nghiên cứu giải pháp Campuchia chúng tôi nhận định có mấy lư do đă khiến Trung Quốc mềm mỏng hơn trong thái độ đối với Việt Nam về vấn đề CPC:

 

-    quan hệ Mỹ–Xô đang có chuyển động mạnh. Chỉ trong ṿng 6 tháng, từ tháng 12/1989 đến tháng 5/1990, đă có 2 cuộc gặp cấp cao Xô–Mỹ. Trong khi đó quan hệ của Trung Quốc với Mỹ và các nước phương Tây chậm khôi phục sau vụ Thiên An Môn.

-    giữa Trung Quốc với Mỹ, phương Tây đang nảy sinh những mâu thuẫn về vấn đề Campuchia, chủ yếu trong vấn đề đối xử với Khơ–me đỏ. Trong các cuộc họp 5 nước thường trực Hội Đồng Bảo An tháng 2 và tháng 3/1990, Trung Quốc ở thế bị cô lập đă buộc phải có nhân nhượng và phải chấp nhận vai tṛ của Liên Hiệp Quốc.

-    đàm phán Sihanouk–Hun–xen có tiến triển. Ngày 9/4/1990 Sihanouk có phần nhượng bộ khi đưa ra 9 điểm giải pháp, nhận lập Hội Đồng Dân Tộc Tối Cao (Supreme National Council–SNC) gồm số đại diện bằng nhau của hai chính phủ, 6 của Chính phủ Nông Pênh và 6 của Chính phủ Campuchia Dân Chủ như đề nghị của Hun–xen; không đ̣i hỏi giải tán Nhà Nước Campuchia (SOC), tuy đ̣i thực quyền cai quản Campuchia trong thời kỳ quá độ phải là cơ cấu quyền lực của Liên Hiệp Quốc.

 

Ngày 10/4 BCT họp bàn đề án đấu tranh sách lược về vấn đề CPC do Bộ NG[76] dự thảo: dùng công thức LHQ để nói về vấn đề diệt chủng và cho Khơ–me đỏ vào chính phủ liên hiệp CPC, nhận vai tṛ Sihanouk, lập chính phủ liên hiệp để tổ chức tổng tuyển cử… Đại đa số BCT đồng ư. Các đồng chí Nguyễn Văn Linh, Lê Đức Anh, Đào Duy Tùng, Đồng Sĩ Nguyên c̣n nhấn vào âm mưu của đế quốc Mỹ sau cuộc khủng hoảng chính trị ở Đông Âu, VN và TQ cần liên kết bảo vệ chủ nghĩa xă hội và cùng tác động để có một nước CPC thân thiện với TQ và VN và định hướng đi lên chủ nghĩa xă hội, coi đó là lợi ích chung của TQ và VN. Riêng Nguyễn Cơ Thạch nói rơ quan điểm của Ngoại Giao là cần tranh thủ TQ, song đồng thời phải chuẩn bị có 3 khả năng về thái độ của TQ:

-    khả năng 1: TQ cùng ta bảo vệ chủ nghĩa xă hội.

-    khả năng 2: TQ cấu kết với Mỹ chống ta như trước.

-    khả năng 3: TQ vừa b́nh thường hoá quan hệ với ta, vừa tranh thủ Mỹ, phương Tây là chính.

 

Lúc đó tôi có cảm giác nhiều ủy viên BCT không tán thành quan điểm này v́ đă có định hướng cùng TQ bảo vệ chủ nghĩa xă hội chống đế quốc.

 

Ngày 16–17/1/1990, thực hiện quyết định của Bộ Chính Trị theo hướng sớm làm lành với Bắc Kinh, anh Nguyễn Cơ Thạch đi Nông Pênh gặp 4 người chủ chốt trong BCT Campuchia: Heng Somrin, Chia Xira[77], Hun–xen và Sor Kheng[78] để cố thuyết phục bạn nên tính tới bước sách lược về vấn đề diệt chủng và không gạt Khơ–me đỏ, nhưng phía Campuchia không đồng ư v́ tỏ ra muốn giữ đường lối độc lập trong việc giải quyết vấn đề Campuchia, không muốn ta đàm phán với Trung Quốc về các vấn đề nội bộ của Campuchia. Bạn tỏ ra rất găng về vấn đề diệt chủng, nói nếu bộ ta sẽ không c̣n vũ khí ǵ chống các luận điểm của đối phương vu cáo “Việt Nam xâm lược Campuchia”, “chính quyền Nông Pênh do Việt Nam dựng lên”. Hơn nữa chính lúc này phương Tây đang khơi lên vấn đề lên án diệt chủng.

