Hồi ức & Suy Nghĩ  (02)

Trần Quang Cơ

 

Một nhiệm kỳ đại sứ không tẻ nhạt.

 

Tháng 10.1982, tôi được bổ nhiệm đi làm đại sứ tại Vương quốc Thái Lan[33]–một điểm tiên tiến của mặt trận đối ngoại thời kỳ ấy v́ chính quyền Thái Lan lúc đó gắn bó rất chặt với Trung Quốc trong việc nuôi dưỡng bè lũ diệt chủng Polpot chống Việt Nam. Không thể nói nhiệm kỳ đại sứ của tôi ở Thái Lan khi đó là b́nh lặng hay tẻ nhạt. Hầu như không có tháng nào là không có những đám đông biểu t́nh trước sứ quán ḥ hét phản đối Việt Nam “xâm lược” Campuchia, xâm phạm lănh thổ Thái. Thông thường những hoạt động này trở nên náo nhiệt vào đầu mùa khô hàng năm, cùng lúc với các hoạt động quân sự bắt đầu trên biên giới CPC–Thái. Đám “biểu t́nh” – có khi là dân “xám–ló” (loại xe xích–lô máy của Thái), có khi là tổ chức dân vệ Thái, có khi là đám người Việt phản động ở mấy tỉnh Đông Bắc–thường tụ tập trong công viên Lum–pi–ni[34] ở gần đại sứ quán ta trên đường Oai–rơ–lét (Wireless Road[35]), để nhận tiền “biểu t́nh phí”.

 

Báo chí Thái Lan hồi đó h́nh như rất khoái theo dơi phản ánh các hoạt động của đại sứ Việt Nam, đặc biệt là những khi có cuộc gặp gỡ không lấy ǵ làm vui vẻ giữa Bộ Ngoại giao Thái Lan và đại sứ Việt Nam. Phải nói rằng nhiệt độ không khí “chuyện tṛ” giữa tôi với các vị quan chức, ngoại giao Thái phản ánh khá trung thành cường độ chiến sự ở vùng biên giới Campuchia–Thái Lan. Tôi không thể nào quên lời phát biểu đầy phẫn nộ của ngài Tư lệnh lục quân đầy quyền uy Ac–thit Khăm–lang–ẹc[36] với báo chí: “Chẳng cần có đại sứ Việt Nam ở Thái Lan nữa”, sau khi tôi đă lịch sự nhưng kiên quyết từ chối nhận hai bức công hàm phản đối của ngoại trưởng Thái. Bức công hàm ngày 17.4.1983 của Thái phản đối quân đội Việt Nam bắn rơi chiếc máy bay trinh sát L19 làm chết viên phi công lái máy bay đó, và sau đó lại bắn hỏng một chiếc trực thăng của quân đội Thái. C̣n công hàm ngày 1.5.1984 phản đối quân đội Việt Nam “pháo kích vào lănh thổ Thái” thuộc tỉnh Surin làm chết và bị thương một số dân làng. Tuyên bố giận dữ của tướng Ac–thit đă được phụ hoạ bởi một số báo Thái, trong đó tờ nhật báo tiếng Anh “Daily News” (Tin tức hàng ngày) có xă luận viết: “Chính phủ (Thái Lan) cần yêu cầu Việt Nam thay ngay đại sứ của họ ở Băng–cốc để phản đối việc ông này đă từ chối nhận công hàm phản kháng của Thái”. Sự việc đó xảy ra vào thời gian đầu mùa khô 1984–1985, lúc quân t́nh nguyện Việt Nam mở chiến dịch đánh thẳng vào vùng “đất thành” và xoá sạch các căn cứ của 3 phái Khơ–me phản động nằm trên đường biên giới Campuchia–Thái Lan và cắm sâu vào đất Thái Lan. Cũng thời gian đó đă xảy ra những vụ tập kích và pháo kích của quân Trung Quốc vào mấy tỉnh biên giới phía Bắc nước ta để phối hợp cứu nguy cho bọn diệt chủng Polpot ở mặt trận phía Tây nước ta.

 

Thông qua báo chí Thái, tôi cũng đă có dịp làm cho nhân dân Thái Lan rơ sự thật về vấn đề Campuchia trong khi trả lời phỏng vấn của tờ Kledlap (Bí Quyết) ngày 15.4.1984:

 

Hỏi: Ngài có tán thành ư kiến cho rằng chiến tranh CPC là cuộc xung đột giữa Liên Xô–VN một bên với Trung Quốc–Khơ–me đỏ một bên, c̣n ASEAN và các bên khác chỉ đóng vai tṛ phụ? Nếu đúng như vậy, Ngài có ư kiến thế nào về sáng kiến của ông Adam Malik[37] về đàm phán Liên Xô–Việt Nam–Trung Quốc để giải quyết vấn đề CPC?

 

T.L: Thực chất của cái gọi là vấn đề CPC hiện nay là việc Trung Quốc sử dụng một trong những công cụ đắc lực nhất và cũng là thô bạo nhất của họ để can thiệp và đe dọa an ninh của các nước Đông Dương, trước hết là Campuchia. Nếu cho rằng đây là xung đột giữa Liên Xô–Việt Nam với Trung Quốc–Khơ–me đỏ th́ là mắc bẫy Trung Quốc cả, đều là sai lầm nguy hiểm. V́ như thế sẽ không thấy được mối đe dọa lớn đối với an ninh của tất cả các khu vực này là chủ nghĩa bành trướng và bá quyền Trung Quốc. Liên Xô trước đến nay chỉ giúp nhân dân 3 nước Đông Dương bảo vệ độc lập và xây dựng hoà b́nh đất nước ḿnh, không đe dọa ai cả. V́ vậy, xin miễn phát biểu về ư kiến của ông Adam Malik ở đây.

