Hà Nội 1945 (Bài 1)
Monday, March 12, 2007

Trần Đỗ Cung

(Hồi ức)

(Kỳ 1)

Lúc lên bẩy tôi học tại trường Nguyễn Trường Tộ ở Vinh và hay được anh Nguyễn Quang Tŕnh dẫn vào lớp Nhất ngồi cạnh anh ta ở cuối lớp. Anh Tŕnh sau này là Tổng Trưởng Giáo Dục của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm. Trong thời gian này đă xẩy ra vụ để tang Nguyễn Thái Học và các đồng chí bị hành quyết tại Yên Báy. Rồi đến học sinh đủ lứa tuổi băi khóa, ăn mặc y phục trắng đi diễn hành tưởng niệm Phan Chu Trinh. Mật thám Tây chạy đôn chạy đáo với đám chó săn An Nam ḍ dẫm tin tức. Trong giới giáo chức nhiều người bị t́nh nghi trong số có thân phụ tôi.

Năm 1931 tôi mới lên chín th́ bố tôi bị đổi đi làm hiệu trưởng trường huyện Nghi Lộc cách tỉnh Vinh 7 cây số về hướng Nam. Hồi ấy là thời kỳ Xô-Viết-Nghệ-Tĩnh rất sôi động mà Nghi Lộc là cái nôi lửa-bỏng-dầu-sôi. Năm 1932 xẩy ra vụ thảm sát quan huyện Tôn Thất Úy khi ông đi thị sát với thầy Đề Lại và sáu lính khố lục. Cả đoàn rơi vào ổ phục kích cộng sản và bị chặt ra làm ba khúc ném xuống biển Cửa Hội. Toàn gia có ông em Tôn Thất Tần là Vua Tù trong trại cải tạo của cộng sản. Ngoài ra hai con Tôn Thất Uẩn bằng tuổi tôi sau thành Tổng Giám Đốc Điện Lực Sài G̣n và cô em nhỏ lấy Hà Thúc Kư lănh tụ Đại Việt Trung Kỳ, theo mẹ về Huế.

Tri Huyện mới là Trần Mậu Trinh, một cựu Khố-Đỏ nổi tiếng sát thủ được đổi về thay thế. Ông ta xin một tiểu đội Lê-Dương bố trí súng máy bảo vệ huyện đường. Đêm đêm nghe tiếng reo ḥ rồi tiếng súng máy nổ ran khiến bố mẹ chạy vội vă kéo bốn anh em chúng tôi ra nằm phục giữa các luống rau sau trường. Nhiều hôm khi chúng tôi chơi trên sân trước trường chúng tôi chứng kiến người ta cáng các xác những người bị hành quyết trên đường cái, chân tay lủng lẳng kinh khiếp.

Tôi học Tú Tài Toán ở Trường Quốc Học Khải Định. Tôi nhập học vào tháng Chín 1939 sau khi đậu bằng Cao Tiểu ở Collège de Thanh Hóa. Năm đầu 1-S có 40 học sinh, 33 nam và 7 nữ. Các học sinh nam đều mặc áo dài thâm, chân đi guốc chỉ trừ có ba người mặc quần Tây trắng và sơ mi cụt tay trắng. Đó là Hoàng Kim Nha, Nguyễn Châu Phùng và Trần Văn Dĩnh về sau làm thông ngôn cho Kempetai Nhật và trở thành Bộ Trưởng Thông Tin đầu tiên của chính phủ Ngô Đ́nh Diệm.

Học được ba ngày th́ Censeur Giamachi dẫn vào lớp một học sinh mới là người độc nhất Nam Kỳ, dân Tây có cái tên ngộ nghĩnh Albert Phạm Ngọc Thuần. Anh ta được xếp ngôi cạnh tôi, ít nói, trông dáng người mảnh khảnh, nước da mai mái đậm đà và đặc biệt có cái mắt trái lác xệch. Anh mặc quần short đến đầu gối để lộ bộ gị dài và khẳng khiu. Anh nói giọng miền Nam trầm bổng và hay dùng tiếng Pháp đệm vào câu chuyện. Đặc biệt trong giờ thầy Ưng Quả giảng Truyện Kiệu th́ anh chẳng hiểu mô tê ǵ hết và luôn luôn hỏi nhỏ “expliques moi qu'est ce qu'il dit”? Trong kư túc xá anh cũng nằm giường cạnh tôi giữa một đám nội trú sinh tinh nghịch phá đám “nhất quỷ nh́ ma”, nhưng Albert chỉ ăn nói củ-mỷ-cù-ḿ, bàn những chuyện cách mạng Pháp, những tư tưởng của Rousseau, Voltaire và ghê khiếp bạo lực của Robespierre, Marat cũng như sự kinh hoàng bên Nga khi chủ nghĩa Marx Lenine đưa đến giết chóc thanh toán man rợ. Học hết năm đầu th́ anh ta biến mất, nghe nói gia đ́nh cho qua Pháp du học. Măi về sau, trong năm 1963 trước khi đảo chính Ngô Đ́nh Diệm tôi mới biết anh ta là Phạm Ngọc Thảo.

