Hà Nội 1945 (kỳ 5)

Trần Đỗ Cung

Sunday, March 18, 2007

5.

Tại Hải Pḥng vào đầu tháng Chạp 1946 đă có súng nổ giao tranh. Gọi là giao tranh nhưng thực sự phía Việt chỉ có lẻ tẻ một số tổ chức Cứu Quốc và ít nhóm Tự Vệ th́ đánh sao? Súng nổ có hơn một ngày và Pháp làm chủ t́nh thế ngay rồi ngưng bắn để điều đ́nh. Chính quyền và dân chúng được cơ hội tản cư ra khỏi thành phố. Hà Nội cần kéo dài t́nh thế để hô hào tiêu thổ kháng chiến. Quốc Lộ Hà Nội-Hải Pḥng bị đào cắt để cầm chân quân Pháp. Lính Pháp đi sục sạo các khu người Việt và cả khu người Tàu kế cận. Người Việt dơ tay lên đầu và bị các báng súng tống vào ngực. Người Tàu đeo dấu hiệu Thanh Thiên Bạch Nhật nên không bị đập. Tây vây dân Việt lại bắt quỳ xuống khám trước sân tàu thủy Nhà Rồng và đưa về giam tại trại Cát Đem (4ème Régiment d'Infanterie Coloniale), khám từng người, vạch vai ngửi tay xem có phải dân bắn súng không.

Dân chúng Hà Nội tản cư hàng loạt bằng đủ loại xe cộ, đem theo chăn màn cho một cuộc di tản lâu dài. Đêm 20 tháng Chạp Tây nổ súng chiếm hầu hết các địa điểm quan yếu và các Tự Vệ rút ra ngoại ô. Bác Sỹ Lê Tài Chất một nội trú y khoa nổi tiếng tử thương khi mặc blouse trắng ra băng bó cứu cấp nạn nhân. Đại Đội Sinh Viên Chiến Đấu cũng rút ra dưới áp lực và chém vè khi đến làng Cự Đà trên bờ sông Nhuệ. Cự Đà là một nơi nổi tiếng làm tương và các ông chồng đều nấu ăn rất giỏi trong khi phụ nữ rất tháo vát buôn bán. Tại đây tôi được anh bạn học đưa về nhà cho thưởng thức món ba ba om nấu với các gia vị đặc biệt. Tất cả thật là hỗn độn, không có lănh đạo, tôi nằm ngủ trên bờ sông với đồng bọn, chuyện tṛ bàn tán tùy hứng. Bỗng nh́n thấy Bác Sỹ Hoàng Đ́nh Cầu ráo riết thiết lập trạm cứu thương khẩn cấp trong khi Bác Sỹ Phạm Hữu Chương cỡi ngựa tía đảo qua. Xa xa dưới một tán cây dừa Phạm Duy gảy guitar ca bài Bên Cầu Biên Giới vây quanh bởi một nhóm thanh niên như thể trên băi bể nghỉ mát.

Như vậy chiến tranh lại xảy ra sau chin tháng ḥa b́nh ngắn ngủi. Cuộc chiến cam go lănh dạo bởi các thanh niên trí thức với ḷng yêu nước nhiệt thành chống sự xâm lược của giặc Pháp. Họ không quan tâm đến Việt Minh và Hồ Chí Minh mà ẩn ư là kéo dân tộc vào một quỹ đạo man rợ, Cộng Sản Quốc Tế Nga-Tàu. Trong cuộc chiến để kiểm soát chặt chẽ nhân dân, chúng đă áp dụng tất cả các sách lược Mác-Mao, xóa bỏ tất cả các di tích văn hóa cổ truyền. Chúng diệt tiểu tư sản, dùng chính sách đấu tố cải cách ruộng đất của Tàu Mao và bài học tiêu thổ kháng chiến của Stalin. Năm 1947 chúng tung ra chiến dịch vườn không nhà trống tiêu thổ kháng chiến để cho Tây lúng túng theo kế sách Stalin.