 

Hỏi: Chiến tranh (ở CPC) kéo dài sẽ ảnh hưởng đến kinh tế Việt Nam và ASEAN, không rơ ai sẽ chịu đựng được lâu hơn ai?

 

T.L: Tôi nghĩ rằng không nên đặt vấn đề như vậy, v́ sẽ trúng hiểm kế của Bắc Kinh. Thủ đoạn lớn của họ trong chính trị quốc tế xưa nay vẫn là “ngồi trên núi xem hổ đánh nhau”. Nước chúng ta không lớn như họ, v́ vậy ta cần phải thông minh hơn họ, ít nhất cũng không mắc mưu họ. Lợi ích của nhân dân các nước Đông Nam Á không cho phép chúng ta kéo dài t́nh h́nh đối đầu hiện nay để cho các nước khác đứng ngoài hưởng lợi.

 

Trong chuyến đi Inđônêxia[38] tháng 3 vừa qua của Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch, Việt Nam và Inđônêxia đă nhất trí nhận định là để t́nh h́nh tiếp tục như hiện nay là có hại cho các nước trong khu vực trong cố gắng xây dựng nền kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân ḿnh. Hai bên đă thừa nhận là giải quyết được t́nh h́nh này sẽ có lợi cho tất cả các nước Đông Nam Á. Nếu không sẽ chỉ có lợi cho các bên thứ ba.

 

Hỏi: Không rơ Ngài có thể khẳng định được hay không rằng trong t́nh h́nh hiện nay quân VN sẽ không tràn qua biên giới Thái Lan.

 

T.L: Về điều này chúng tôi có thể đảm bảo chắc chắn rằng chúng tôi không xâm phạm lănh thổ của Thái Lan.

 

Hỏi: Nhưng chính quyền và quân đội Thái Lan đă vạch rơ điều đă xảy ra. Một số phóng viên nước ngoài cũng đưa tin  này.

 

T.L: Xin khẳng định lại rằng trong đợt tấn công bọn Khơ–me đỏ vừa qua, bọn này đă chạy vào lănh thổ Thái Lan. Lực lượng của chúng tôi đă dừng lại ở biên giới chứ không xâm phạm lănh thổ Thái Lan, mặc dù phía Thái Lan đă tạo điều kiện cho bọn này chạy sang. Về tin nói rằng bắt được tù binh Việt Nam, có xác binh sĩ và xe tăng Việt Nam trong đất Thái Lan là hoàn toàn bịa đặt.

 

Hỏi: Ngài Tư Lệnh tối cao kiêm Tư Lệnh Lục quân (Ac–thit Khăm–lăng–ẹc) đă đưa ra tin này

 

T.L: Chính Ngài Tư Lệnh tối cao quân đội khẳng định tin nói rằng quân đội Thái Lan đă sử dụng máy bay A.37 ném bom phá hủy kho vũ khí của Khơ–me đỏ, cũng chưa rơ kho này nằm trên đất Thái hay trên đất CPC. Trong khi chiến sự đang xảy ra ở biên giới, quân đội Thái Lan đă không tạo điều kiện cho phóng viên nước ngoài vào làm tin ở khu vực đó. Nhiều phóng viên nước ngoài rất bất b́nh về việc này và nói rằng quân đội Thái Lan đưa tin rất lộn xộn, hôm nay nói thế này, ngày mai lại nói thế kia, không thống nhất. Ví dụ như lúc đầu nói bắt được 40 tù binh VN, sau đó nói là bắt được 41 người, tiếp đó nói chỉ bắt được 6 người, c̣n là người Khơ–me.

 

Hỏi: Không rơ Việt Nam sẽ có biện pháp sớm chấm dứt chiến sự như thế nào?

 

T.L: Theo ư kiến riêng tôi, nếu chiến sự lần này chấm dứt càng sớm sẽ càng có lợi cho các bên. Trước hết chúng tôi muốn giữ ǵn mối quan hệ, muốn làm cho biên giới Thái Lan–Campuchia có hoà b́nh ổn định và muốn cho Việt Nam và Thái Lan sớm có quan hệ hữu nghị. Chúng tôi không muốn chiến tranh kéo dài, nhưng cũng không sợ chiến tranh kéo dài.

 

Hỏi: Vấn đề không an toàn hiện nay là quân đội VN đă áp sát biên giới Thái Lan. Nếu ở vào cương vị Thái Lan th́ VN cũng sẽ cảm thấy ḿnh không an toàn nếu như có lực lượng nước ngoài xâm phạm như vậy. Đây là điều suy nghĩ hiện nay của Thái Lan.