 

Ngày 2/5/90 với danh nghĩa “đi kiểm tra sứ quán”, anh Đinh Nho Liêm đến Bắc Kinh để có cuộc “trao đổi ư kiến không chính thức” với Trung Quốc. Lần này đối tác không phải thứ trưởng Lưu Thuật Khanh mà là trợ lư bộ trưởng Từ Đôn Tín[79]. Phụ tá cho anh Liêm là anh Đặng Nghiêm Hoành lúc này đă là đại sứ Việt Nam ở Trung Quốc. Cuộc đàm phán không có mấy tiến triển về thực chất.

 

Về b́nh thường hoá quan hệ hai nước, phía Trung Quốc không mặn mà ǵ với gợi ư của ta về việc xích lại gần hơn nữa giữa hai nước xă hội chủ nghĩa để cứu văn sự nghiệp xă hội chủ nghĩa chung trên thế giới đang lâm nguy. Trung Quốc chỉ đặt quan hệ với Việt Nam trong khuôn khổ chung sống hoà b́nh như các nước láng giềng khác.

 

Lần này phía Trung Quốc đi vào những vấn đề thuần tuư nội bộ của Campuchia, đ̣i ta đàm phán về vi phạm quyền lực của Hội đồng dân tộc tối cao Campuchia (SNC) và về việc xử lư quân đội 4 bên Campuchia. Về vấn đề chính quyền Campuchia trong thời kỳ quá độ (từ khi Việt Nam rút hết quân đến khi tổng tuyển cử), Từ nói Trung Quốc thấy tốt nhất là lập một chính phủ liên hiệp 4 bên–gọi là Hội đồng dân tộc tối cao cũng được–bằng không th́ phải chọn phương án giao quyền cho Liên Hiệp Quốc. Chính quyền thời kỳ quá độ này phải bao gồm cả 4 bên Campuchia (với hàm ư Khơ–me đỏ được chính thức coi là 1 bên tham chính) mới thể hiện được tinh thần hoà giải dân tộc. Nếu các đồng chí thấy nói 4 bên có khó khăn th́ nói là “các bên Campuchia” cũng được, không gạt một bên nào, không bên nào nắm độc quyền. (Trong buổi làm việc với anh Đặng Nghiêm Hoành sáng 4/5, Vụ phó Trương Thanh cũng nhắc lại ư này: Hội đồng này bao gồm đại diện của 2 chính phủ, 4 bên hay các bên Campuchia đều được). Từ nói: nếu so sánh giữa phương án chính thức liên hiệp lâm thời đỏ, Trung Quốc đề ra và phương án Liên Hiệp Quốc quản lư th́ chúng tôi vẫn thấy phương án của TQ là tốt hơn. Về vấn đề diệt chủng, Từ nói có ư đe dọa là nếu cứ khẳng định Khơ–me đỏ phạm tội th́ phía bên kia sẽ nói Việt Nam là xâm lược và Nông Pênh là ngụy quyền, cho nên không nên nói đến vấn đề đó nữa.

 

Trong đàm phán, phía Trung Quốc để lộ rơ ư đồ muốn Hội đồng Dân tộc tối cao thực tế sẽ thay thế Chính phủ Nông Pênh; c̣n quân đội của “4 bên” Campuchia phải tập kết vào những địa điểm được chỉ định rồi giải pháp toàn bộ; ít nhất là lúc đầu giảm quân số tới mức tối đa, mục đích là tước bỏ thế mạnh cả về chính quyền lẫn về lực lượng vũ trang của Nhà Nước Campuchia. Cách làm của Trung Quốc đúng là “một mũi tên bắn hai đích”, vừa xoá sạch thành quả cách mạng Campuchia vừa phân hoá quan hệ Việt Nam–Campuchia. Để tránh đi ngay vào chuyện hóc búa này, anh Liêm nói sẽ đem hai vấn đề này về bàn nghiên cứu thêm rồi sẽ phát biểu. Đồng thời theo chỉ thị trên, ta đă nhận Việt Nam không nói đến từ “diệt chủng” nữa và sẽ t́m một công thức khác thích hợp để nói về vấn đề đó. Phía Trung Quốc c̣n đề nghị lănh đạo Việt Nam nên gặp Sihanouk như Sihanouk đă ngỏ ư để “tạo thuận lợi cho việc thúc đẩy giải pháp”. Đáng suy nghĩ là Từ Đôn Tín đă gợi ư là sau khi Việt Nam và Trung Quốc nhất trí được về giải pháp Campuchia th́ 3 nước Trung Quốc, Việt Nam và Thái Lan sẽ họp lại. Điều này chúng tỏ là Thái Lan giữ một vai tṛ không nhỏ trong việc cùng Trung Quốc nuôi dưỡng Khơ–me đỏ và làm chảy máu Việt Nam bằng vấn đề CPC.

