Hồi* Ức

Suy

Nghĩ

 

 

 

Trần
Quang Cơ

 
 

 

 

Tập hồi kư Hồi ức và Suy nghĩ của ông Trần Quang Cơ (1920–) lưu chuyển trong nước từ đầu năm 2003. Tác giả nguyên là Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng thứ nhất Bộ Ngoại giao, thành viên Đoàn Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa tại Hội nghị Paris (68–73) về Việt Nam.

 

Trước khi làm việc tại Bộ Ngoại Giao (1954), Trần Quang Cơ là sĩ quan quân đội nhân dân giảng dạy tại trường Cao Đẳng Ngoại Giao. Ông là cán bộ ngoại giao suốt 44 năm (54–97) – 1964 làm bí thư thứ nhất ở Đại Sứ Quán Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa tại Indonesia – 1966 Trần Quang Cơ trở lại Hà Nội, 1976 phụ trách Vụ Bắc Mỹ rồi chuyển sang vụ Âu Châu trước khi sang làm Đại Sứ tại Thái Lan vào năm 1982. Được đưa vào Trung ương đảng cộng sản Việt Nam từ 1986; ṛng ră 12 năm kể từ 1979, ông Trần Quang Cơ tham gia các cuộc thương lượng nhằm giải quyết chiến tranh tại Cambodia. Sau chiến tranh Việt Nam, ông tham gia cuộc đàm phán b́nh thường hoá quan hệ với ba nước Hoa Kỳ, Liên Xô, và Trung Quốc. Tháng hai 1991, ông xin rút ra khỏi danh sách đề cử vào Ban chấp hành Trung ương đảng cộng sản Việt Nam khóa VII nhưng không được chấp thuận. Tháng bẩy cùng năm ông gặp Tổng Bí Thư Đỗ Mười xin không nhận chức bộ trưởng ngoại giao thay thế ông Nguyễn Cơ Thạch. Cuối năm 1993, ở Hội nghị giữa nhiệm kỳ, ông tự ư xin rút khỏi Ban chấp hành Trung ương đảng cộng sản Việt Nam.

 

Trong chiều hướng đi t́m những đối thoại thẳng thắn giữa cựu thù, McNamara đề nghị những học giả và cựu lănh đạo cuộc chiến hai bên cộng sản Việt Nam và Hoa Kỳ cùng ngồi xuống duyệt lại những quyết định trong cuộc chiến nhằm hiểu rơ để khả dĩ rút được những kinh nghiệm lịch sử, thực dụng cho toàn cầu qua “bài học Việt Nam”. Sáu hội nghị như trên đă diễn ra tại Hà Nội từ tháng 11, 1995 đến tháng 2, 1998;  Hội nghị thứ 7 thực hiện tại Viện Rockefeller ở Bellagio, Italy.


Ông Trần Quang Cơ, Nguyễn Cơ Thạch và một số học giả, tướng lănh và cựu lănh đạo CHXHCN Việt Nam đă tham dự chuỗi hội nghị này, quan trọng nhất là hai hội nghị chính vào tháng 6, 1997 và tháng 2, 1998.

 

Tập tài liệu này ghi lại nhiều dữ kiện quan trọng về quan hệ ngoại giao của Việt Nam với các nước xă hội chủ nghĩa lớn nhỏ, với Hoa Kỳ và khối ASEAN cũng như những tranh chấp trong nội  bộ đảng cộng sản Việt Nam.

 

Ghi lại những thông tin nổi cộm về các vấn đề của Việt Nam cận đại sau hơn bốn mươi năm mắt thấy tai nghe – được giữ kín–mật, chưa bao giờ phổ biến – cùng với những suy nghĩ của một cán bộ cộng sản trung kiên, tập hồi kư này sẽ phần nào giúp các nhà quan sát, những người cầm bút, thêm tài liệu phân tích cục diện Việt Nam những năm sau cuộc nội chiến và những tháng ngày trước mặt.

 

Dù ở ngàn năm trước hay ngay thời đương đại, quan hệ Việt–Trung lúc nào cũng là nỗi quan ngại của người Việt Nam, nhất là trước những mất mát, thiệt hại, đe dọa lớn đến chủ quyền và tài nguyên Việt Nam trong những năm gần đây dọc đường biên giới phía Bắc cũng như ở Vịnh Bắc Việt và cả vùng Biển Đông của Tổ Quốc; tập tài liệu này chỉ rơ một số hệ quả của tư duy và cách ứng xử của những người có trách nhiệm an dân bảo quốc trong những thập niên cận đại. Đấy là những bài học quư giá cho tất cả mọi người Việt quan tâm đến vận mệnh dân tộc.

 

Phụ đính, mục lục, tất cả những cước chú và chú thích ở tập tài liệu nhằm giúp người đọc dễ hiểu hơn và để tra cứu thêm khi cần.