 

T.L: Nếu như các ông theo dơi kỹ vấn đề th́ các ông sẽ thấy không phải là ǵ mới mẻ cả. Chúng tôi đă nhiều lần đưa ra nhiều sáng kiến: từ năm 1980 chúng tôi đă đề nghị xây dựng khu an toàn dọc biên giới Thái Lan–CPC nhằm đảm bảo an ninh ở khu vực này, để làm cho phía Thái Lan khỏi lo ngại việc quân đội VN có mặt ở CPC. Nhiệm vụ của quân đội VN ở CPC chỉ nhằm tiêu diệt lực lượng Polpot. Chúng tôi đă nhiều lần tuyên bố quân đội VN sẽ rút ngay khi nguy cơ đe dọa từ Trung Quốc đă chấm dứt.

 

Khi cho in bài phỏng vấn này, Ban biên tập đă tự ư cắt bỏ không dùng trả lời của tôi nói về bằng chứng quân đội Thái đă giúp quân Polpot và đă xâm phạm lănh thổ CPC.

 

Trong khi Việt Nam tiếp tục sa lầy vào Campuchia th́ ba nước lớn trong tam giác chiến lược Mỹ–Xô–Trung lại có sự điều chỉnh chiến lược để tập trung vào phát triển kinh tế, đi vào xu thế hoà hoăn nhằm vừa tranh thủ vừa đấu tranh kiềm chế lẫn nhau. Vấn đề Campuchia bắt đầu được đưa vào chương tŕnh nghị sự của các cuộc đàm phán từng cặp một giữa ba nước lớn. Ngay từ khi Trung–Xô khởi đầu quá tŕnh đàm phán b́nh thường hoá quan hệ giữa hai bên, tháng 10.1982 ở Bắc Kinh, Trung Quốc đă nêu “3 trở ngại” cho việc b́nh thường hoá quan hệ Trung–Xô là xung đột biên giới Trung–Xô, vấn đề Campuchia, vấn đề Afghanistan, và trao bản yêu sách 5 điểm về vấn đề Campuchia cho Liên Xô:

 

a)  Liên Xô chấm dứt ủng hộ Việt Nam xâm lược Campuchia.

b) Việt Nam tuyên bố rút hết quân khỏi Campuchia. Đàm phán b́nh thường hoá quan hệ Trung–Việt sẽ bắt đầu sau khi những đơn vị quân VN đầu tiên rút.

c)  Trung Quốc có những biện pháp cải thiện quan hệ với Liên Xô.

d) Lập chính phủ liên hiệp CPC đại diện cho tất cả các phe phái ở Campuchia (điều này có nghĩa là hợp thức hóa phái Polpot diệt chủng).

e)  Bảo đảm quốc tế cho một nước CPC độc lập và không liên kết.

 

Đến ngày 1.3.1983, Trung Quốc đưa ra công khai 5 điểm trên. Thực ra lúc đó Trung Quốc đưa ra lập trường 5 điểm giải quyết vấn đề Campuchia chủ yếu để làm con bài mặc cả với Liên Xô, và gây sức ép với Mỹ và ASEAN chứ chưa định giải quyết v́ Trung Quốc cho rằng gh́m chân Việt Nam ở Campuchia càng lâu càng có lợi cho họ. Thời gian tôi làm đại sứ Việt Nam ở Thái Lan th́ đại sứ Trung Quốc ở Thái Lan là Trương Đức Duy, với Trương Thanh là tham tán. Những nhân vật này tôi lại gặp lại sau này khi đàm phán với Trung Quốc về b́nh thường hóa quan hệ giữa hai nước. Thời gian làm đại sứ ở Bangkok cũng đă giúp tôi t́m hiểu được thêm về ư đồ lâu dài của Trung Quốc ở Đông Nam Á và trong vấn đề Campuchia.

 

Vấn đề Hoa kiều cũng là một đặc điểm mà Trung Quốc muốn khai thác để ḥng giành thêm lợi thế chính trị và kinh tế ở Đông Nam Á. Số lượng người Hoa ở Thái Lan cũng như các nước ĐNÁ khác đều khá lớn và nắm vai tṛ quan trọng trong nền kinh tế địa phương. Nhưng ở các nơi khác cộng đồng người Hoa thường tách biệt riêng ra c̣n ở Thái họ hầu như đă đồng hóa với dân địa phương. Rất khó phân biệt người Thái gốc Hoa với người bản địa, nhất là trong tầng lớp trung lưu trở lên, kể cả trong hoàng tộc.

 