 

Phần v́ t́nh thế thúc bách đẩy nhanh giải pháp Campuchia, phần v́ hài ḷng với cuộc gặp này, Tiền Kỳ Tham đồng ư đầu tháng 6 sẽ cử Từ Đôn Tín sang Hà Nội với danh nghĩa “khách của đại sứ Trung Quốc ở Hà Nội” để tiếp tục trao đổi ư kiến với ta. Đây là lần đầu tiên trong 10 năm qua phía Trung Quốc nhận sang Hà Nội đàm phán với ta, trong khi tuyệt đại đa số các đợt đàm phán Việt–Trung đều tiến hành ở Bắc Kinh. Động thái này đă được lănh đạo ta hiểu như một cử chỉ thiện chí đặc biệt của Trung Quốc đối với Việt Nam.

 

Thuốc đắng nhưng không dă được tật

 

Sáng 30/5/1990, Bộ Chính trị họp bàn về đàm phán với Trung Quốc, Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh thông báo với Bộ Chính trị về cuộc họp với 2 tổng bí thư đảng Lào và đảng Campuchia ngày 20–21/5, nói ra dự định sẽ gặp đại sứ Trung Quốc và Từ Đôn Tín khi Từ đến Hà Nội. Cố vấn Phạm Văn Đồng và một số trong BCT tỏ ư phải thận trọng trong xử sự với Trung Quốc. Anh Tô[80]  nói: Mấy ngh́n năm Trung Quốc vẫn là Trung Quốc, không nên cả tin. Ta cần thăm ḍ thúc đẩy nhưng phải cảnh giác đừng để hớ. Đỗ Mười cũng khuyên anh Linh không nên gặp đại sứ Trung Quốc và Từ Đôn Tín trước cuộc đàm phán. Nhưng Lê Đức Anh lại tỏ ra đồng t́nh với dự định của anh Linh, cho rằng phải thăm ḍ và phân tích chiến lược của Trung Quốc, xử lư mối quan hệ của 3 nước lớn và 5 nước thường trực HĐBA, tranh thủ thế giới thứ ba, ủng hộ các nước xă hội chủ nghĩa. Đa số trong BCT đều cho rằng không nên nói đến “giải pháp đỏ” với Trung Quốc nữa. Cuối cùng Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh kết luận lại là anh sẽ chỉ gặp đại sứ Trung Quốc, c̣n không gặp Từ Đôn Tín; về phía lănh đạo ta, chỉ có anh Thạch tiếp Từ. Nguyễn Văn Linh c̣n nói khi gặp Trương Đức Duy anh sẽ chỉ nói về hợp tác hai nước và đề nghị gặp cấp cao, không nói đến “giải pháp đỏ”. Nhưng trên thực tế trong cuộc gặp đại sứ TQ vài hôm sau, Nguyễn Văn Linh đă lại nêu vấn đề đó.

 

Ngày 5/6/90, vài ngày trước khi Từ Đôn Tín đến Hà Nội, TBT Nguyễn Văn Linh đă mời đại sứ Trương Đức Duy (vừa từ Bắc Kinh trở lại Hà Nội) đến Nhà khách Trung ương Đảng nói chuyện thân mật. Đây cũng là lần đầu tiên trong 10 năm, tổng bí thư Đảng ta tiếp đại sứ Trung Quốc để tỏ sự trọng thị đối với Bắc Kinh. Trong cuộc gặp, như để chấp nhận lời phê b́nh của Đặng (nói qua Kayson), Nguyễn Văn Linh nói “Trong quan hệ hai nước, 10 năm qua có nhiều cái sai. Có cái đă sửa như việc sửa đổi Lời nói đầu của Hiến pháp, có cái sai đang sửa”. Anh sốt sắng ngỏ ư muốn sang gặp lănh đạo TQ để “bàn vấn đề bảo vệ Chủ nghĩa xă hội” v́ “đế quốc đang âm mưu thủ tiêu chủ nghĩa xă hội … chúng âm mưu diễn biến hoà b́nh, mỗi đảng phải tự lực chống lại. Liên Xô là thành tŕ xă hội chủ nghĩa, nhưng lại đang có nhiều vấn đề. Chúng tôi muốn cùng các người cộng sản chân chính bàn vấn đề bảo vệ chủ nghĩa xă hội… Tôi sẵn sàng sang Trung Quốc gặp lănh đạo cấp cao Trung Quốc để khôi phục lại quan hệ hữu hảo. Các đồng chí cứ kêu một tiếng là tôi đi ngay… Trung Quốc cần giương cao ngọn cờ chủ nghĩa xă hội, kiên tŕ chủ nghĩa Mác–Lênin”. Về vấn đề Campuchia, anh Linh đă gợi ư dùng “giải pháp đỏ” để giải quyết: “Không có lư ǵ những người cộng sản lại không thể bàn với những người cộng sản được”, “họ gặp Sihanouk c̣n được huống chi là gặp lại nhau”.