Nhưng thật ra Tây đâu đă tiến xa như vậy. Mục đích thâm độc là nhân dịp triệt hạ tư sản. Bố mẹ tôi sau nhiều năm cần cù dành dụm đă tạo được một ngôi nhà khang trang ở tỉnh Thanh Hóa. Việt Minh ra lệnh phá hủy cái công tŕnh mồ hôi nước mắt ấy, một sáng một chiều trắng tay. Trên Di Linh chúng bắt ông Cả Bân là chủ đồn điền mặc dầu đang tham gia ủy ban huyện Nông Cống, đưa ra băi đấu tố để cuối cùng thưởng cho ba kẹo đồng, xô xuống hố và không cho con cái chịu tang. Ở Nho Quan Nghệ An, Bộ Trưởng phụ trách Thanh-Nghệ Đặng Văn Hướng là song thân anh hùng Đặng Văn Việt về thăm quê cũng bị đem ra đấu tố. Bà Hướng uống độc dược quyên sinh c̣n cụ ông bị bỏ tù cho đến chết. Cậu con Đại Tá Việt đă làm đơn lên Phạm Văn Đồng xin phục hồi danh dự cho bố mẹ nhưng vẫn không được trả lời. Cụ Hướng bà là chị ruột Tráng Trưởng Hoàng Đạo Thúy.

Khi chiến cuộc Việt Pháp xảy ra ngày 21 tháng Chạp năm 1946 toàn dân hăng hái tham gia chỉ muốn nước nhà đánh đuổi hết bọn Pháp thực dân dưới ngọn cờ đỏ sao vàng. Các đảng phái quốc gia cũng mặc nhiên tham chiến. Các Tráng Sinh trong Tráng Đoàn Lam Sơn đều sẵn sàng sung vào công tác liên lạc do sáng kiến của Trưởng Hoàng Đạo Thúy khi các đơn vị chiến đấu tài tử tan hàng rời khỏi Thủ Đô. Nhiệm vụ liên lạc không nhất định, dùng cặp gị hay xe đạp chuyển mệnh lệnh đến các đơn vị, hoặc thu thập tin tức trong dân chúng đưa về cơ quan mà không cần biết là cơ quan ǵ và ở đâu. Công việc thô sơ, nhân sự tùy tiện, dùng sáng kiến cá nhân, không có huấn luyện mà tổ chức th́ lỏng lẻo. Nhân vật Hoàng Đạo Thúy là một Trưởng Hướng Đạo nổi tiếng có tinh thần ái quốc rơ ràng. Gia đ́nh ông có nhiều người danh tiếng, đóng góp vào Tuần Lễ Vàng những con số khổng lồ. Lại có các ông anh rể như cụ Đặng Văn Hướng Bộ Trưởng đặc trách Thanh-Nghệ, ông Phạm Lê Bổng một nhà kinh doanh và chủ báo nổi tiếng Hà Thành. Đương nhiên Trưởng Thúy đứng lên lănh đạo hệ thống t́nh báo khởi thủy mà cán bộ là các tráng sinh tháo vát, đầy nhiệt huyết và giỏi thám hiểm đi rừng.

Sau vài năm kháng chiến đảng cộng sản nắm vững t́nh thế nên từ bỏ nhăn hiệu Việt Minh. Chúng đưa cán bộ vào phụ trách các việc quan yếu, chuyển Hoàng Đạo Thúy qua chỉ huy Trường Vơ Bị Trần Quốc Tuấn, Tạ Quang Bửu làm Bộ trưởng phát triển Khoa Học Kỹ Thuật. Các đoàn viên nổi tiếng như Nguyễn Như Kim, con rể cụ Đốc Trần Văn Th́n, được gửi đi Thái Lan đem vàng mua các thiết bị vô tuyến cho kháng chiến. Đoàn viên Đặng Văn Việt lên mặt trận Việt Bắc vang danh với biệt hiệu Con Hùm Xám Quốc Lộ 4. Các đoàn viên khác như Hoàng Kim Hải, Ngô Điền, Hoàng Đ́nh Phu, Lê Bá Hoan, Nguyễn Trinh Tiếp đi phụ trách các công việc của Cục Quân Giới, hệ thống truyền thanh báo chí. Riêng tôi sau khi Đại Đội Sinh Viên Chiến Đấu tan hàng lang thang ở Cự Đà, Đồng Quan, Cống Thần th́ được cán bộ giao liên Thành tuyển mộ lên Ḥa B́nh nhập toán nghiên cứu quân giới của kỹ sư Trần Đại Nghĩa. Nhưng khi tôi đeo ba-lô đạp xe đến Vân Đ́nh th́ Pháp nhẩy dù xuống, dội lại và mất liên lạc luôn trở về chợ Đồng Quan bán thuốc Tây độ nhật. Măi đến tháng 9, 1947 th́ cán bộ Thành trở lại tuyển tôi trở về Hà Nội do thám t́nh h́nh quân Pháp.