Trong khi đó, người Việt ở Thái Lan lại chịu một số phận hẩm hiu hơn nhiều. Ta quen gọi là Việt kiều Thái Lan, nhưng chính quyền Thái Lan chỉ coi họ là những người “tị nạn bất hợp pháp” của nước Việt Nam cộng sản, không coi là ngoại kiều (không được cấp giấy “tàng–dạo” – giấy chứng nhận là ngoại kiều) cũng không được nhập quốc tịch Thái. V́ vậy nên hàng chục vạn người Việt mặc dù đă làm ăn sinh sống trên đất Thái hàng chục năm vẫn bị “quản thúc” ở mấy tỉnh miền Đông Bắc Thái Lan. Phải xin giấy phép của chính quyền Thái nếu muốn ra khỏi nơi ḿnh cư trú, cũng như nếu muốn đến sứ quán ở Băng–cốc những dịp Tết Nguyên đán hay ngày Quốc khánh. Ngược lại đại sứ ta cũng không thể tới những tỉnh có đông người Việt ở Đông Bắc để thăm hỏi bà con kiều bào ḿnh. Người tiền nhiệm tôi, anh Hoàng Bảo Sơn, trước khi kết thúc nhiệm kỳ đại sứ đă đặt vấn đề với Bộ Ngoại giao Thái Lan xin được đi Đông Bắc thăm và chào từ biệt kiều bào và đă nhận được câu trả lời rất chi là “ngoại giao”: không đảm bảo an toàn trên đường đi. Để vượt qua sự ngăn cản đó đến với kiều bào, ngày tháng 6 năm 1985, không báo trước cho Bộ Ngoại giao Thái nhưng có thông báo với ban đại diện Việt kiều tỉnh, tôi cùng mấy anh em trong bộ phận lănh sự đáp máy bay nội địa đi thẳng đến Ubon Thani, tỉnh có đông Việt kiều nhất vùng Đông Bắc. Đến nơi bà con Việt kiều ở Ubon và các tỉnh lân cận tổ chức đón tiếp cực kỳ nhiệt t́nh, bộc lộ t́nh cảm khát khao với quê hương đất nước. Nhưng đồng thời, chính quyền và công an tỉnh cũng không kém phần quan tâm đến chúng tôi. Họ chất vấn tôi ngay khi vào pḥng khách sạn: v́ sao ngài đại sứ đi không báo cho Bộ Ngoại Giao? Ngài đến Ubon có việc ǵ? Đă dự kiến trước t́nh huống này, tôi thản nhiên đáp: Tôi nhận được thiếp báo cưới con cháu gái hơi chậm nên vội đi. Hơn nữa đây là chuyện riêng tư gia đ́nh nên không muốn các ngài bận tâm đến. Đại khái câu chuyện trao đi đổi lại lúc đầu có vẻ căng thẳng nhưng đă kết thúc khá êm thấm. Cuối cùng họ chỉ yêu cầu mỗi khi đại sứ đi đâu xin cho hai xe mô tô đi trước và một xe ô tô công an đi sau hộ tống. Và buổi lễ cưới hôm sau được biến thành một cuộc mít–tinh lớn tổ chức ở ngoài trời chiếm cả một đường phố lớn để đông đảo Việt kiều được tham dự. Sự kiện này là một kỷ niệm khó quên của tôi ở Thái Lan.

 

Tháng 10 năm 1986, vừa tṛn 4 năm ở Thái, tôi kết thúc nhiệm kỳ đại sứ, rời Bangkok về Hà Nội. Ngay sau khi về nước, tôi được giao nhiệm vụ nghiên cứu giúp bạn Lào trong cuộc đàm phán với Trung Quốc vào cuối năm 1986 theo yêu cầu của Bộ Ngoại Giao Lào. Tôi đă sang Vientiane[39] 3 lần trong mấy tháng 10, 11 và 12.1986 để trao đổi ư kiến với bạn trong việc chuẩn bị nội dung chính trị và kế hoạch tiến hành cuộc đàm phán. Việc Trung Quốc đáp ứng khá nhanh lời tuyên bố của ngoại trưởng Lào–trong bản tuyên bố của Hội nghị bộ trưởng ngoại giao 3 nước Đông Dương lần thứ 13 (tháng 8/1986)–trong khi họ vẫn từ chối đàm phán b́nh thường hoá quan hệ với VN, nhằm chia rẽ ba nước Đông Dương; âm mưu b́nh thường hoá quan hệ riêng rẽ với Lào, cải thiện quan hệ với Liên Xô và Đông Âu để gây sức ép với ta trong vấn đề Campuchia. V́ vậy, trong đàm phán, Trung Quốc muốn kéo Lào đi vào bàn các vấn đề cụ thể thuộc quan hệ song phương hai nước. Cụ thể TQ nêu 4 vấn đề: lập lại quan hệ ngoại giao cấp đại sứ, quan hệ mậu dịch, thỏa thuận những điểm tồn tại về biên giới, nhân dân vùng biên hai bên qua lại tự do. C̣n phía Lào nêu lại 3 vấn đề: t́nh h́nh căng thẳng ở biên giới Lào–TQ, TQ nuôi dưỡng bọn Lào lưu vong, giải quyết với cả 3 nước Đông Dương. Theo chủ trương đă nhất trí với ta là “không giải quyết ǵ, chủ yếu để thăm ḍ đối phương và giữ cầu để tiếp tục đàm phán”. Lào kéo Trung Quốc phải đi vào bàn những vấn đề có tính chất nguyên tắc và phải đề cập đến những vấn đề mà Bắc Kinh muốn lẩn tránh như vấn đề Campuchia, vấn đề quan hệ Trung Quốc–Việt Nam. Qua đàm phán chính thức cũng như qua những cuộc trao đổi riêng, ta đă hiểu rơ thêm được về ư đồ của Trung Quốc đối với khu vực này. Lúc này Trung Quốc tuy chưa thay đổi chính sách đối với Đông Dương–Đông Nam Á, song có khó khăn thúc bách về thời gian. Trước mắt họ muốn nắn gân cốt ta, muốn thăm ḍ mức độ đoàn kết nhất trí giữa Việt Nam–Lào–Campuchia, nhất là về vấn đề Campuchia. Thứ trưởng ngoại giao Lưu Thuật Khanh[40], trưởng đoàn đàm phán Trung Quốc, coi vấn đề Campuchia không liên quan ǵ tới Lào cũng như tới quan hệ Trung Quốc–Lào, nhưng đồng thời lại có ư qua Lào thăm ḍ ư đồ của ta trong vấn đề Campuchia.