Trần Giao Thủy


 

 

Mục lục

 

 TOC \o "1-3" \h \z \u Lời tựa-  PAGEREF _Toc100984047 \h 2

Hồi ức và Suy nghĩ  PAGEREF _Toc100984048 \h 4

Việt Nam trong thập niên 70 của thế kỷ 20-  PAGEREF _Toc100984049 \h 5

Việt Nam trong thập niên 70 của thế kỷ 20-  PAGEREF _Toc100984050 \h 5

Một nhiệm kỳ đại sứ không tẻ nhạt.  PAGEREF _Toc100984051 \h 11

Đại hội “đổi mới”-  PAGEREF _Toc100984052 \h 15

CP87 và 3 tầng quan hệ của vấn đề Campuchia-  PAGEREF _Toc100984053 \h 16

Từ chống diệt chủng đến “giải pháp đỏ”?-  PAGEREF _Toc100984054 \h 19

Một bước tự cởi trói: đa dạng hoá đa phương hoá quan hệ .  PAGEREF _Toc100984055 \h 21

Trung Quốc uốn ḿnh để thích nghi với thế cực-  PAGEREF _Toc100984056 \h 22

Hiệp 1 của Hội nghị quốc tế Pa–ri về Campuchia-  PAGEREF _Toc100984057 \h 25

Đặng Tiểu B́nh tiếp Kaysone Phomvihan để nói với Việt Nam--  PAGEREF _Toc100984058 \h 28

Thuốc đắng nhưng không dă được tật  PAGEREF _Toc100984059 \h 32

BCT đánh giá cuộc đàm phán tháng 6/1990-  PAGEREF _Toc100984060 \h 37

Một sự chọn lựa thiếu khôn ngoan-  PAGEREF _Toc100984061 \h 39

Cuộc gặp cấp cao Việt–Trung tại Thành Đô 3–4/9/90-  PAGEREF _Toc100984062 \h 41

Thành Đô là thành công hay là thất bại của ta?-  PAGEREF _Toc100984063 \h 43

Ai là người đáng lư ra phải nhớ dai?-  PAGEREF _Toc100984064 \h 47

Món nợ Thành Đô-  PAGEREF _Toc100984065 \h 49

Những vấn đề về t́nh h́nh quốc tế và chính sách đối ngoại c̣n có tranh luận   PAGEREF _Toc100984066 \h 52

Đại hội VII và cái giá phải trả cho việc b́nh thường hoá quan hệ với Trung Quốc.  PAGEREF _Toc100984067 \h 53

Hiệp 2 của Hội nghị quốc tế về Campuchia.  PAGEREF _Toc100984068 \h 56

Kết thúc một chặng đường nhưng lịch sử chưa sang trang-  PAGEREF _Toc100984069 \h 58

Phụ lục-  PAGEREF _Toc100984070 \h 61

Những thách thức đe dọa an ninh và phát triển của ta có thể xuất xứ từ đâu và dưới những dạng nào?   PAGEREF _Toc100984071 \h 61

Nguy cơ lớn nhất và thúc bách nhất đe dọa an ninh và phát triển của ta là từ đâu?   PAGEREF _Toc100984072 \h 63

Kiến nghị đối sách-  PAGEREF _Toc100984073 \h 65

Bảng niên đại  PAGEREF _Toc100984074 \h 68


 

Hồi ức và Suy nghĩ

 

 

Trong 44 năm (1954–1997) làm ngoại giao, trải qua những giai đoạn khác nhau. Bản thân chứng kiến và tham gia nhiều sự kiện ngoại giao đáng ghi nhớ của thời kỳ kháng chiến và của thời kỳ hậu chiến như cuộc đàm phán hoà b́nh với Mỹ ở Pa–ri (1968–1973), đàm phán về b́nh thường hoá quan hệ với Trung Quốc. Sở dĩ tôi chọn quăng thời gian (1975–1993) để viết kư ức này v́ nó chứa đựng nhiều diễn biến khúc mắc tế nhị về đối ngoại. Nhất là trong quan hệ của ta với ba nước lớn, dễ bị vô t́nh hay cố ư làm “rơi rụng” để cho lịch sử được “tṛn trĩnh”, khiến cho việc đánh giá và rút bài học bị sai lệch. Và đây cũng là giai đoạn mà mối quan hệ của ta với các nước lớn có những điều đáng phải băn khoăn suy nghĩ, không những cho hiện tại mà có thể cho cả tương lai.

 

Bối cảnh quốc tế lúc này rất phức tạp, chiến tranh lạnh đă đi vào giai đoạn cuối. Cả 3 nước  lớn Liên Xô, Mỹ, Trung Quốc đều có những chuyển đổi về chiến lược, từ chỗ đối đầu quyết liệt với nhau chuyển sang hoà hoăn tay đôi rồi tay ba. Cục diện chính trị luôn biến đổi ở Châu Á Thái B́nh Dương tác động trực tiếp đến tiểu khu vực Đông Nam Á và nước Việt Nam ta. Khu vực Đông Nam Á lúc này cũng đang trong quá tŕnh chuyển đổi từ đối đầu sang quan hệ đối thoại giữa hai nhóm nước Đông Dương và ASEAN. Hoàn cảnh này đúng ra đ̣i hỏi Việt Nam phải mạnh dạn sớm đổi mới tư duy về đối ngoại để có được một đường lối phù hợp với thực tiễn khách quan nhằm thoát ra khỏi thế cô lập, hoà nhập được với đà phát triển chung của khu vực và thế giới. Nhưng không! Tư duy chính trị xơ cứng đă giam giữ nước ta trong cảnh khó khăn một thời gian dài. Chính v́ thế ngoại giao quăng thời gian này đă để lại trong tôi nhiều băn khoăn suy nghĩ về cái đúng cái sai, cái nên làm và cái không nên làm. Tôi nghĩ rằng nếu nghiên cứu một cách trung thực và có trách nhiệm những sự kiện của giai đoạn lịch sử này th́ từ đây có thể rút ra những bài học bổ ích và đích đáng cho ngoại giao ta hiện tại và tương lai với mục đích tôi cho là đảm bảo được lợi ích của dân tộc trong mọi trường hợp.