Ở đây tôi xin mở dấu ngoặc nói thêm về Albert Phạm Ngọc Thuần. Bẵng đi sáu năm sau, tôi mới gập lại Albert mà lại ở Hà Nội. Khoảng 10 giờ đêm đầu tháng 10 năm 1945 tôi đang đứng ở sân nhà A Học Xá, th́ bỗng nhiên anh ta xuất hiện. Chân đi đôi dép vỏ lốp xe hơi, anh mặc bộ quần áo bà-ba đen và cổ quấn một chiếc khăn rằn ri mầu hồng đậm, đầu đội mũ vải nâu mềm trông đúng như một dân dưới ruộng Nam Kỳ. Da mặt đen xạm, anh giơ tay siết chặt tay tôi và vội vàng đi ngay mồm nói, “Moi mới ra đây đi dự khóa họp đầu tiên Quốc Hội với phái đoàn Nam Bộ. Đêm nay moi ngủ ở đây và sáng mai phải đi với anh em sớm lắm”. Albert là con một đại phú gia Sài G̣n có anh là Gaston Phạm Ngọc Thuần tức Phạm Ngọc Hiền làm Đại Sứ cho Mặt Trận Giải Phóng ở Đông Đức.

Năm 1962 khi vị Tư Lệnh Cần Lao cho tôi ngồi-chơi-xơi-nước th́ Thảo liên lạc với tôi và móc nối tôi vào vụ đảo chính Ngô Đ́nh Diệm. Thảo đưa tôi đến họp trong căn nhà của Tướng Đỗ Mậu ở Tổng Tham Mưu, ngồi ăn trưa với Trung Tá Phạm Đăng Tấn phụ tá của Đỗ Mậu. Trong lúc ăn, Thảo tŕnh bày cặn kẽ kế hoạch và tôi được biết là Đỗ Mậu và Trần Thiện Khiêm là hai vai tṛ mấu chốt. Họ đề nghị tôi nắm quyền chỉ huy Không Quân và khi tôi nói nên dùng Trung Tá thất-sủng Nguyễn Cao Kỳ th́ họ nhờ tôi bí mật liên lạc kéo Kỳ vào kế hoạch.

Như đă nói ở trên, tôi thấy Thảo là một người ăn nói thật thà dễ mến và có đầu óc xă hội cấp tiến. Năm 1946 theo lời thuật lại của bạn Nguyễn Trung Trinh hiện ở Paris, th́ Trinh gập Thảo ở khu Thị Nghè khi anh đang chỉ huy một tiểu đội phục kích Tây. Thảo bắt tay Trinh và rủ nhập bọn đánh thực dân. Khi thấy Trinh có vẻ ngần ngại th́ Thảo nói, “Moi biết toi có nhiều bạn phía bên kia, nhưng toi cứ làm việc của toi và chúng ḿnh vẫn là bạn”. Vào khoảng 1960 anh rời bưng biền về với phe quốc gia và được Đức Cha Ngô Đ́nh Thục giới thiệu với Tổng Thống Diệm. Anh được gắn lon Trung Tá Nhiệm Chức và đua đi làm Tỉnh Trưởng Bến Tre, là một địa phương hiền ḥa và phong phú mà Việt Cộng đă dùng làm nơi dưỡng quân.