 

Cuộc đàm phán không đem lại kết quả. Lưu mời Lào sang Bắc Kinh bàn tiếp. Đối với tôi đây cũng là một dịp bản thân tôi được bổ sung thêm hiểu biết về chính sách của TQ đối với Đông Dương và dụng ư xấu xa của họ khi tiếp tục tung ra luận điệu “Việt Nam mưu đồ thiết lập Liên bang Đông Dương”.

                           

 

Đại hội “đổi mới”

 

Đại hội VI, mệnh danh là Đại hội “đổi mới” của Việt Nam, thực chất bắt đầu từ đổi mới tư duy kinh tế mà đi tới đổi mới tư duy đối ngoại. Đại hội diễn ra trong bối cảnh xu hướng hoà b́nh ổn định trên thế giới đang phát triển, các nước lớn đi sâu vào quan hệ hoà hoăn từng cặp Mỹ–Xô, Mỹ–Trung và Xô–Trung. Không phải ngẫu nhiên mà Nghị quyết 32 BCT ngày 9.7.1986 quy định cần đạt giải pháp chính trị vấn đề Campuchia và đi vào b́nh thường hoá quan hệ với Trung Quốc (“giải pháp vấn đề Campuchia phải giữ vững thành quả cách mạng Campuchia, giữ vững đoàn kết 3 nước Đông Dương”) lại ra đời ít ngày trước bài diễn văn của Gorbachov[41] ở Vladivostok[42] (28.7.1986) trong đó Gorbachov công bố những nét lớn trong chính sách đối ngoại mới của Liên Xô đối với Châu Á–Thái B́nh Dương: xích gần lại với Trung Quốc, giải quyết “3 trở ngại” mà Trung Quốc nêu ra (rút quân khỏi Afhganistan, chấm dứt xung đột biên giới Trung–Xô, giải quyết vấn đề Campuchia). Gorbachov tuyên bố: Vấn đề Campuchia không thể giải quyết ở các thủ đô xa xôi, kể cả ở Liên Hiệp Quốc, phải giải quyết giữa Việt Nam và Trung Quốc là hai nước xă hội chủ nghĩa láng giềng.

 

Cũng trong những năm 1986–1988, cuộc khủng hoảng kinh tế–xă hội ở nước ta lên tới đỉnh cao. Trước thúc bách của hoàn cảnh thế giới và trong nước như vậy, về đối ngoại, Đảng đă quyết định chuyển sang một giai đoạn đấu tranh mới trong cùng tồn tại hoà b́nh với Trung Quốc, ASEAN, Mỹ để nhanh chóng phục hồi kinh tế, phát triển trong hoà b́nh. Giai đoạn đấu tranh nhằm giành thắng lợi hoàn toàn cho cách mạng CPC với ảo tưởng “t́nh h́nh không thể đảo ngược” (irreversible) đă kết thúc và ta phải chấp nhận thực tế đấu tranh từng bước để đạt một giải pháp chính trị cho vấn đề CPC.

 

Sau khi được đắc cử (không phải qua ứng cử ở một đảng bộ địa phương) đi dự Đại hội VI (tháng 12.1986), tôi được bầu vào Trung ương khóa 6. Rồi đến tháng 1.1987 nhận chức thứ trưởng Bộ Ngoại giao, chuyên trách vấn đề giải pháp Campuchia.

 

Ngày 09.4.1987, để giúp Bộ Chính trị xúc tiến việc thực hiện Nghị quyết 32 BCT và Nghị quyết về đối ngoại của Đại hội VI. Bộ Ngoại giao đă ra quyết định thành lập Tổ nghiên cứu nội bộ lấy kư hiệu là CP87 với nhiệm vụ:

- Nghiên cứu chủ trương giải quyết các vấn đề b́nh thường hoá quan hệ với TQ, vấn đề Campuchia và hoà b́nh ở Đông Nam Á; chuẩn bị các phương án đấu tranh trước, trong và sau khi có giải pháp;

- Nghiên cứu các diễn đàn có thể tác động tích cực tới phương hướng đó;

- Nghiên cứu nội dung phối hợp hoạt động với Liên Xô, Lào, Campuchia theo phương hướng đó.

 

 

Bộ phận thường trực CP87 gồm có: Trần Quang Cơ, phụ trách chung, Đặng Nghiêm Hoành (vụ trưởng Vụ Tổng hợp đối ngoại) tổ phó, Nguyễn Phượng Vũ (vụ trưởng Vụ Trung Quốc), Trần Xuân Mận (vụ trưởng Vụ Á châu II). Các thành viên không thường trực của CP87 có: anh Đặng Nghiêm Bái (vụ trưởng Vụ Bắc Mỹ), anh Tạ Hữu Canh (vụ trưởng Vụ Liên Xô), anh Nguyễn Can (vụ trưởng Vụ Á châu III), anh Trịnh Xuân Lăng (vụ trưởng Vụ Báo chí), … Là thứ trưởng chuyên trách vấn đề Campuchia, tôi có nhiệm vụ trực tiếp chỉ đạo CP87.

 

Bộ Ngoại giao CHND Campuchia cũng thành lập bộ phận B1 có thứ trưởng Ngoại giao Dith Munty, Sok An, Chom Prasit … làm đối tác của CP87.