 

V́ vậy tài liệu này tôi viết làm 2 phần: Hồi ức và Suy nghĩ. Phần Hồi ức cố gắng ghi lại một cách khách quan và trung thực diễn biến của các sự kiện trong thời gian 1975–1993 trên cơ sở những tư liệu và nhật kư công tác c̣n lưu giữ được. C̣n phần Suy nghĩ dành cho những ư nghĩ của riêng tôi, những điều trăn trở của tôi khi nghiền ngẫm lại các sự việc đă trải qua. Những ư nghĩ hoàn toàn theo chủ quan, có thể sai có thể đúng.

 

23.1.2001

 

Bản thảo này đă được bổ sung và hoàn chỉnh ngày 22.05.2003

 

Trần Quang Cơ


 

 
Việt Nam trong thập niên 70 của thế kỷ 20

 

Nước Việt Nam ta trong những năm 70 của thế kỷ 20 đă trải qua những sự kiện to lớn: Hiệp định Pa–ri[1] 1973 về Việt Nam kết thúc cuộc đàm phán “ma–ra–tông[2]” 1968–1973 giữa VN và Mỹ, toàn thắng của chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975 đă đưa Việt Nam tới đỉnh cao của  giải phóng dân tộc và uy tín của quốc tế. Thắng lợi của Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ không chỉ là một tác nhân đưa đến những thay đổi rất quan trọng trong chiến lược của các nước lớn mà c̣n làm chuyển đổi cục diện chính trị khu vực Đông Nam Á. Nể sợ sức mạnh quân sự và ư chí kiên cường của Việt Nam, mặt khác lo ngại mối đe dọa từ nước Trung Hoa khổng lồ tăng lên một khi Mỹ rút khỏi Đông Nam Á, đồng thời lại có yêu cầu phát triển kinh tế, các nước ASEAN[3] sốt sắng b́nh thường hoá và cải thiện quan hệ với Việt Nam; tổ chức liên minh quân sự SEATO[4] tan ră; xu hướng hoà b́nh, ổn định ở Đông Nam Á phát triển. Sau khi bị “gáo nước lạnh” ở Việt Nam, Mỹ lo tháo chạy khỏi Đông Nam Á, song lại sợ tạo ra một “khoảng trống” có lợi cho các đối thủ của ḿnh. Một mặt sợ Liên Xô thừa thế mở rộng ảnh hưởng ở Đông Nam Á và thế giới, mặt khác lo Trung Quốc phát huy vai tṛ nước lớn Châu Á để lấp chỗ “hổng” đó nên Mỹ vừa t́m cách khai thác mâu thuẫn Xô–Trung vừa muốn có một nước Việt Nam độc lập cả với Trung Quốc lẫn Liên Xô để duy tŕ thế cân bằng chiến lược giữa 3 nước lớn trong khu vực Châu Á–Thái B́nh Dương.

 

Trong tập “Tài liệu Lầu Năm Góc” (Pentagone Papers[5]) của Mỹ có viết: “Báo cáo của đại sứ Mỹ tại Anh gửi Bộ Ngoại giao Mỹ ngày 1.3.1967 ghi lại một cuộc đối thoại ngắn giữa ngoại trưởng Anh Brown[6] và ngoại trưởng Ba Lan Rapacki[7] tại Luân đôn ngày 22.2.1967. Khi Brown hỏi nhận định của Rapacki về mức độ thế lực của Kossyguine[8] (thủ tướng Liên Xô lúc đó) đối với Hà Nội. Rapacki Trả lời: “Không kém của ông đối với Hà Nội”. Và khi Brown hỏi: “Giữa Trung Quốc và Liên Xô nước nào có nhiều ảnh hưởng hơn đối với Hà Nội?”. Rapacki Trả lời: “Bắc Việt Nam”. Đường lối độc lập tự chủ của Việt Nam thể hiện rơ nét trong suốt thời gian đàm phán với Mỹ ở Pa–ri.

 

Sau cuộc đàm phán với Mỹ ở Pa–ri năm 1973 tôi được đề bạt làm vụ trưởng Vụ Bắc Mỹ nên có đầy đủ điều kiện trực tiếp theo dơi và xử lư mối quan hệ của nước ta với Mỹ sau chiến tranh.

 

Vào quăng hơn một tháng sau khi giải phóng miền Nam, ta có nhờ Liên Xô chuyển cho Mỹ một thông điệp miệng “Lănh đạo VNDCCH tán thành có quan hệ tốt trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau. Trên tinh thần đó, phía VN đă tự kiềm chế trong khi giải phóng, tạo cơ hội cho người Mỹ không bị cản trở trong việc tiến hành di tản nhân viên của họ. Phía VN đă cố gắng làm mọi sự cần thiết để không làm xấu đi quan hệ với Mỹ trong tương lai. Không có sự thù địch đối với Mỹ ở Việt Nam và VN cũng không muốn thấy như vậy ở phía Mỹ”.

 

Ngày 12.6.75, Mỹ gửi đến Sứ quán ta ở Pa–ri  bức thông điệp đáp lại: “Về nguyên tắc, Mỹ không thù hằn ǵ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà. Đề nghị trên cơ sở đó tiến hành bất cứ quan hệ nào giữa hai bên (procced on this basis in any relations between the two sides). Mỹ sẵn sàng nghe bất cứ gợi ư nào mà phía VNDCCH có thể muốn đưa ra”. Thông điệp này do Sứ quán Mỹ ở Pa–ri gửi tới Sứ quán ta, nội dung không nói rơ là của Bộ Ngoại giao Mỹ hay của cấp nào.