Thảo nhậm chức, thường ra chợ và những nơi công cộng đứng ngang nhiên lên thùng gỗ nói chuyện và thảo luận với dân chúng như kiểu “soap box forum” bên Anh Quốc. T́nh h́nh địa phương được ổn định do sự khéo léo của Thảo. Nhưng có người lại nói Việt Cộng chơi tṛ hai mang, khi c̣n Thảo th́ chúng giấu mặt và khi hết Thảo th́ chúng lại hoạt động trở lại do đó người ta nghi rằng Thảo nằm vùng. Xét cho cùng, v́ Thảo đóng vai tṛ quan trọng trong vụ lật đổ chính phủ Diệm là một cơ may trời cho, khiến cho Bắc Bộ Phủ hoan nghênh t́nh trạng bát nháo của Việt Nam Cộng Ḥa, th́ công của Thảo c̣n bằng bao nhiêu lần Phạm Xuân Ẩn hay Vũ Ngọc Nhạ. Vậy tại sao khi chúng chiếm xong miền Nam chúng lại chỉ tuyên dương vai tṛ Thảo một cách khiêm tốn, không ồn ào, không gắn sao cho bóng ma như chúng vẫn làm với Nguyễn Văn Trổi chẳng hạn. Bởi vậy khi chị nghị sỹ Phan Nguyệt Minh đến thăm tôi ở Monterey năm 1978 và hỏi “anh có cho Phạm Ngọc Thảo là cộng sản không” tôi đă trả lời ngay là “không”. Và chị Minh nói, “như vậy th́ anh nên viết một cái ǵ giải oan cho anh Thảo và đưa lại an b́nh cho chị Thảo và cháu gái hiện đang ngụ tại San Diégo”.

Tôi thi đậu Tú Tài toàn phần toán vào kỳ hai năm 1941 v́ tôi trượt kỳ đầu do phân tâm t́m đường du học Nhật Bản qua sự móc nối của Trần Văn Dĩnh với Tổng Lănh Sự Nhật. Ra Hà Nội tôi được vào ở Đông Dương Học Xá mới xây xong, do chính sách chiêu dụ sinh viên của Toàn Quyền Decoux. Tại Đại Học Hà Nội tôi liên hệ với nhiều bạn mới ở ba Kỳ cũng như các sinh viên Lào và Mên. Đầu óc thật là cởi mở không một chút mặc cảm. Tôi có dịp gặp những bạn mới, nhất là các đàn anh phóng khoáng và ưu tư với tiền đồ nước nhà nếu tương lai thoát được sự đô hộ của Pháp. Tờ Tuần San Le Monôme của Tổng Hội Sinh Viên Đông Dương đă đăng những bài úp mở bóng gió đề cao ḷng ái quốc. Những tên lớn như Tổng Hội Trưởng Dương Đức Hiền, Phan Mỹ, Nguyễn Ngọc Minh, Lê Văn Giạng, Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ, Diệp Minh Châu, là những thần tượng không phai nḥa trong đầu óc trong trắng của tuổi trẻ.

Mỗi ngày chúng tôi lũ lượt đạp xe độ mươi cây số lên trường Đại Học Đông Dương tọa lạc tại đường Bobillot. Nghe giảng trong lớp xong chúng tôi vào Thư Viện tra cứu rồi lại lọc cọc quay về Đại Học Xá chơi thể thao. Đời sống thật là lành mạnh và vô tư, có chăng chỉ theo dơi tin tức Thế Chiến mà Pháp Quốc đang ở thế bại. Rồi những tin về Nhật Bản nuốt gần trọn Trung Hoa và đưa quân xuống các nước Á Châu về phía Nam trong số có Việt Nam. Các thuộc địa Anh Quốc Mă Lai Á, Singapore rồi đất Nam Dương thuộc Ḥa Lan lần hồi bị phá bỏ. Nhật Bản tung ra chiêu bài Đại Đông Á gây nên một làn sóng ái quốc và hănh diện cho các sắc dân bị các quốc gia Tây Phương đô hộ. Trong Đại Học Xá chúng tôi đă thành lập các nhóm nhỏ học ngoại ngữ Nhật, Anh, Đức và Nga. Trong nhóm học tiếng Nhật có hai anh em Đinh Văn Vinh và Đinh Văn Nam tức là Thượng Tọa Thích Minh Châu sau này.