 

 

CP87 và 3 tầng quan hệ của vấn đề Campuchia

 

Trước t́nh h́nh quốc tế và khu vực ngày càng rối rắm phức tạp, vấn đề CPC đă được quốc tế hoá cao, chúng tôi không thể không cùng nhau rà lại những nhân tố cơ bản trước khi đưa ra những phương án giải quyết. Qua phân tích t́nh h́nh, chúng tôi thấy việc giải quyết vấn đề CPC nay đă quốc tế hoá cao nằm trong lợi ích không những phe phái CPC mà c̣n đụng đến lợi ích của các nước trong khu vực và chịu ảnh hưởng tính toán chiến lược của các nước lớn trên thế giới nữa. Cho nên những lực lượng trực tiếp can dự vào việc giải quyết vấn đề Campuchia có thể phân thành 3 tầng: Tầng 1 gồm 5 nước thường trực Hội Đồng Bảo An, chủ yếu là ba nước lớn: Trung Quốc, Liên Xô và Mỹ. Tầng 2 gồm các nước Đông Nam Á, chủ yếu là Việt Nam và Thái Lan. Tầng 3 là các bên Campuchia gồm Nhà nước Campuchia (SOC[43]) và 3 phái trong cái gọi là “Campuchia Dân Chủ”. Thoạt nh́n tưởng chừng như các phe phái CPC và những nước kế cận phải giữ vai tṛ quyết định vấn đề CPC v́ có lợi ích “sát sườn”[44]. Nhưng nếu suy xét thật thấu đáo th́ mới thấy giữ vai tṛ quyết định lại là các nước lớn. Việc nghiên cứu giải pháp của chúng tôi tất nhiên phải tập trung vào theo dơi sát những nhân tố trực tiếp trong tầng thứ ba, nhưng không thể bỏ sót những động thái trong mối quan hệ giữa các nước thuộc tầng thứ nhất.

 

Để có được phương hướng hành động giữa lúc nhiều nhận thức về đối ngoại của ta khi đó c̣n trong t́nh trạng tranh tối tranh sáng, chúng tôi đă tổ chức những buổi thảo luận trong nội bộ CP87 với tinh thần tự do tư tưởng để có thể nh́n thấy được thực chất của sự việc. Trong lúc nhận thức con người về thế giới bên ngoài c̣n bị chi phối bởi cảm tính mạnh hơn lư trí, người ta dễ xem nhẹ thực chất vấn đề mà hướng theo những hiện tượng nhất thời. Sau sự kiện Trường Sa 1988 mà hải quân Trung Quốc đă gây tổn thất khá nặng cho hải quân ta và việc Trung Quốc tiếp tục gây căng thẳng trong quan hệ với ta, bác bỏ các đề nghị của ta cải thiện quan hệ giữa hai nước, trong nội bộ ta đă xuất hiện những ư kiến khác nhau. Không khí chung lúc đầu là không thuận lợi cho việc b́nh thường hoá quan hệ với Trung Quốc theo tinh thần Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị. Ta nh́n mặt bành trướng bá quyền của Trung Quốc đậm nét hơn mặt xă hội chủ nghĩa. Nhiều ư kiến cho rằng trong khi Trung Quốc đang chống ta trong vấn đề Campuchia và t́m cách lấn chiếm biên giới hải đảo của ta, việc ta quyết định rút quân khỏi Campuchia, sửa Lời nói đầu của Điều lệ Đảng là hữu khuynh trong quan hệ với Trung Quốc. Chủ trương của Bộ Chính trị về giảm tuyên truyền chống Trung Quốc cũng không được thực hiện đầy đủ. Ngày 20.5.1987, với tinh thần thực sự cầu thị, Bộ Ngoại Giao làm tờ tŕnh lên Bộ Chính trị kiến nghị sửa Lời nói đầu của Hiến pháp, bỏ chỗ nói Trung Quốc là kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm nhất như đă sửa Điều lệ Đảng, măi tới 26.8.1988 Quốc Hội mới có nghị quyết thông qua việc sửa này. Có người c̣n nói mỉa: có phải Ngoại giao định quỳ gối trước Trung Quốc không”. Nhưng rồi sang năm 1989, khi bắt đầu cuộc khủng hoảng trong phe xă hội chủ nghĩa, một số ngành trong Trung Ương ta và ngay trong Bộ Chính trị lại xuất hiện những ư kiến khác nhau về đánh giá sự kiện Thiên An Môn cũng như đánh giá t́nh h́nh Liên Xô–Đông Âu. Lúc này luận điểm được dùng lại là: “dù bành trướng thế nào Trung Quốc vẫn là một nước xă hội chủ nghĩa”.

 

Tôi và anh em trong bộ phận thường trực CP87 đă mất khá nhiều thời giờ tranh luận về thực chất Trung Quốc là xă hội chủ nghĩa hay bành trướng bá quyền? mặt nào là chính trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc? “chủ nghĩa xă hội mang màu sắc Trung Quốc” cụ thể là ǵ? Trung Quốc muốn ǵ trong vấn đề Campuchia? muốn ǵ khi nuôi dưỡng bè lũ Khơ–me đỏ chống Việt Nam? ư đồ của Trung Quốc đối với Việt Nam?