 

Ngày 11.7.75, ta gửi thông điệp cho Mỹ, chủ yếu nhắc lại đoạn nói về Mỹ trong Báo cáo của Ngoại trưởng Nguyễn Duy Trinh[9] đọc trước Quốc hội ngày 4.6.75: “Việc Chính phủ Hoa Kỳ tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam, từ bỏ hoàn toàn sự can thiệp vào công việc nội bộ miền Nam Việt Nam, làm nghĩa vụ đóng góp vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh và công cuộc xây dựng lại sau chiến tranh ở cả hai miền Việt Nam, sẽ tạo điều kiện thiết lập quan hệ b́nh thường giữa VNDCCH và Hoa Kỳ theo tinh thần Điều 22[10] Hiệp định Pa–ri về Việt Nam.”

 

Cuộc tiếp xúc đầu tiên sau chiến tranh giữa ta và Mỹ diễn ra tại Pa–ri ngày 10.7 ở cấp bí thư thứ nhất đại sứ quán (Đỗ Thanh–Pratt) chủ yếu bàn về vấn đề MIA[11], cụ thể phía Mỹ xin được trao trả một số hài cốt phi công Mỹ bị bắn rơi ở miền Bắc. Đến cuộc gặp tiếp theo ngày 5.9.75, cũng vẫn phía Đỗ Thanh và Pratt, ta đồng ư sẽ giao cho Mỹ 3 bộ hài cốt “giặc lái”. Song măi tới tháng 12 ta mới cho phép một đoàn 4 hạ nghị sĩ Mỹ do Chủ tịch Ủy ban POW/MIA[12] G.V. Montgomery dẫn đầu vào Hà Nội nhận. Đoàn này đă được Thủ tướng Phạm Văn Đồng tiếp.

 

Sang năm 1976, Mỹ lại thông qua Liên Xô thăm ḍ việc tiếp xúc với ta, song khẳng định sẽ không thực hiện điều 21[13] của Hiệp định Pa–ri. Công hàm ngày 26.3.76 của Henry Kissinger–lúc này là ngoại trưởng–gửi ngoại trưởng Nguyễn Duy Trinh cảm ơn ta đă đón tiếp đoàn Montgomery và sẵn sàng mở cuộc thảo luận về việc thiết lập mối quan hệ mới giữa hai nước. “I believe that the interests of peace and security will benefit from placing the past behind us and developing the basis for a new relationship between our two countries”. Ngày 30.4 bộ trưởng ngoại giao ta gửi công hàm trả lời, nêu lại những vấn đề tồn tại giữa 2 nước (vấn đề bồi thường chiến tranh và vấn đề người Mỹ mất tích trong chiến tranh), trên cơ sở giải quyết 2 vấn đề đó sẽ b́nh thường hoá quan hệ với Mỹ theo quy định của Điều 22 Hiệp định Pa–ri. Ta sẵn sàng xem xét đề nghị cụ thể của Mỹ về việc mở thương lượng giữa hai bên. Ta sẽ có trả lời không để quá lâu, song sẽ không trước khi Quốc hội Mỹ bàn về việc bỏ cấm vận đối với Việt Nam. Gần như đồng thời với việc G. Ford[14] bác kiến nghị của Quốc hội Mỹ yêu cầu tạm ngừng trong 6 tháng lệnh cấm vận buôn bán với Việt Nam. Bộ ngoại giao Mỹ gửi thông điệp khẳng định sẵn sàng sớm có thảo luận với VN, song nhận xét quan điểm ta đặt thương lượng trên cơ sở “selective application of past agreements” là không đem lại kết quả xây dựng; vấn đề “full accounting” về MIA sẽ là một trong những vấn đề hàng đầu của Mỹ, chỉ khi nào vấn đề này được giải quyết “một cách cơ bản” (substantially) mới có thể có tiến bộ thật sự tới b́nh thường hóa quan hệ giữa hai nước chúng ta. Đề nghị VN xem lại một cuộc họp bàn về các vấn đề tồn tại là có bổ ích hay không?

 

T́nh h́nh nhùng nhằng như vậy kéo dài cho tới khi Jimmy Carter[15] trúng cử tổng thống thay Gerald Ford năm 1977. Chính quyền mới của đảng Dân chủ có quan điểm chiến lược khác và thái độ đối với Việt Nam mềm mỏng hơn. Nguyên nhân quan trọng khiến chính quyền Carter quan tâm ngay từ đầu đến việc thiết lập mối quan hệ mới với Việt Nam là lợi ích chiến lược của Mỹ ở khu vực châu Á Thái B́nh Dương. Đại sứ Mỹ tại Liên Hiệp Quốc, Andrew Young, đă nói rơ điều đó: “Chúng tôi coi Việt Nam như một Nam Tư ở Châu Á. Không phải là bộ phận của Trung Quốc hay của Liên Xô, mà là một nước độc lập. Một nước Việt Nam mạnh và độc lập là phù hợp với lợi ích quốc gia của Mỹ” (tháng 1/1977).

 

Ngày 6/1/1977, thông qua Liên Xô, Mỹ lại đưa ra một kế hoạch 3 bước về b́nh thường hóa quan hệ với Việt Nam:

 

1) Việt Nam cho biết tin về những “người Mỹ mất tích trong chiến tranh” (MIA).

2) Mỹ chấp nhận Việt Nam vào Liên Hiệp Quốc và sẵn sàng lập quan hệ ngoại giao đầy đủ, cũng như bắt đầu buôn bán với Việt Nam.