 

Sáng 6/6/1990, Bộ trưởng Quốc pḥng Lê Đức Anh lại gặp riêng và mời cơm đại sứ Trương Đức Duy. Cuộc gặp riêng chỉ giữa hai người. Trương Đức Duy vốn là thông dịch rất thạo tiếng Việt nên không cần có người làm phiên dịch. Nội dung cuộc gặp này măi đến ngày 19 tháng 6 trong cuộc họp BCT để đánh giá cuộc đàm phán  11–13/6 giữa tôi và Từ Đôn Tín, Lê Đức Anh mới nói là đă gặp Trương Đức Duy để nói cụ thể thêm ba ư mà anh Linh đă nói với đại sứ Trung Quốc hôm trước (gặp cấp cao hai nước; hai nước đoàn kết bảo vệ chủ nghĩa xă hội; hai nhóm cộng sản Khơ–me nên nói chuyện với nhau). Nhưng trước đó, từ ngày 6/6, phía Trung Quốc (tham tán Lư Gia Trung và Bí thư thứ nhất Hồ Càn Văn) đă cho ta biết nội dung câu chuyện giữa Lê Đức Anh và Trương Đức Duy. C̣n Đại sứ Trung Quốc cho anh Ngô Tất Tố, vụ trưởng Vụ Trung Quốc, biết là trong cuộc gặp ông ta ngày 6/6, anh Lê Đức Anh đă nói khá cụ thể về “giải pháp đỏ”: Sihanouk sẽ chỉ đóng vai tṛ tượng trưng, danh dự, c̣n lực lượng chủ chốt của hai bên Campuchia là lực lượng Heng Somrin và lực lượng Polpot. Trung Quốc và Việt Nam sẽ bàn với bạn Campuchia của ḿnh, và thu xếp để hai bên gặp nhau giải quyết vấn đề. Địa điểm gặp nhau có thể ở Việt Nam, có thể ở Trung Quốc, nhưng ở Trung Quốc là tốt hơn cả. Đây là gặp nhau bên trong, c̣n bên ngoài hoạt động ngoại giao vẫn b́nh thường… Ngày xưa Polpot là bạn chiến đấu của tôi …

 

Theo Hồ Càn Văn, ngày 23/5/90 Cục trưởng Cục Đối Ngoại Bộ Quốc Pḥng Việt Nam Vũ Xuân Vinh đă mời Tuỳ viên quân sự Trung Quốc Triệu Nhuệ đến để thông báo là TBT Nguyễn Văn Linh và Bộ trưởng Bộ Quốc Pḥng Lê Đức Anh sẽ tiếp Từ Đôn Tín khi Từ đến Hà Nội. Chính những động thái bất thường và vượt ra ngoài khuôn khổ ngoại giao này của ta đă làm cho Trung Quốc hiểu rằng nội bộ Việt Nam đă có sự phân hoá và vai tṛ của Bộ Ngoại giao không c̣n như trước.

 

