TÔI PHẢI SỐNG     (47)
Bút Kư của Lm. Nguyễn Hữu Lễ

Cuối Chuyện

Đèn đường vẫn hắt nhẹ những tia sáng yếu ớt vào pḥng. Tiếng côn trùng rả rích gọi bạn về khuya. Đâu đây nghe tiếng gió đưa xào xạc như nhẹ rơi những cánh lá vàng không buồn sống. Tôi ngồi lên, bước tới bật đèn và nh́n đồng hồ trên tường, thấy đă gần hai giờ sáng. V́ nằm lâu nhưng không ngủ được nên thấy người hơi choáng váng. Tôi đưa hai bàn tay lên xoa mặt, đan các ngón tay vào đầu tóc rối bù v́ trăn trở măi trên gối.

 Nhà Chung Hà Nội thật êm ắng. Thỉnh thoảng, vài tiếng thạch sùng tắc lưỡi t́m mồi đêm. H́nh ảnh quá khứ cứ nhảy múa trong đầu. Cái nọ nối tiếp cái kia, có lúc lại đan chặt và dính trùm vào nhau như một vở bi hài kịch kéo dài. Tôi cảm thấy hơi nóng đầu như một bộ máy chạy liên tiếp mấy tiếng đồng hồ không nghỉ.

  Tôi bước vào nhà tắm bật đèn lên. Nhà tắm và cầu tiêu chung trong một pḥng lớn, có lẽ lớn hơn buồng giam bốn người trong khu kỷ luật trại Thanh Cẩm một chút, thật sạch sẽ, tường lát gạch men bóng láng. Trên tường có 2 cái giá máng khăn, một chiếc khăn tắm lớn và chiếc khăn mặt nhỏ được gấp làm tư cẩn thận. Trên bàn rửa mặt bằng men trắng kiểu cổ, có ṿi nước máy và một chiếc khay nhỏ đựng bàn chải đánh răng, cây kem nhỏ, cái lược và dao cạo râu loại rẻ tiền nhưng mới toanh. Trong lúc đang dùng phương tiện trong nhà vệ sinh, tôi chợt mỉm cười khi nhớ tới hai cái ống bẩu bằng tre trong buồng kỷ luật trại Thanh Cẩm!

Sau khi rửa mặt, chải đầu và lau khô bằng chiếc khăn mặt thơm mùi bột giặt, tôi đứng ngắm ḿnh trong gương, mỉm cười lần nữa. Lần này th́ cười tươi hơn và nghĩ thầm: “Trông ḿnh cũng chưa đến nỗi nào!” Mặc dù biết là rửa mặt xong sẽ rất khó ngủ lại nhưng lúc đó con người tôi quá bần thần, như người đang ốm nên phải rửa mặt mới dễ chịu được. Và thật vậy, sau khi rửa mặt, tôi thấy khỏe khoắn, dễ chịu và tươi mát ra.

Tôi không trở lại giường nhưng mở cửa ra hành lang, đứng tựa lan can nh́n xuống. Phố xá giờ này đang vắng tanh. Lâu lắm mới có tiếng xe máy và bóng vài người đi xe đạp thoáng qua phố chánh, nơi mà trưa hôm qua, bộ ba tướng sĩ tượng chúng tôi bỡ ngỡ bước vào Nhà Chung này. Bên kia đường, nơi chiều qua, các người trẻ tới khiêu vũ, giờ này không một bóng người. Tất cả đều trở nên yên lặng trong đêm tĩnh mịch.

 

Tờ giấy ra trại

Kể từ lúc cho vào túi tờ “Giấy Ra Trại” màu nâu rách mép và làm bằng chất liệu kém nhất mà tôi mới thấy lần đầu, cho tới giờ, thời gian qua đi chưa đầy 24 tiếng. Lúc vừa bước ra khỏi cơ quan của trại Nam Hà để đón xe lên Hà Nội sáng hôm qua, tôi cứ suy nghĩ vẩn vơ về tờ “Giấy Ra Trại”, đang nằm sâu trong túi áo ngực được may bên trong và cài hai lần kim băng, lúc nào cũng cồm cộm trên ngực.

 Tôi suy nghĩ măi về sự tương phản quá lớn lao giữa h́nh dạng và nội dung của nó. Khi người cán bộ đặt “Giấy Ra Trại” trên bàn và bảo kư tên vào, tôi ngạc nhiên đến bất lịch sự khi nhận cây bút, cúi khom người, kéo một hàng ngoằn ngoèo như con giun vào chỗ dành cho đương sự kư tên. Nói rơ hơn là mảnh giấy đó không đáng để tôi kư tên vào. Ngay lúc đó, tôi nghĩ ḿnh như bị xúc phạm khi cơ quan trại Nam Hà cấp cho tôi một thứ giấy tờ có giá trị pháp lư lâu dài mà lại là một tờ giấy đen thủi đen thui, chất lượng c̣n kém hơn giấy bao xi măng và b́a th́ rách nát như cái răng cưa. Như vậy có ư ǵ? Chẳng lẽ Nhà nước không có thể cấp cho tôi một tờ giấy ra trại bằng chất liệu thông thường khác hay sao?