Những ngày nghỉ chúng tôi thường rủ nhau bát phố đi từng bọn bốn năm đứa, xe đạp tung tăng, Hàng Đào, Hàng Ngang, Hàng Bông, Hàng Đường. Cậu sinh viên tỉnh lẻ, choáng ngợp với đất ngh́n năm văn vật, Hà Nôi băm sáu phố phường, Hàng Bột, Hàng Đường, Hàng Muối trắng tinh. Sinh viên Bắc và Trung tương đôi nghèo, khác hẳn các bạn Nam Kỳ rủng rỉnh tiền bạc, cỡi những chiếc xe đạp khung duralumin bóng loáng. Mỗi tháng mẹ phải gửi ra cho mandat hai chục bạc và chi phí đầu tiên là 12 đồng đóng tiền cơm cho Học Xá. Phần đông cánh Trung Bắc ăn thực đơn Việt cũng khá hậu hĩnh, nhưng bọn Nam Kỳ ăn thực đơn Tây có cả bơ và phó mát và giá đắt hơn vài đồng.

Thỉnh thoảng tôi hay ghé lại nhà số 117 Duvigneau là nơi trọ của các bạn Trung Kỳ trong lúc chờ có chỗ Đại Học Xá. Ở đây tôi thường tṛ chuyện với các bạn Lê Bá Hoan, Lê Bá Toại, Nhuyễn Văn Chiển, Ngô Thúc Lanh, Ngô Điền, Hoàng Đ́nh Phu, là những sinh viên xuất sắc. Tôi nhận kèm toán cho một học sinh đệ nhị ở xế cửa 117 Duvigneau là em cô Ngọ tức bà Đại Tá Đỗ Xuân Sinh sau này. Tôi lại dậy thêm cho một học sinh con một nhà giầu ở biệt thự sang trọng trên đường Halais. Mỗi lần “cậu giáo” đạp xe đến th́ bà mẹ cho người ở đem ra các trái cam tươi Sunkist, bổ khẩu mời thật là đặc biệt. Tôi cũng hay đến nhà số 39 Goussard chơi với hai anh em Vĩnh Huyên-Vĩnh Đán và nhà bạn Nguyễn Mộng Bích ở dốc Hàng Kèn trên đường Jauréguiberry ăn cơm trưa ở đây với Nguyễn Tấn Hồng, đậu rán chấm tương, rau muống luộc xanh mướt, chấm nước mắm chanh ớt.

Hứng chí tôi cùng các bạn đi ăn chả cá Thăng Long trên phố Hàng Cân, trên bục cửa sổ để tượng ông Lă Vọng cầm cần câu. Ngắm bồi bàn đưa ra đĩa cá nướng thơm phức và dội lên lớp th́a là xanh tươi một chảo mỡ xôi sùng sục nghe xèo vui tai ấm bụng. Nghe nói bây giờ đông khách ngoại quốc hiếu kỳ nên phát đạt đă xây lên ba từng lầu. Tuy nhiên khẩu vị không c̣n đậm đà như xưa v́ cá được chiên chảo chớ không nướng như trước.

Hàng Cân nối tiếp ra Hàng Giấy là khu cô đầu ngày xưa. Hàng Giấy gập Đường Hàng Cót thành cái góc nhọn có Trường con gái Brieux, trước khi tới cầu xe lửa vắt ngang đường, rồi tới Vườn Hoa Hàng Đậu có Château d'eau. Chỗ gập Hàng Cót bên phía viaduc xe lửa là nhà Louis Chức thầu đ̣n đám ma, nhạc phụ bạn Hoàng Phú Linh, Hội Trưởng Bóng Chuyền và là chủ cửa hàng La Marguerite trong Galerie Eden Sài G̣n. Anh em cũng rủ nhau đi ăn bồ câu quay Siêu Nhiên thơm ṛn ngũ vị hương, nhai cả đầu, trong ngơ Sầm Công gần Đông Hưng Viên ở khu Hàng Buồm. Khu này có rạp Quảng Lạc tŕnh diễn đoàn ca Phước Châu-Hồ Quảng và thỉnh thoảng có đoàn Năm Châu-Phùng Há trong Nam ra diễn.

Mùa Hè thật oi bức, mồ hôi ra như tắm. Ghé lại quán nước chanh của Mụ Béo trên bờ hồ gần nhà Thủy Tạ đánh một cốc vại nước chanh đập đá th́ thật là tuyệt diệu. Nh́n Mụ Béo nhanh nhẹn tráng cốc cho vào hai th́a đường, vắt kiệt quả chanh xanh, dùng th́a dài quấy cho tan rồi dở bao tải chặt một miếng nước đá, lấy một cái chầy nhỏ đập cái bốp tan vụn ra nhiều mảnh bỏ đầy vào cốc đưa cho chúng tôi hít hà ừng ực, mát rượi toàn thân.