 

Chúng tôi thấy rằng: Trung Quốc ngày nay có hai mặt, mặt xă hội chủ nghĩa và mặt bành trướng bá quyền. Tính chất xă hội chủ nghĩa thể hiện tương đối rơ nét hơn về chính sách đối nội, ở cơ cấu xă hội, cơ cấu kinh tế của họ. C̣n đường lối đối ngoại của Trung Quốc lại mang tính chất cổ truyền của họ là bành trướng bá quyền. Cái bất biến của Trung Quốc là tham vọng bá quyền. Nhưng những cái mà Trung Quốc sử dụng làm công cụ để thực hiện chính sách đó lại là “vạn biến”. Tùy theo lợi ích của họ trong từng lúc mà một nước nào đó có thể được Trung Quốc coi là bạn hay là thù. Tại Đông Nam Á, khi Trung Quốc muốn chống hay gây sức ép với chính quyền tư sản  các nước này th́ họ lập ra, hoặc giúp đỡ lập ra các đảng cộng sản Mao–it[45] ở Thái Lan, Miến Điện[46], Mă–lai[47], v.v…; khi Trung Quốc thấy cần tranh thủ các chính quyền tư sản khu vực này th́ ta đă thấy các đảng cộng sản đó lần lượt tiêu tan để phục vụ cho mục đích của Trung Quốc. Rồi sau sự kiện Thiên An Môn[48], để xoa dịu phản ứng của Mỹ và phương Tây, Trung Quốc hy sinh nốt Đảng Cộng sản Mă–lai theo lệnh của Bắc Kinh, tổng bí thư đảng này là Trần B́nh gốc Trung Quốc, đă ra kư kết đầu hàng chính quyền Ma–lay–xia và giải tán đảng Cộng sản.

 

Trường hợp Khơ–me đỏ sau này cũng vậy, theo tờ “Ư thức Khơ–me[49]“ ngày 17/10/2000 dưới đầu đề “Trung Quốc giết Pôn Pốt[50] để đe dọa những chỉ huy Khơ–me đỏ c̣n lại buộc trở về với Hun–xen[51] viết “Sau khi đi gặp Sứ quán Trung Quốc tại Bangkok, Pôn Pốt chết không phải do bệnh tật cũng không phải do Hun–xen mà chết do thuốc độc của Trung Quốc (?). Bởi v́ Trung Quốc vận động các chỉ huy Khơ–me đỏ trở về với chế độ của Thủ tướng Hun–xen không được nên đă giết Pôn Pốt để đe dọa những chỉ huy Khơ–me đỏ khác… Sở dĩ Trung Quốc muốn các chỉ huy Khơ–me đỏ trở về với Hun–xen v́ TQ đă chọn Hun–xen làm con bài có lợi về chính trị cho họ sau khi Pôn Pốt không c̣n ư nghĩa đối với họ nữa”.

 

Trong lịch sử 50 năm của nước C.H.N.D. Trung Hoa th́ có hơn 30 năm Trung Quốc hết chống Liên Xô lại chống Việt Nam. Trên cơ sở đó, tôi hoài nghi là liệu có thể đứng trên lư tưởng chung xă hội chủ nghĩa để tranh thủ Trung Quốc được chăng?

 

Trong khi nghiên cứu ư đồ Trung Quốc đối với Việt Nam và trong vấn đề Campuchia, chúng tôi đă thử liệt kê những thay đổi trong lập trường của Trung Quốc về việc nối lại đàm phán b́nh thường hoá quan hệ với ta trong thời gian 1980–1988. Kết quả cho thấy là từ khi Trung Quốc đơn phương chấm dứt ṿng 2 đàm phán Việt –Trung về b́nh thường hoá quan hệ hai nước vào ngày 8.3.1980, Trung Quốc đă luôn luôn nâng cao điều kiện nối lại đàm phán với Việt Nam:

A. (1980–9/1985) Trung Quốc đ̣i ta rút hết quân khỏi CPC th́ sẵn sàng nối lại đàm phán

-    Tháng 10.1982, tại ṿng 1 đàm phán Xô–Trung, Trung Quốc trao cho Liên Xô bản đề nghị 5 điểm về vấn đề Campuchia trong đó điểm 2 nói: Việt Nam tuyên bố rút hoàn toàn. Trung Quốc sẽ tiến hành tham khảo với Việt Nam về b́nh thường hoá quan hệ hai nước ngay sau khi Việt Nam rút những đơn vị đầu tiên. Tháng 3.1983, Trung Quốc đưa ra công khai đề nghị này.

-     Sau chiến dịch pháo kích và tập kích quy mô lớn trên toàn tuyến biên giới miền Bắc nước ta kéo dài 3 tháng (tháng 4–6.1984), Trung Quốc tuyên bố: chỉ cần Việt Nam hứa rút quân khỏi Campuchia th́ hai bên sẽ mở đàm phán.

 

B. Từ tháng 9/1985 đến cuối năm 1985 khi ta tuyên bố sẽ rút hết quân khỏi Campuchia trong năm 1990, Trung Quốc lại không nói “sẵn sàng đàm phán” với ta nữa, mà chỉ nói sẽ nói chuyện qua đại sứ hai bên.

-    Ngày 6.9.1985, đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội gửi công hàm trả lời công hàm ngày 21.8.85 của Bộ Ngoại Giao trong đó nói: “Việt Nam tuyên bố thời gian rút quân kéo dài đến 1990 và đặt điều kiện vô lư cho việc rút quân, như vậy là chưa có thiện chí. Đàm phán giữa hai nước với bất cứ h́nh thức nào cũng khó đạt kết quả. Nếu Việt Nam có vấn đề ǵ cần nói th́ cứ chuyển qua đại sứ hai bên”.