Ngày 8/6/1990, khi được biết là lần này tôi sẽ là người đứng ra thay anh Đinh Nho Liêm đàm phán với Từ Đôn Tín, Bộ trưởng Quốc Pḥng Lê Đức Anh c̣n điện thoại dặn tôi tránh chủ động nói đến “giải pháp đỏ”: Việc hai bên đỏ tiếp xúc với nhau là chuyện lâu dài, cần cho ổn định lâu dài. Trung Quốc sẽ tác động với phía CPC thân Trung Quốc, ta sẽ tác động với phía CPC thân với ta để hai bên kiềm chế việc thù địch nhau. Việc này phải có thời gian, không thể đ̣i họ trả lời ngay. Đừng thúc họ, cứ để họ chủ động, khi nào trả lời được th́ họ trả lời … Phải rất bí mật. Lộ ra rất nguy hiểm. Chỉ nói khi gặp riêng chứ không nói khi đàm phán. Việc anh Nguyễn Văn Linh đặt vấn đề với đại sứ Trương Đức Duy nói sẵn sàng đi TQ gặp cấp cao nhất, cũng không nên hỏi lại nếu họ chưa nói tới. Những lời dặn ḍ này đối với tôi thực ra là không cần thiết, không phải v́ tôi sẵn ư thức bảo mật cao, mà bởi v́ ngay từ đầu tôi đă khó chịu với cái ư nghĩa gọi là “giải pháp đỏ”, với ư nghĩa bắt tay với bọn diệt chủng–dù chỉ là gián tiếp–để làm vừa ḷng Trung Quốc. Nhưng sự việc trở nên phức tạp khi trưa ngày 11/6/1990 sau đàm phán phiên đầu với Từ Đôn Tín, tôi về Bộ Ngoại Giao hồi báo lại với anh Thạch lúc này đang họp Hội nghị ngoại giao đánh giá t́nh h́nh Đông Âu–Liên Xô. Anh Thạch liền gạn hỏi tôi có nói với Từ về “giải pháp đỏ” không. Tôi nói: đồng chí Lê Đức Anh đă dặn phải thận trọng tránh nói đến vấn đề đó khi đàm phán. Anh Thạch vặn lại: Vậy đồng chí nghe theo ư kiến bộ trưởng Quốc pḥng hay ư kiến bộ trưởng Ngoại giao. Tôi đáp: Là cán bộ ngoại giao tôi sẵn sàng chấp hành ư kiến anh, với sự hiểu biết rằng anh nói với tư cách là ủy viên Bộ chính trị. Lúc ấy tôi thật bất ngờ trước phản ứng của anh Thạch, nhưng đồng thời cũng cảm nhận được vết rạn nứt trong BCT đă khá sâu.

 

Phía Trung Quốc tất nhiên không để lọt hiện tượng này v́ chính họ đang muốn tác động vào nội bộ ta. Chính thái độ quá đặc biệt, quá nhún ḿnh và cũng quá sơ hở của lănh đạo ta ngày 5 và 6/6/1990 đă gây khó khăn không nhỏ cho ngoại giao ta trong đợt đàm phán này. Ngay từ hôm đầu đến Hà Nội và trong suốt mấy ngày đàm phán, Từ Đôn Tín luôn dở giọng cao ngạo, dùng uy lực của chính lănh đạo ta để gây sức ép với cán bộ ngoại giao ta. Ngay trong lời đáp từ tại buổi tiệc của tôi chiêu đăi đoàn TQ tối 9/6/1990, Từ đă nói: “Sau khi nghe đại sứ Trương Đức Duy báo cáo lại, tôi càng tăng thêm ḷng tin tưởng, tôi tin rằng đồng chí thứ trưởng Trần Quang Cơ và các đồng chí lănh đạo Việt Nam, cụ thể hóa vào cuộc trao đổi với chúng tôi để chúng ta nhanh chóng giải quyết xong vấn đề”.

 

Vào phiên đàm phán đầu tiên, sáng 11/6/1990, Từ đă t́m cách ghim lại những điểm có lợi cho Trung Quốc hoặc ít nhất cũng hợp với ư đồ của họ bằng cách nêu ra 5 nhận thức chung rất bổ ích mà hai bên đă đạt được trong cuộc gặp ở Bắc Kinh đầu tháng 5/1990:

 

1.  Hai bên đều cho rằng vấn đề Campuchia cần đạt được một giải pháp toàn diện, công bằng và hợp lư.

2.  Phía Việt Nam bày tỏ đă rút hết quân khỏi Campuchia, chấp nhận sự kiểm chứng của Liên Hiệp Quốc và cam kết sẽ không quay lại Campuchia.

3.  Hai bên đều cho rằng, trong thời kỳ quá độ ở Campuchia sau khi Việt Nam rút hết quân, chấm dứt viện trợ bên ngoài và thực hiện ngừng bắn, cần thành lập Hội đồng toàn quốc tối cao. Về nguyên tắc hai bên chúng ta đều tán thành Hội đồng toàn quốc tối cao phải là cơ cấu quyền lực có thực quyền, c̣nviệc tổ chức Hội đồng đó thế nào, ư kiến của hai bên cơ bản nhất trí với nhau. Ứng cử viên của Hội đồng đó cụ thể là ai th́ phải do các bên Campuchia lựa chọn. Trung Quốc, Việt Nam tôn trọng sự lựa chọn đó. Chúng ta tán thành Hội đồng toàn quốc tối cao không loại trừ bất cứ bên nào, cũng không để bên nào nắm độc quyền. Về Hoàng thân Sihanouk, hai bên đều chủ trương Hoàng thân Sihanouk làm Chủ tịch Hội đồng toàn quốc tối cao.