3) Mỹ có thể đóng góp khôi phục lại Việt Nam bằng cách phát triển buôn bán, cung cấp thiết bị và các h́nh thức hợp tác kinh tế khác.

 

Ngày 3/3/1977 chính quyền Carter quyết định nới lỏng một phần cấm vận đối với ta, cho phép tàu thuỷ và máy bay nước khác chở hàng sang Việt Nam được ghé các cảng và sân bay của Mỹ để lấy nhiên liệu (nhưng vẫn cấm người Mỹ buôn bán với Việt Nam, cấm tàu Mỹ đến Việt Nam, cấm tàu và máy bay Việt Nam đến cảng và sân bay Mỹ). Ngày 9/3/1977 Mỹ cho phép công dân Mỹ được đi thăm Việt Nam, Cuba, Bắc Triều Tiên, CPC[16] kể từ ngày 18/3/1977.

 

Đến giữa tháng 3, ta nhận tiếp đón Leonard Woodcock[17], đặc phái viên của tổng thống Mỹ Carter, sang Việt Nam. Ngày 17/3/1977, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đă tiếp L. Woodcock và 4 thành viên – trong đó có Thượng nghị sĩ Mansfield tại Chủ tịch phủ ở Hà Nội. Ngày hôm đó, đoàn Mỹ cũng đă đến chào Ngoại trưởng Nguyễn Duy Trinh.

 

Sau chuyến đi thăm mở đường này, hai bên đă thỏa thuận mở cuộc đàm phán về b́nh thường hoá quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ tại Pa–ri. Đoàn ta lúc đó do Thứ trưởng ngoại giao Phan Hiền dẫn đầu, thành viên có tôi, vụ trưởng Vụ Bắc Mỹ, anh Vũ Hoàng, vụ trưởng Vụ Lănh sự và mấy cán bộ Vụ Bắc Mỹ: a. Bùi Xuân Ninh, Cương, Lê Mai. Anh Lê Mai khi đó là cán bộ Vụ Bắc Mỹ, làm phiên dịch cho trưởng đoàn. Sứ quán ta ở Pháp có anh Đỗ Thanh, bí thư thứ nhất và anh Nguyễn Thiện Căn, tuỳ viên báo chí, tham gia đoàn. Phía Mỹ do R.Holbrooke làm trưởng đoàn. Cuộc đàm phán  diễn ra khá lâu, phải qua 3 ṿng đàm phán trong tháng 5, tháng 6 và tháng 12 năm 1977. Địa điểm luân phiên ở đại sứ quán ta và đại sứ quán Mỹ tại Pháp. Trong đàm phán ṿng 1 (ngày 3–4/5/1977), lập trường của Mỹ là hai bên thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ ngay và vô điều kiện, c̣n những vấn đề khác giữa hai bên để lại giải quyết sau; Mỹ sẽ không cản Việt Nam vào Liên Hiệp Quốc. C̣n về điều 21 (của Hiệp định Pa–ri về VN), Mỹ có khó khăn về pháp luật nên không thực hiện được, hứa sẽ thực hiện khi đă có quan hệ, bỏ cấm vận buôn bán và xét viện trợ nhân đạo. Theo chỉ thị đă nhận trước khi đi, ta kiên quyết đ̣i phải giải quyết “cả gói” 3 vấn đề: ta và Mỹ b́nh thường hoá quan hệ (bao gồm cả việc bỏ cấm vận và lập quan hệ ngoại giao đầy đủ), ta giúp Mỹ giải quyết vấn đề MIA và Mỹ viện trợ 3,2 tỷ đô–la cho Việt Nam như đă hứa hẹn trước đây. Trở ngại lớn nhất cho việc b́nh thường hoá quan hệ là việc ta đ̣i Mỹ viện trợ 3,2 tỷ đô–la cho ta v́ Quốc hội Mỹ khi đó dứt khoát không chấp nhận viện trợ làm điều kiện cho việc b́nh thường hóa quan hệ với Việt Nam. Ngày 2–3/6, đàm phán ṿng 2, Mỹ nêu lại các đề nghị hồi tháng 5. Ngày 19/7/1977, tại Hội Đồng Bảo An LHQ, Mỹ rút bỏ việc phủ quyết Việt Nam vào Liên Hiệp Quốc. Sau ṿng 2, anh Phan Hiền đă phải bay về Hà Nội báo cáo và xin chỉ thị, thực chất là đề nghị trên nên có thái độ thực tế và đối sách mềm dẻo hơn, nhưng nghe nói cả 4 vị lănh đạo chủ chốt[18] của ta lúc đó đều nhất trí lập trường trên. Trước đ̣i hỏi kiên quyết của ta, tại ṿng 3 (19–20/12/1978), Mỹ đề nghị nếu chưa thoả thuận được về việc thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ th́ có thể lập Pḥng Quyền lợi (Interest section) ở thủ đô hai nước, nhưng như vậy th́ chưa bỏ cấm vận được. Sau khi có Pḥng Quyền lợi th́ sẽ tuỳ t́nh h́nh mà xét bỏ cấm vận, song ta vẫn giữ lập trường cứng nhắc đ̣i giải quyết “cả gói” 3 vấn đề.

 

Rơ ràng năm 1977 chính quyền Carter thực sự muốn b́nh thường hóa quan hệ với Việt Nam và năm 1977 đă có khả năng thực tế để ta b́nh thường hóa quan hệ với Mỹ nhưng ta đă bỏ qua. Trong khi đó, theo sự xúi dục của Bắc Kinh, chính quyền Polpot bắt đầu chiến tranh biên giới từ ngày 20 tháng 4 và đơn phương cắt đứt quan hệ ngoại giao với ta ngày 31.12.1977.