Hôm ấy khi tôi đang ngồi ở chợ Đồng Quan th́ Thành (tên thật là Phạm Phú Ưng, con cụ Án Sát Thanh Hóa, học dưới tôi năm lớp ở Lycée Khải Định) ṃ đến cho tôi biết là bạn học cũ Toán Khải Định Nguyễn Đ́nh Quảng, phụ trách phản gián, nhắn giao cho tôi công tác về thành điều nghiên t́nh h́nh hành quân của Pháp với bí danh Z-4. Sẵn óc phiêu lưu mạo hiểm tráng sinh cộng với ḷng ghét Pháp cao độ, và hơn nữa vị hôn thê c̣n trong Hà Nội nên tôi nhận công tác nguy hiểm không một chút do dự. Sáng hôm sau theo ước hẹn tôi mang một túi quần áo nhỏ ra chợ Đồng Quan th́ Thành đă đợi sẵn. Thành giới thiệu một nữ giao liên trẻ chit khăn mỏ quạ, mặc áo tứ thân nâu và quần thâm đi chân đất. Tôi theo chị ta len lỏi qua các làng xóm vắng tanh, quanh co cả mấy tiếng đồng hồ th́ đến chỗ nghỉ chân.

Chỗ tạm nghỉ là một căn lều tranh hiu quạnh và chị giao liên lặng lẽ rút đi.

Đêm tôi nằm ổ rơm chỉ nghe tiếng ễnh ương ̣m ọp thâu canh. Tuy nhiên v́ mỏi mệt nên giấc ngủ đến thật nhanh và khoảng bốn giờ sáng một nữ giao liên khác đến tự giới thiệu có nhiệm vụ tiếp tục hướng dẫn tôi. Chị này đứng tuổi, ăn mặc xuề x̣a, răng đen, môi ăn trầu cắn chỉ. Tôi ra vại múc nước mưa rửa mặt chải đầu và thay quần trắng sơ-mi cụt tay trắng mà chị đưa cho, thoát xác bần-cố-nông đen đủi thành một sinh viên Hà Nội. Rồi tôi lại theo chân thoăn thoắt của chị băng qua các cánh đồng, men theo các bờ ruộng nhiều khi trơn như mỡ. Trong đêm khuya không có một bóng người qua lại, các làng mạc th́ vườn không nhà trống, chỉ nghe tiếng giun dế và tiếng cành tre cọ vào nhau xào xạc. Đi như vậy độ hai chục cây số th́ chị ta ngừng lại, chỉ cho tôi đi độ khoảng 5 cây số th́ đến đường cái rồi rẽ phải vài cây là đến Ngă Tư Sở, rồi đồn kiểm soát Pháp đầu tiên. Xong nhiệm vụ chị ta lủi ngay không một lời từ biệt.

Lúc ấy khoảng chin giờ sáng, xung quanh vắng tanh. Khi ra đến Quốc Lộ Một tôi rẽ tay phải và cứ thế đi cho đến khi nghe tiếng Tây quát “Halte là”. Tôi đứng yên lo sợ th́ một tên Thượng Sỹ Pháp dơ súng vào tôi hô to “Haut les mains”! Hắn tiến sát lại, nắn người tôi từ trên xuống dưới, lục soát túi quần áo trong có vài quyển sách Pháp văn rồi hỏi, “Ton nom, où vas tu, que vas tu faire”? Trống ngực tôi đánh th́nh th́nh nhưng tôi cố trấn tĩnh trả lời bằng tiếng Pháp, “Tôi là sinh viên khoa học, trở về nhà vợ ở số 153 Route Mandarine”. Sau khi ghi chép qua loa hắn ra lệnh, “Ca va, vas”! Hoàn hồn, tôi chào rồi dông một mạch, chân bước thoăn thoắt trên con đường tráng nhựa thênh thang không một bóng người qua lại. Đi độ mươi cây số th́ đến Kim Liên rồi vào đầu Hàng Lọng. Bảo, vị hôn thê tôi, từ trên lầu chạy xuống ôm chầm lấy tôi khóc nức nở, không ngờ có được trùng phùng như vậy. Nhưng nào nàng có ngờ đâu là sự trùng phùng này c̣n nhiều cam go bất trắc trước mắt!