4.  Vấn đề quân sự trong thời kỳ quá độ, hai bên đều cho rằng để tránh xảy ra nội chiến và giữ hoà b́nh ở Campuchia, cần có sự sắp xếp thoả đáng quân đội 4 bên Campuchia. Dĩ nhiên sắp xếp như thế nào, hai bên chúng ta cần bàn thêm.

5.  C̣n một điểm nữa, các đồng chí Việt Nam bày tỏ từ nay về sau sẽ không nhắc đến vấn đề diệt chủng, kể cả trong các văn kiện quốc tế cũng không nêu nữa.

 

V́ vậy Từ đề nghị tập trung bàn hai điểm tồn tại của lần gặp trước là vấn đề phạm vi quyền lực của Hội đồng Dân tộc Tối cao Campuchia và vấn đề lực lượng vũ trang của các bên Campuchia trong thời kỳ quá độ. Trong 3 ngày đàm phán, mỗi khi phía Trung Quốc thấy ta không chấp nhận yêu sách vô lư của họ về hai vấn đề thuộc nội bộ CPC này, nhất là khi ta kiên tŕ công thức “hai bên Campuchia”– tức là hai  chính phủ Nông Pênh và chính phủ Campuchia Dân chủ – hoặc có thể nói 2 bên Campuchia, nhưng dứt khoát bác công thức “4 bên Campuchia” của họ mang hàm ư chấp nhận vai tṛ hợp pháp của bọn Khơ–me đỏ, th́ Từ lại lên giọng chê trách tôi làm trái ngược ư kiến của lănh đạo VN, với lập luận là lănh đạo Việt Nam đă đưa ra ư “hợp tác giữa 2 phái cộng sản Khơ–me” tức là nhận từ “4 bên CPC” (có nghĩa là đưa Khơ–me đỏ lên ngang với Chính phủ Nông Pênh) và nhắc đến thoả thuận Tokyo, Từ nói: “Phát biểu của các đồng chí không nên trái ngược với các đồng chí lănh đạo Việt Nam. Ư kiến của Bộ Ngoại Giao nên nhất trí với ư của lănh đạo cấp cao, không nên có hai tiếng nói trái ngược”. Tôi phải đưa Từ trở về vị trí của y: “Đồng chí có thể yên tâm, không cần lo hộ, chúng tôi là Bộ Ngoại Giao có tiếng nói khác Trung ương. Đảng chúng tôi nhất trí từ trên xuống do Bộ Ngoại Giao là một bộ phận chịu sự lănh đạo chặt chẽ của Bộ Chính Trị chúng tôi”.

 

Về vấn đề Hội đồng Dân tộc Tối cao Campuchia, Trung Quốc kiên tŕ 3 điểm:

 

-    HĐDTTC (SNC) phải là cơ quan chính quyền tối cao hợp pháp duy nhất đại diện cho độc lập, chủ quyền, thống nhất của Campuchia. Về mặt đối ngoại, đại diện cho Campuchia trên quốc tế, giữ ghế cho Campuchia ở Liên Hiệp Quốc; về mặt đối nội, thực hiện quyền lập pháp và quản lư hành chính, trực tiếp nắm các ngành quan trọng ảnh hưởng đến tổng tuyển cử tự do, công bằng gồm quốc pḥng, ngoại giao, nội vụ, tuyên truyền, tài chính (với hiểu biết là xoá 5 bộ này của chính quyền Nông Pênh).

-    Không loại bên nào (tức là không loại Khơ–me đỏ), không bên nào độc quyền. Thành phần, số lượng do 4 bên Campuchia bàn bạc và quyết định. Sihanouk làm chủ tịch HĐDTTC (thực chất là bác bỏ Thông cáo chung Tokyo đă thỏa thuận là Hội đồng gồm 12 người, chia đều cho 2 bên, mỗi bên 6 người).

 

Tôi khẳng định HĐDTTC có trách nhiệm và quyền lực trong việc thực hiện các hiệp định được kư kết về Campuchia, về hoà giải dân tộc và về tổng tuyển cử; hai chính quyền hiện tồn tại không được làm việc ǵ cản trở trách nhiệm và quyền lực trên đây của HĐDTTC. C̣n việc các bên Campuchia chấp nhận ư kiến của Trung Quốc đến đâu là quyền của các bên Campuchia, Việt Nam và Trung Quốc không thể thay các bên Campuchia sắp đặt việc nội bộ của Campuchia.