 

C. Từ cuối 1985 đến tháng 3.1986, Trung Quốc một mặt vẫn đ̣i ta cam kết rút quân nhưng đưa thêm điều kiện là nếu Việt Nam không loại trừ lực lượng Polpot th́ Trung Quốc sẽ đàm phán ngay với Việt Nam.

-    Ngày 18.12.1985, lănh tụ Rumani Ceausescu[52] sau khi thăm Trung Quốc thông báo với anh Hoàng Tùng để chuyển Tổng Bí Thư Lê Duẩn: “Trung Quốc sẽ đàm phán ngay với Việt Nam, nếu Việt Nam đồng ư không loại trừ lực lượng Polpot. Đàm phán sẽ bắt đầu trong khi Việt Nam chưa rút hết quân khỏi Campuchia, song cần cam kết rút hết”.

 

D. Từ tháng 3.1986 (khi 3 phái Khơ–me phản động đưa đề nghị 8 điểm) đến nay (6.1987) Trung Quốc đ̣i Việt Nam rút hết quân nhưng đ̣i Việt Nam nói chuyện với “Chính phủ liên hiệp CPC dân chủ” và với Sihanouk, c̣n Trung Quốc chỉ đàm phán trực tiếp với Việt Nam sau khi vấn đề Campuchia được giải quyết theo cách của Trung Quốc.

 

-    Ngày 25.8.1986, thứ trưởng ngoại giao Trung Quốc Lưu Thuật Khanh nói với vụ phó Vụ Trung Quốc Bộ Ngoại Giao ta Vũ Thuần: Trung Quốc không thể thay mặt Campuchia để bàn với Việt Nam vấn đề Campuchia được, Việt Nam phải bàn với Campuchia Dân chủ.

-    Tháng 10.1986, TBT Hồ Diệu Bang[53] nói với Honecker[54] đang thăm Trung Quốc “Lúc đầu Trung Quốc nghĩ có thể đàm phán (với Việt Nam) trước, rút quân sau. Nhưng sau tính lại nhiều lần, Trung Quốc quyết định Việt Nam phải rút quân trước, sau đó mới đàm phán. Đây là phương án tốt nhất, nếu không sẽ tác động không tốt tới ASEAN và 3 phái (Sihanouk, Son San[55] và Khơ–me đỏ)”.

-    Ngày 14.5.1987, Đặng Tiểu B́nh tiếp Tổng thư kư Liên Hiệp Quốc De Cuellar và nhờ ông ta chuyển cho ta một “thông điệp miệng” (message oral): chỉ khi nào vấn đề Campuchia được giải quyết theo cách này (Việt Nam rút quân khỏi Campuchia, lập chính phủ liên hiệp 4 bên gồm Sihanouk, Son San Khieu Samphon[56], Heng Xamrin[57]; do Sihanouk đứng đầu) th́ Trung Quốc mới đàm phán trực tiếp với Việt Nam. Đàm phán như vậy sẽ bao gồm cả vấn đề b́nh thường hoá quan hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam. C̣n trước đó th́ mọi cuộc đàm phán trực tiếp đều không thể có được.

 

Như vậy là từ sau khi đơn phương cắt đứt cuộc đàm phán (sau khi Trung Quốc gây chiến tranh xâm lược Việt Nam tháng 2/1979, ta đă có 2 ṿng đàm phán với Trung Quốc: ṿng 1 từ 18/4 đến 18/5/1979 tại Hà Nội; ṿng 2 từ 28/6/79 đến 6/3/80 tại Bắc Kinh) từ năm 1980 đến cuối năm 1988, đă ngót hai chục lần Việt Nam gửi thư hoặc công hàm cho Trung Quốc đề nghị nối lại đàm phán nhưng đều bị Trung Quốc bác với lư do này hoặc lư do khác. Và Trung Quốc nâng cao dần điều kiện lên (tựu chung là về quân sự đ̣i Việt Nam rút quân, về chính trị đ̣i Việt Nam chấp nhận việc lập chính phủ liên hiệp ở Campuchia, bao gồm cả Khơ–me đỏ). Trong khi thoái thác đàm phán với ta, Trung Quốc xúc tiến đàm phán b́nh thường hoá quan hệ với Liên Xô (từ tháng 10.1982) và với Lào (từ cuối 1986) để cô lập và ép Việt Nam. Đặc biệt là thông qua đàm phán với Liên Xô. Sau khi Gorbachov lên làm tổng bí thư Đảng cộng sản Liên Xô (11/3/1985). Xô–Trung bắt đầu bàn đến vấn đề Campuchia trong ṿng đàm phán thứ 7 ở Bắc Kinh (4–20/10/1985), Trung Quốc thể hiện ngay thái độ làm cao, không nói đến đàm phán với Việt Nam nữa để gia tăng sức ép đối với Việt Nam về vấn đề Campuchia. Trong ṿng 10 đàm phán Xô–Trung ở Mạc–tư–khoa (7.2.1987), Trung Quốc nêu lại “3 trở ngại” trong việc b́nh thường quan hệ với Liên Xô mà trở ngại lớn nhất là việc Việt Nam xâm lược Campuchia. Và cũng từ đó, các lần gặp gỡ Xô–Trung đều tập trung bàn vấn đề Campuchia và công khai hoá điều đó.