Bố mẹ vợ tôi là ông bà Phủ Nguyễn Đ́nh Tại về lưu ngụ tại đây là nhà Từ Đường. Trong thời gian ở đây tôi đi làm thợ may, thợ chụp ảnh căn cước và cũng không nghĩ trở lại trường lấy nốt cái bằng cử nhân toán đang dang dở. Độ mươi ngày sau th́ tên cán bộ Thành ṃ đến giao cho tôi nhiệm vụ điều nghiên sự sắp đặt của tụi Pháp cho cuộc hành quân sắp tới của chúng. Th́ thà th́ thụt, Thành lui tới hai ba lần và Chú Năm của Bảo Nguyễn đ́nh Giáp sinh nghi nói với Bảo, “mày coi chừng, thằng chồng mày là Việt Minh đó”!

Pháp sửa soạn hành quân th́ xuất phát từ Thành Pháo Thủ trên đường Duvilliers ngay cột cờ. Hai ba lần tôi đạp xe qua địa điểm và thấy cách tốt nhất và nguy hiểm nhất là đột nhập vào trong mới xác định được. Tôi thấy 7 giờ sáng th́ nhân công lũ lượt kéo vào cổng qua sự kiểm soát của lính canh rồi trưa lại kéo ra. V́ đám nhân công khá đông đảo nên tên lính gác chỉ khám từng tốp một thôi và có khi chỉ lướt mắt qua tờ giấy mà không đọc. Tôi liền liều mạng, may rủi số Trời. Sáng hôm ấy tôi đi theo đám nhân công lũ lượt đi qua cổng kiểm soát nhỏ bên cạnh, một tay cầm ghi đông, tay kia cầm mảnh giấy vớ vẩn điềm nhiên đi vào. Tên lính Lê Dương khoát tay cho tôi đi qua. Hú hồn, mồ hôi toát ra dưới lưng áo. Sau khi dựa xe vào giá tôi liền theo đám đông tản mát vào. Có một nhóm độ mười người đi vào kho. Tôi tháp tùng theo họ khiêng các thùng lương khô ra xe vận tải GMC che mui bít bùng. Theo chỉ thị của phản gián, ngày hôm sau tôi đi dạo phố Hàng Ngang, viết hai con số ước lượng nhân công và xe GMC vào giấy bọc kẹo, vo viên lại rồi vứt xuống gốc cây xế cửa hàng tạp hóa Đông-Bảo-Cánh-Hồng của bạn Đỗ Quang Trị. Sau khi đi dạo phố một ṿng quay trở lại th́ miếng giấy kẹo vo tṛn đă biến mất, có nghĩa là phản gián đă cho người ŕnh sẵn đâu đây. Về sau tôi được biết là Pháp sửa soạn cho cuộc hành quân Atlante ở miệt đồng bằng.

Tôi trở lại hai lần nhưng không đột nhập, chỉ quan sát bên ngoài mà thôi. Một tuần sau Thành trở lại cho biết đă nhận được phúc tŕnh rất xác đáng và chuyển lời khen ngợi của Thủ Trưởng. Tôi tỏ ư vui mừng th́ hắn rút ra một bọc lá chuối khô vuông vức nói là thuốc phiện thô cần tiêu thụ v́ ngoài ấy anh em cần tiền. Tôi nói là không rành việc mua bán nên nhờ người khác th́ hơn. Thành có vẻ tiu nghỉu, nhét gói nhựa vào túi và bắt tay ra về. Trong đầu óc tôi lúc ấy đă thấy có điều không ổn. Được ít ngày sau th́ tôi gặp anh Đặng Văn Sung rủ tôi về cùng ở biệt thư 68 Reinach mà anh thuê rẻ của bà em họ Phan Huy Quát khi gia đ́nh dọn lên Clinique Émile Sargeant trên phố. Biệt thự xinh xắn nằm trong khu vườn trồng cây và từ đường phố đi vào phải qua một cái cổng sắt uốn rèn rất đẹp. Đă có sẵn vợ chồng một anh bếp lo cơm nước.

Anh Sung đứng đầu Đảng Đại Việt miền Bắc mà người ta thường gọi là Đại Việt Quan Lại v́ có nhiều quan chức Phủ-Huyện tham gia. Anh Sung hay đi vắng và giao tôi đôn đốc mọi việc. Qua sự giới thiệu của anh Sung, tôi vào làm ở Sở Xă Hội Bắc Việt dưới quyền cô Rosa Minh trong chức vụ Chủ Sự Pḥng Cho Vay Danh Dự (prêt d'honneur) cho các gia đ́nh hồi cư. Chủ Sự Kế Toán là bạn Nguyễn Duy Giá sau này thành Tỉnh Trưởng Nam Định và bị cộng sản giết chết khi anh đang làm việc tại Bank of Tokyo ở Sài-G̣n.