 

Về vấn đề lực lượng vũ trang, Trung Quốc đ̣i ghi vào biên bản thỏa thuận: quân đội của 4 bên Campuchia phải tập kết vào những địa điểm do ủy ban giám sát của Liên Hiệp Quốc chỉ định. C̣n việc giảm quân hay thực hiện các nguyên tắc trên sẽ do các bên Campuchia thỏa thuận với nhau.

 

Như để thuyết phục ta chấp nhận lập trường của họ, Từ đưa ra dự kiến của Trung Quốc giải quyết vấn đề Campuchia theo 5 bước:

1.  Trung–Việt đạt được thoả thuận về giải pháp vấn đề Campuchia và ghi nhận lại bằng một biên bản nội bộ;

2.  Họp ngoại trưởng 5 nước Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan, Inđônêxia, Lào và ra tuyên bố chung;

3.  Họp hội nghị có tính chất khu vực giữa 5 nước trên và 4 bên Campuchia;

4.  Họp 5 nước Hội Đồng Bảo An với 4 bên Campuchia;

5.  Họp Hội nghị quốc tế Pa–ri về Campuchia.

 

Từ nói chỉ trao đổi nội bộ với ta dự kiến này ở đây, không nói với 4 nước ủy viên thường trực Hội Đồng Bảo An, cũng không nói với Liên Xô để tránh sự quấy nhiễu của bên ngoài. Tôi tránh b́nh luận cụ thể, chỉ nói đây là một gợi ư thú vị, rất đáng suy nghĩ, song cần làm sao cho bước khởi động của chúng ta ở đây có kết quả th́ toàn bộ kế hoạch mới có khả năng triển khai được.

 

Chiều ngày 12/6/1990, thực hiện yêu cầu của phía Trung Quốc, đă có cuộc họp hẹp giữa hai trưởng đoàn. Qua đó Từ nhờ tôi chuyển tới lănh đạo VN trả lời của lănh đạo Trung Quốc về những ư kiến mà Nguyễn Văn Linh và Lê Đức Anh đă nói với đại sứ Trung Quốc ngày 5 và 6/6/1990: “Lănh đạo Trung Quốc rất coi trọng quan hệ Trung–Việt. Lănh đạo Trung Quốc cũng rất coi trọng những ư kiến Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh và đồng chí Lê Đức Anh đă nói với đại sứ Trương Đức Duy. Phía Trung Quốc cho rằng quan hệ Trung–Việt sớm muộn cũng sẽ b́nh thường hóa. Hai bên đều cần cùng nhau cố gắng để thực hiện.Vấn đề Campuchia, cuộc chiến tranh Campuchia đă kéo dài hơn 10 năm. Đây là vấn đề toàn thế giới quan tâm, các nước trong khu vực, nhất là ASEAN, cũng rất quan tâm. Đối với hai nước Trung Quốc và Việt Nam, nhiệm vụ cấp bách cần giải quyết hiện nay là trên cơ sở những nhận thức chung đă đạt được, tiếp tục trao đổi ư kiến về hai vấn đề tồn tại (vấn đề quyền lực của Hội đồng tối cao và việc xử lư quân đội của các bên CPC), làm sao cho có tiến triển về hai vấn đề này. Nếu được như vậy, chúng ta sẽ góp phần vào việc thực sự giải quyết vấn đề Campuchia. Bước đi này là hết sức quan trọng. Chỉ có đi xong bước này, chúng ta mới có thể suy nghĩ đến những bước sau. Cũng có nghĩa là chỉ có đi xong bước này lănh đạo Trung Quốc mới suy nghĩ về việc gặp cấp cao và việc thúc đẩy hai phái cộng sản Khơ–me đỏ hoà giải với nhau. Giải quyết xong 2 điểm tồn tại đó để có được giải pháp toàn bộ, không nên vượt qua vấn đề Campuchia. Giải quyết xong vấn đề Campuchia th́ các bước tiếp theo về gặp gỡ cấp cao và b́nh thường hoá quan hệ giữa hai nước sẽ dễ giải quyết.

 