 

Từ đầu năm 1978, quan hệ giữa 3 nước lớn Mỹ–Xô–Trung bắt đầu chuyển từ h́nh thái đối đầu từng đôi một sang h́nh thái Mỹ–Trung câu kết chống Liên Xô. Liên Xô nhân thế yếu của Mỹ sau thảm bại ở Việt Nam ra sức tăng cường ảnh hưởng ở Á–Phi và Mỹ la tinh bằng học thuyết  “chủ quyền hạn chế” của Brejnev[19]. Tại Châu Á, Liên Xô đưa quân vào Afghanistan (1979), đồng thời thực hiện chính sách  bao vây Trung Quốc. Cũng từ năm 1978, Mỹ đẩy nhanh quá tŕnh b́nh thường hóa quan hệ với Trung Quốc (từ tháng 2/1978), khi Kissinger đi thăm Bắc Kinh, TQ[20] và Mỹ đă kư thoả thuận lập Cơ quan liên lạc ở thủ đô 2 nước với quy chế như một sứ quán. Nước cờ “chơi lá bài Trung Quốc để ngăn chặn Liên Xô” của cố vấn an ninh quốc gia Z. Brzezinski[21] đă dần dần lấn lướt chủ trương của ngoại trưởng Cyrus Vance và R. Holbrooke là “thúc đẩy song song việc cải thiện quan hệ với Việt Nam và Trung Quốc”. Ngày 23/8/78, trong lúc Mỹ đàm phán về b́nh thường hoá quan hệ với ta ở Pa–ri, ngoại trưởng Mỹ C. Vance đă đi thăm Bắc Kinh. Cho đến khi Đặng Tiểu B́nh[22] tuyên bố “Trung Quốc là NATO phương Đông” và “Việt Nam là Cuba phương Đông” (19/5/1978) và Brzezinski đi thăm Trung Quốc (20/5/1978) th́ chính quyền Carter đă chọn con đường b́nh thường hóa quan hệ với Trung Quốc và gác sang bên việc b́nh thường hoá quan hệ với Việt Nam.

 

Ngày 21 tháng 8 năm 1978 Quốc hội Mỹ c̣n cử một đoàn 7 hạ nghị sĩ thuộc cả hai đảng Dân chủ và Cộng hoà, do hạ nghị sĩ Dân chủ G.V. Montgomery, chủ tịch Ủy ban POW/MIA, dẫn đầu sang Việt Nam chủ yếu để trao đổi với thứ trưởng Phan Hiền về vấn đề t́m kiếm “người Mỹ mất tích trong chiến tranh” (MIA). Ta đă trao trả cho Mỹ một số bộ hài cốt để tỏ thiện chí hợp tác trong vấn đề MIA. Và theo yêu cầu của họ, tôi đă dẫn đoàn Montgomery đi miền Nam, thăm thánh thất Cao Đài và một trại người Campuchia tị nạn chiến tranh ở biên giới Tây Ninh. Đây là lần đầu tiên ta cho phép một đoàn Mỹ chính thức thăm thành phố Hồ Chí Minh kể từ khi giải phóng miền Nam.

 

Sau đó chừng một tháng, tôi sang Nữu–ước[23] để tiếp tục cuộc đàm phán về b́nh thường hoá quan hệ với Mỹ. Cuộc đàm phán ṿng 4 về b́nh thường hoá quan hệ Việt Nam–Mỹ không kéo dài nhiều năm 1977 ở Pa–ri. Lần này trưởng đoàn đàm phán của ta là thứ trưởng ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch[24]. C̣n phía Mỹ vẫn là R. Holbrooke. Đến lúc này khi ta quyết định rút bỏ đ̣i hỏi “Mỹ phải bồi thường chiến tranh – viện trợ 3,2 tỷ đô–la – mới b́nh thường hoá quan hệ” và nhận công thức “b́nh thường hoá quan hệ không điều kiện” của Mỹ th́ đă muộn. Sở dĩ Mỹ tiếp tục đàm phán vấn đề b́nh thường hoá với ta lúc đó là chỉ nhằm làm Việt Nam chập chững trong quan hệ với Liên Xô và trong vấn đề Campuchia, trong khi đó Mỹ đă chuyển hướng sang phía Trung Quốc. R. Holbrooke nói với ta: Mỹ coi trọng Châu Á; Mỹ cần b́nh thường hóa quan hệ giữa hai nước. Nhưng Mỹ lo ngại Liên Xô đặt căn cứ ở Cam Ranh.

 

Trong khi chờ đợi phía Mỹ trả lời dứt khoát về vấn đề b́nh thường hoá quan hệ, khoảng hạ tuần tháng 11, anh Thạch về Hà Nội trước, c̣n tôi vẫn ở lại Nữu ước để giữ cầu. Ngày 30/11/1978, R. Oakley[25], trợ lư ngoại trưởng Mỹ, trả lời sự thúc dục của tôi, c̣n nói: Mỹ không thay đổi lập trường b́nh thường hoá quan hệ với Việt Nam, nhưng phải chậm lại v́ cần làm rơ 3 vấn đề CPC, Hiệp ước Việt–Xô và vấn đề người di tản. Rồi họ trao cho tôi tấm ảnh toà nhà của sứ quán ngay trên đường R. ở Hoa–thịnh–đốn[26], nói là sẽ trao trả ta toà nhà đó làm trụ sở đại sứ quán, yêu cầu ta cung cấp sơ đồ ngôi nhà cũ của tổng lănh sự quán Mỹ tại đường Tràng Thi (?) Hà Nội.