Nhà 68 Reinach là nơi lui tới các nhân vật chính trị, các đảng viên Đại Việt, Duy Dân, người Bắc cũng như Nam họp hành, ăn uống và có khi lưu lại qua đêm. Anh Sung thường đi Pháp hay Hồng Kông trong thời gian ngắn liên lạc với Cựu Hoàng Bảo Đại. Lúc ấy Tân Thủ Hiến là Nguyễn Hữu Trí, một thành viên Đại việt Quan Lại. Những nhóm Đại Việt lưu vong từ Hồng Kông về cũng như nhóm học viên vơ bị Yên Bái hồi hương trên bè xuôi sông Hồng như các anh Phạm Xuân Chiểu, Vũ Văn Phấn, Đặng Văn Đệ, Vũ Đức Hải, Trần Thanh Đạm đều tụ tập ở đây. Tôi thành thân thiết với các bạn Nguyễn Tất Ứng, Nguyễn Đ́nh Tú, Phạm Trọng Nhân và các bạn Đại Việt miền Nam như Nguyễn Tôn Hoàn, Đỗ Văn Năng, Trần Ngọc Lập (Thái C̣ng), Nguyễn Ngọc Huy (Ba Xạo) và trở thành phóng viên của báo Thanh Niên Sài G̣n và báo Thanh Niên Hà Nội trên Đường Hàng Bút. Rồi không biết từ bao giờ tôi nghiễm nhiên đeo nhăn hiệu Đại Việt. Chính phủ Nguyễn Văn Xuân thay đổi qua Nguyễn Phan Long và anh Nguyễn Tôn Hoàn nhận Bộ Thanh Niên giao cho tôi Giám Đốc Thể Dục Thể Thao.

Một hôm cán bộ Thành ṃ đến 68 Reinach yêu cầu tôi chuyển hướng theo dơi các hoạt động của các phe nhóm quốc gia nhất là Đảng Đại Việt. Tôi sững sờ v́ lúc nhận nhiệm vụ vào thành là để đối phó với Tây chớ đâu phải làm chó săn ŕnh ṃ các đảng phái yêu nước. Tuy nhiên tôi không để lộ ư tưởng và chỉ ầm ừ cho qua và trong đầu đă sẵn có kế hoạch thoát khỏi bọn chúng, nhất là khi tôi nhận được một bức thư viết tay kư tên Đặng Văn Việt dục tôi ra huấn luyện bổ túc. Cho nên khi chính phủ trung ương rục rịch di chuyển vào Nam tôi liền xung phong đi trước nghiên cứu đưa bộ Thanh Niên vào Sài G̣n. Tôi đi với hai bạn Nguyễn Tất Ứng và Nguyễn Đ́nh Tú, nhận lănh biệt thự số 185 Mayer là tư dinh Bộ Trưởng nhưng chưa có pḥng sở làm việc. Chúng tôi xếp đặt từng trên làm chỗ ở và từng dưới gồm cả hành lang và nhà để xe thành cơ sở bộ. Cuộc sống Sài G̣n thoải mái với các giải trí trường Chợ Lớn, các Chợ Trâu (marché aux buffles) tức các ổ b́nh khang của lính Tây trên đường Galiéni. Công việc bận rộn tổ chức Bộ Thanh Niên đă cho tôi xa lánh những lo âu về cán bộ Thành và công việc t́nh báo tôi đă nhận với Việt Minh.

Rồi tôi nhập ngũ, du học hơn hai năm tại trường Không Quân Salon de Provence của Pháp càng làm cho tôi quên hẳn bộ máy kháng chiến Việt Minh. Nhưng cái nhăn hiệu rởm Đại Việt Bắc Kỳ vẫn theo đuổi tôi trong suốt đời quân ngũ. Cho đến sau đảo chính 1-11 lật đổ chính quyền Ngô Đ́nh Diệm, Nguyễn Cao Kỳ chấp chính giao cho tôi chức Thứ Ủy/Tổng Cuộc Trưởng Tiếp Tế đương đầu với sự phong tỏa kinh tế Thủ Đô của cộng sản. Tôi vẫn ở trong căn cứ Tân Sơn Nhất cho an ninh và tránh các áp lực tài phiệt.