Ngay sau đó, tôi sang gặp thủ tướng Đỗ Mười báo cáo t́nh h́nh cuộc đàm phán để chuẩn bị cho việc anh ấy tiếp Từ Đôn Tín chiều hôm sau như đă dự định. Tôi nói: chỉ với việc anh Linh và anh Lê Đức Anh gặp Trương Đức Duy trước khi Từ Đôn Tín tới Hà Nội đă làm cho phía Trung Quốc lên giọng trong đàm phán, nay nếu anh Linh hoặc anh Mười lại tiếp hắn nữa th́ rất không nên. Nghe tôi tŕnh bày xong, Đỗ Mười bảo sở dĩ anh nghĩ đến chuyện gặp Từ là v́ sáng 10/6/1990 Lê Đức Anh đến yêu cầu Đỗ Mười gặp Từ. Nay như vậy th́ không cần gặp nữa. Đỗ Mười bảo tôi cùng đi ngay sang báo cáo sự t́nh với TBT Nguyễn Văn Linh v́ anh Linh cũng dự định tiếp Từ. Sau khi nghe tôi tŕnh bày, có một phút lặng đi, tôi nghĩ bụng Tổng bí thư chắc bị bất ngờ về những câu trả lời quá ư lạnh nhạt của lănh đạo Trung Quốc đối với những điều tâm huyết mà anh và Lê Đức Anh đă thổ lộ với đại sứ Trương Đức Duy. Rồi anh Linh cho ư kiến là trong t́nh h́nh này anh Mười hoặc một cấp cao khác của ta không cần tiếp Từ Đôn Tín nữa.

 

Ba ngày đàm phán với Từ nói chung là căng nhưng giông tố chỉ nổ ra khi Từ Đôn Tín đến chào Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch chiều 13.6.1990 trước khi đoàn Trung Quốc rời Hà Nội. Ngay từ đầu, không khí tṛ chuyện đă không lấy ǵ làm mặn mà lắm. Nhưng đến khi Từ nói: “Các đồng chí nói chúng ta nên khuyên hai phái cộng sản Campuchia ḥa giải với nhau nhưng lại không chấp nhận có “4 bên” Campuchia. Chúng tôi  không thể hiểu được trong hai giọng nói đó cái nào là thật cái nào là giả. Nghe tiếng nói này th́ tiếng nói kia là giả dối, nghe tiếng nói kia th́ tiếng nói này là giả dối. Mong rằng sau này các đồng chí không nên làm như vậy”, anh Thạch đă phản ứng mạnh: “Chúng tôi không đ̣i các đồng chí nói chỉ có hai bên Campuchia; các đồng chí cũng không thể đ̣i chúng tôi nói 4 bên. Chúng tôi nói các bên, không loại bỏ bên nào là đủ rồi. Nếu nói khác đi là chống lại Hội nghị Tokyo. Tôi nói thật, dùng thủ đoạn xuyên tạc th́ rất khó đàm phán … Tôi rất trọng đồng chí nhưng rất không hài ḷng với những điều đồng chí nói v́ đồng chí có những xuyên tạc. Như thế rất khó đàm phán”. Cuộc nói chuyện kết thúc bằng câu “Chào Ngài” của Từ Đôn Tín. Và anh Thạch cũng đáp lại bằng từ đó thay vào từ “đồng chí”.

 

Tôi không có mặt trong buổi anh Thạch tiếp Từ Đôn Tín nhưng khi nghe kể lại chuyện đó tôi không hề ngạc nhiên. Tôi nhớ như in cái giọng ngạo mạn kiểu “sứ giả thiên triều” của Từ trong buổi gặp ngày 13/6/90: Lần này tôi sang Hà Nội chủ yếu để bàn với các đồng chí Việt Nam về vấn đề Campuchia, đồng thời cũng xem xét nguyện vọng của các đồng chí, chúng tôi đă chuẩn bị ư kiến về quan hệ hai nước Trung Quốc–Việt Nam. Khi nói “nguyện vọng của các đồng chí” là Từ muốn nói đến những điều mà anh Linh và anh Anh đă nói với đại sứ Trung Quốc Trương Đức Duy ngày 5 và 6/6/1990. Đây là cuộc đàm phán giữa hai quốc gia b́nh đẳng, làm sao Trung Quốc có thể nói đến chuyện “xem xét nguyện vọng” của lănh đạo Việt Nam được thêm vào đó; tâm trạng Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch trong những ngày này lại đang nặng trĩu những suy tư khác.

 

Sau khi xảy ra va chạm giữa Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch và trưởng đoàn TQ Từ Đôn Tín, sức ép vào nội bộ ta càng mạnh hơn; suốt nửa cuối 1990 đến đầu 1991, TQ phớt lờ Bộ Ngoại Giao, chỉ làm việc với Ban Đối ngoại; ngoại trưởng Tiền Kỳ Tham từ chối gặp Nguyễn Cơ Thạch tại kỳ họp Đại hội đồng LHQ ở Nữu–ước tháng 9/1990. Trước đó, ư đồ TQ phân hoá nội bộ ta đă bộc lộ rơ: muốn ta phải thay đổi bộ trưởng ngoại giao.

 

Liều thuốc của thầy Tàu bốc cho ta thật là đắng, thế nhưng đâu có dă được tật!