 

Tôi ở lại Nữu ước măi tới cuối tháng 1/1979, sau khi ta đưa quân vào Campuchia giúp bạn đánh đuổi Polpot giải phóng Nông–Pênh[27]. “Các cuộc nói chuyện Mỹ–Việt Nam về b́nh thường hoá đă tan vỡ do cuộc xâm lược Campuchia của Việt Nam” (Cyrus Vance 9/1/1979). Tôi nghĩ, thực ra Mỹ đă quyết định dứt bỏ quá tŕnh đàm phán b́nh thường hoá quan hệ với ta từ khi ta tham gia khối COMECON[28] và kư Hiệp ước hữu nghị với Liên Xô (3/11/1978), để bắt tay với Trung Quốc chống Liên Xô ở Châu Á–Thái B́nh Dương.

 

Việc Đặng Tiểu B́nh đi thăm Mỹ (29–30/1/1979) đánh dấu việc b́nh thường hoá quan hệ Mỹ–Trung Quốc, cũng là chính thức xếp lại việc b́nh thường hoá quan hệ Việt Nam–Mỹ tới 17 năm sau. Trong khi gặp Carter ở Hoa–thịnh–đốn, Đặng Tiểu B́nh đă tỏ ư sẽ tiến công vào Việt Nam và không gặp phải phản ứng bất lợi nào từ phía Mỹ. Theo Brzezinski, trong cuộc hội đàm với Carter hôm 29/1, Đặng yêu cầu có sự cộng tác giữa Mỹ và TQ để chống Liên Xô. C̣n Carter có phần thận trọng hơn, đồng ư có những cuộc tham khảo chặt chẽ giữa hai nước để chặn chủ nghĩa bành trướng của LX nhưng thận trọng tránh đề cập tới đề nghị của Đặng. Sau đó, ngày 26/2/1979, Carter có nêu 6 nguyên tắc xử sự khi Trung Quốc xâm lăng Việt Nam: Mỹ không can thiệp trực tiếp; khuyến khích các bên tự kiềm chế; Việt Nam rút quân khỏi Campuchia và Trung Quốc rút quân khỏi Việt Nam, cuộc xung đột không đe dọa lợi ích trước mắt của Mỹ; không đặt lại vấn đề b́nh thường hoá với Trung Quốc; quyền lợi đồng minh của Mỹ không bị đe dọa. Cũng từ đó, cuộc xung đột CPC và quan hệ với Việt Nam đă được đặt trong khuôn khổ của mối quan giữa 3 nước lớn Mỹ–Xô–Trung. Và cũng từ đó Mỹ gắn vấn đề quan hệ Mỹ–Việt Nam với quá tŕnh giải quyết vấn đề CPC.

 

Là nhân chứng lịch sử và cũng là người trực tiếp tham gia các hoạt động ngoại giao này với tư cách là vụ trưởng Vụ Bắc Mỹ Bộ ngoại giao, trực tiếp tham gia đoàn đàm phán về b́nh thường hoá quan hệ với Mỹ ở Pa–ri năm 1977 rồi ở Nữu ước năm 1978, tôi thật sự đau xót v́ ta đă bỏ lỡ mất cơ hội củng cố thế đứng của Việt Nam trong hoà b́nh để tập trung phát triển đất nước sau bao năm chiến tranh, lỡ cơ hội san bằng khoảng cách với các nước cùng khu vực. Trong tập hồi kư của ḿnh (From Third world to First[29]–Từ thế giới thứ ba đến thế giới thứ nhất). Lư Quang Diệu[30] đă nhận xét: “Năm 1975 thành phố Hồ Chí Minh có thể sánh ngang với Băng–cốc[31]. Nhưng nay (năm 1992) nó tụt lại đằng sau tới hơn 20 năm”.

 

Việc ta từ chối lời đề nghị “b́nh thường hoá quan hệ không điều kiện” của Mỹ, làm cao trước việc ASEAN ngỏ ư muốn Việt Nam tham gia tổ chức khu vực này, theo tôi, đă đưa lại những hệ quả vô cùng tai hại cho nhân dân và đất nước ta. Liệu Trung Quốc có dám tiếp tay cho bọn diệt chủng Polpot khiêu khích ta và có dám đánh ta năm 1979 nếu như Việt Nam sau Chiến thắng 1975 có một chiến lược “thêm bạn–bớt thù” thực sự cầu thị hơn? Việc b́nh thường hoá quan hệ với Mỹ và việc gia nhập khối ASEAN măi ngót 20 năm sau (1995) ta mới thực hiện được một cách khá chật vật.

 

Theo tôi, tư duy đối ngoại có phần cứng nhắc của ta lúc ấy quả đă không theo kịp bước chuyển biến của chính trị thế giới thể hiện qua sự điều chỉnh chiến lược của các nước lớn sau sự kiện Việt Nam 1975, để dám có những quyết sách linh hoạt kịp thời đem lại lợi ích to lớn lâu dài cho dân tộc ta. Ngược lại, việc ta bỏ lỡ cơ hội b́nh thường hoá quan hệ với Mỹ lúc này đă khiến Việt Nam gần như đơn độc trước một Trung Quốc đầy tham vọng.