 

Thế rồi đầu Tháng Tư 1966 bỗng nhiên có một khách lạ vào hỏi tôi. Tôi chạy ra th́ ngỡ ngàng, trước mặt tôi cán bộ Thành bằng xương bằng thịt không biết làm cách nào mà đă lọt qua cổng Phi Long vào nhà. Tôi điềm tĩnh mời hắn ngồi, liếc mắt xem hắn có khí giới không và hỏi một cách thân t́nh, “Đă lâu quá sao bây giờ chú lại vào đây, từ lúc nào vậy”? Tên Thành, mặt bủng da ch́ như nghiện thuốc phiện trả lời tôi một cách khiêm tốn không áp đảo đương đầu. “Thưa anh, em bỏ bên kia rồi. Em vượt Bến Hải vào đây”. Tôi hỏi lại ngay, “Trông chú như nghiện ngập phải không, bây giờ làm ǵ sống”? Thành trả lời, “Em trót nghiện nhưng đă cai rồi; bây giờ em làm Bí Thơ cho Tổng Trưởng Lao Động. Em chỉ muốn đến thăm anh thôi và mừng thấy anh vẫn khỏe”. Tôi tin lời hắn và cũng không báo cho an ninh.

Cuộc đời của tôi từ năm vào ngưỡng cửa Đại Học cũng khá rắc rối sau ba năm đầu tươi đẹp vô lo ở Hà Nội, như một sinh viên hấp thụ các điều mới lạ trong chốn Ngàn-Năm-Văn-Vật. Kể từ khi thời cuộc đưa đẩy với cao trào ái quốc chống Pháp, với những say sưa không tính toán, tôi cũng đă bị Việt Minh lợi dụng ḷng ái quốc của ḿnh cũng như bao nhiêu thanh niên thời đại. Tuy nhiên tôi c̣n may mắn thức tỉnh sớm, có lẽ không phải v́ đầu óc suy xét của ḿnh mà tôi cho là do ông bà ông vải phù hộ.

Cho nên tôi đă thoát khỏi cảnh tù tội cộng sản hay cái vỡ mộng của bao nhiêu bạn đă xả thân v́ nước làm công dă tràng vun xới đất nước Việt Nam để bây giờ tuy có danh nhưng há-miệng-mắc-quai, nuốt cay ngậm đắng như các Đặng Văn Việt, Lê Thiệu Huy, Phạm Thành Chính, Lê Đ́nh Luân, Nguyễn Kèn, Nguyễn Thế Lương, Phan Hạo, Hoàng Xuân B́nh, Ngô Điền, Hoàng Đ́nh Phu. Họ phải ngồi nh́n bọn bần-cố-nông cộng sản, sâu bọ lên làm người, hành xử như những tư-bản-đỏ bóp nát nhân dân nghèo đói, để hưởng thụ trên xương máu của các anh hùng liệt sỹ hy sinh cho tổ quốc.

Tôi không được sinh trưởng tại Hà Nội và chỉ sống vẻn vẹn ở Hà Thành có ngót sáu năm. Trong đời sống sinh viên tỉnh lẻ, tuy nghèo tiền, nhưng tôi cũng đă có dịp làm quen khá rơ mức sống văn hóa và không khí phong phú cổ kính trong một nền nếp lịch sử đă hun đúc từ bao nhiêu Triều Đại. Chưa bao giờ tôi trở lại thăm nền-xưa-lối-cũ nhưng theo những tin tức qua báo chí và các mạng truyền thông cũng như sự kể lại của bạn bè đă về thăm quê hương, h́nh như họ đă và đang phá tan hoang cái di sản quư giá nhất của tổ tiên để lại.

Thật là một sự phí phạm ngu xuẩn của cái bọn ma đầu dốt nát, bọn trọc phú học làm sang, đến nỗi những địa danh như Nghi Tàm, Hồ Tây cũng đă bị hiếp dâm một cách thô tục. Tất cả khu phố cổ với băm sáu phố phường đang dần dà bị biến thể khiến cho các du khách ngoại quốc kêu trời! Ngay gần Núi Nùng, một địa danh lịch sử ở khu vườn bách thảo lại sừng sững mọc lên lăng Hồ tặc với kiến trúc Nga Xô lạc lơng bê tông cốt sắt như chửi rủa ngôi chùa Một Cột tiền nhân để lại. Thế mà đấm ngực tự xưng là đỉnh-cao-trí-tuệ-loài-người, có lẽ là loài người ăn lông ở lỗ th́ phải! Ô hô ai tai cho Hà Nội, một đô thị trong sông!

Trần Đỗ Cung