 

C̣n với Trung Quốc, sau khi có Hiệp định Pa–ri 1973, Trung Quốc có lợi ích duy tŕ nguyên trạng ở Đông Dương, nhất là việc Việt Nam chia cắt thành hai miền dưới hai chế độ chính trị khác nhau là phù hợp với ư đồ lâu dài của họ ở Đông Nam Á. Sau khi đi thăm Trung Quốc về, thượng nghị sĩ Mỹ K. Mansfield báo cáo trước Quốc hội Mỹ (1/2/1975): Trung Quốc tán thành để hai nước Việt Nam tiếp tục tồn tại. Trung Quốc cho rằng một nước Campuchia thống nhất, trung lập là điều chủ yếu trong một Đông Dương ổn định.

 

Từ 1973, đă xảy ra những va chạm ở biên giới Việt–Trung. Năm 1974, Trung Quốc chiếm ngon lành nốt phần c̣n lại ở quần đảo Hoàng Sa của ta. Có người cho rằng chỉ sau khi ta ngả hẳn theo Liên Xô th́ Trung Quốc mới chống ta. Song sự thật là các hoạt động thù địch của Trung Quốc đối với Việt Nam đă xảy ra từ trước khi Việt Nam tham gia khối SEV[32] (tháng 6/1978) và kư Hiệp ước hữu nghị với Liên Xô (tháng 11/1978). Tháng 12 năm 1975, sau khi thăm Trung Quốc qua Pa–ri, H. Kissinger nói: Mỹ đang tính toán việc sử dụng Trung Quốc để hạn chế ảnh hưởng của Việt Nam ở khu vực.

 

Nét đặc trưng của giai đoạn 1975–78 là Campuchia trở thành tiêu điểm của sự đối đầu giữa một bên là Trung Quốc và một bên là Việt Nam được Liên Xô ủng hộ. Sự đối đầu ấy trở thành xung đột quân sự ngay từ tháng 5/1975 và phát triển lên thành cuộc chiến tranh biên giới Tây–Nam nước ta. Trong khi trả lời phỏng vấn, ngày 8/1/1978 tôi đă nhận định: Điều lư thú đây là trường hợp đầu tiên của một cuộc chiến tranh qua tay người khác giữa Liên Xô và Trung Quốc; xung đột giữa Việt Nam được Liên Xô ủng hộ và CPC được Trung Quốc ủng hộ.

 

Như vậy chỉ qua 4 năm sau khi giải phóng được đất nước, ta lại bị xô đẩy vào cuộc chiến thảm khốc ở Campuchia, đối đầu ngay với Trung Quốc, kẻ đă từng là đồng minh chiến lược của ta trong 30 năm chiến đấu chống xâm lược phương Tây. Sau hai cuộc kháng chiến gian khổ, dân ta mới chỉ được hưởng mùi vị của chiến thắng và hoà b́nh êm ả chưa đầy 5 năm. Vết thương chiến tranh chưa lành th́ đă lâm vào cảnh nửa hoà b́nh nửa chiến tranh. Chiến tranh chống Mỹ tuy gian khổ khốc liệt song Việt Nam c̣n có được mặt trận nhân dân thế giới rộng lớn ủng hộ, c̣n trong cuộc chiến đấu chống diệt chủng Polpot th́ Việt Nam hầu như hoàn toàn cô lập. Các nước cùng khu vực lo sợ Việt Nam sau khi “hạ xong” Campuchia sẽ phát huy sức mạnh quân sự ra cả Đông Nam Á. C̣n Trung Quốc ra sức vu khống “Việt Nam xâm lược Campuchia và có mưu đồ lập “Liên bang Đông Dương” để làm chủ cả Lào lẫn Campuchia, xoá mờ tính chất “chống diệt chủng” của việc Việt Nam đưa quân vào Campuchia.

 

Cũng thời gian này, do những khó khăn kinh tế–xă hội chồng chất của thời kỳ chiến tranh chưa được tháo gỡ, lại bị bao vây cấm vận bên ngoài nên trong nước đă nảy sinh ra t́nh trạng “vượt biên” trốn ra nước ngoài của một bộ phận dân chúng ở cả miền Nam lẫn miền Bắc, tạo thêm gánh nặng về đối ngoại cho ta, bôi đen thêm h́nh ảnh Việt Nam trên quốc tế. Vấn đề Campuchia và vấn đề “thuyền nhân” (boat people) lúc đó quả là hai gánh nặng trên mặt trận đối ngoại của ta trong thập niên 80 của thế kỷ 20.

 

Nửa cuối của thập kỷ 70 này là thời gian ta chồng chất nhiều sai lầm về đối ngoại nhất trong suốt lịch sử dựng nước sau cách mạng (từ 1945 đến nay):

 

-    Ta không khôn ngoan duy tŕ mối quan hệ cân bằng với Trung Quốc và Liên Xô, nhân tố cực kỳ quan trọng đảm bảo thắng lợi của ta trong kháng chiến chống Mỹ.

-    Bỏ lỡ cơ hội b́nh thường hoá quan hệ với Mỹ, năm 1977, khi chính quyền Carter đă chủ động đề nghị hai bên b́nh thường hoá quan hệ không điều kiện.

-    Đánh giá sai và không gia nhập khối ASEAN ngay từ 1976 khi cả 6 nước này đều mong muốn ta tham gia v́ lợi ích của mỗi một quốc gia và của chung khu vực.

-    Dính líu sâu và lâu vào vấn đề Campuchia.

 

Những sai lầm này có hệ quả liên quan chặt chẽ với nhau, gây thiệt hại lớn cho ta về đối ngoại, về an ninh quốc pḥng, về phát triển kinh tế trong một thời gian dài.