  Lúc nhận tờ giấy, tôi cầm thật nhẹ tay, chỉ sợ vô ư làm nó rách ra từng mảnh th́ phiền! Tôi đă thầm nghĩ: Trời! Cuộc đời ḿnh trong 13 năm tù đă đen và rách nát mà miếng giấy ra trại này nó c̣n đen và rách nát hơn cả đời ḿnh! Nhưng tôi mỉm cười, tự an ủi: Ít ra, nó cũng có giá trị nhờ các hàng chữ đánh máy!

 Trên đường từ trại Nam Hà qua phà Phủ Lư rồi lên Hà Nội, tôi không ghi nhận được nhiều h́nh ảnh. Lúc đó tâm trạng tôi c̣n lâng lâng và khá mệt mỏi nên chỉ nhắm mắt tựa đầu vào băng ghế xe suốt quăng đường. Nhưng từ lúc đặt chân xuống Hà Nội và nhất là sau khi vào Nhà Chung Hà Nội, tôi ghi nhận được nhiều h́nh ảnh và có nhiều cảm nghĩ. Từ Đức Hồng y Căn, Đức cha Sang, hai anh em  thầy Trác và thầy Trạc, Cha Sinh, và các Cha, các Thầy tôi gặp trong nhà cơm chiều tối hôm qua. Rồi khung cảnh Nhà Chung Hà Nội với lối kiến trúc cổ điển, cộng với nét sinh hoạt thứ tự lớp lang từ trên xuống dưới trong cơ sở này, đều là những kinh nghiệm lạ đối với tôi.

Tôi đứng thẳng người, ưỡn ngực về phía trước và hít một hơi thật dài và sâu. Làn không khí trong lành của thủ đô Hà Nội trong buổi sáng tinh sương lúc này làm tôi sảng khoái. Tôi bật thành tiếng:“Tạ ơn Chúa đă cho con có làn khí trong lành này để thở!”

Sau khi nói câu đó, tôi hồi tưởng lại những đêm mùa hè trong buồng giam khu kỷ luật trại Thanh Cẩm. T́nh cảnh tôi lúc đó chẳng khác ǵ đang bị cùm trong một cái thùng sắt kín mít và đang mở ḷ sưởi ở số cao. Có những đêm gần chết ngạt v́ không thể hít vào buồng phổi chất khí nóng hừng hực đó, không cách ǵ hơn, chúng tôi phải gào thét khan cả cổ gọi cán bộ lên v́ có người gần chết ngạt. Khi cán bộ mở cửa buồng ra, làn không khí bên ngoài ập vào làm tôi sung sướng và hạnh phúc, tưởng là trên đời này không c̣n thứ hạnh phúc nào lớn lao hơn! Nhưng khi cánh cửa sắt buồng giam đóng lại rồi, đám tù nhân khốn khổ trần truồng và đang bị cùm chân lại phải trở về t́nh trạng cũ.

Lúc bấy giờ, trong cơn vật vờ của loài sinh vật đang cố gắng dùng hết khả năng thích ứng của cơ thể để bảo tồn sự sống đó, tôi đă quyết tâm nếu c̣n sống sót, về sau này, mỗi lần tôi có thể hít thở được vào buồng phổi làn khí trong lành, tôi phải tạ ơn Chúa v́ hồng ân vĩ đại mà Ngài ban cho tôi. Tôi cũng quyết tâm phải chia sẻ kinh nghiệm này với tất cả mọi người:“Chúng ta hăy tạ ơn Chúa v́ hồng ân vĩ đại là Ngài đă ban cho ta có đủ không khí trong lành để thở.”

 Tôi biết chắc là có người sẽ không nghe, không nhớ, thậm chí có người sẽ mỉm cười v́ cho rằng tôi đă bất b́nh thường sau những năm tù tội kéo dài khi kêu gào nhân loại phải tạ ơn Chúa về một chuyện chẳng ra đâu! V́ hít thở không khí là một việc tự nhiên và vô thức của cơ thể, ngay cả lúc ngủ con người vẫn hô hấp th́ làm ǵ phải bận tâm? Trong cuộc đời này c̣n quá nhiều chuyện lớn khác phải lo, phải nghĩ và phải tạ ơn khi ḿnh có được. Tôi sẽ trả lời: “Thưa bạn, v́ bạn chưa lâm vào cảnh của tôi nên bạn chưa cảm thấy làn không khí trong lành quư báu như tôi cảm nhận”.

Lúc này, đă gần ba giờ sáng và sau một ngày đi đường vất vả hôm qua, tôi vẫn chưa thấy buồn ngủ. Th́ ra, làn  không khí trong lành lúc đó cộng với tâm trạng trong đêm đầu tiên được ra khỏi tù và sau khi đă rửa mặt, chải tóc và lau mặt bằng chiếc khăn trắng, sạch và thơm, ba yếu tố đó cộng lại đă làm tôi tỉnh hẳn ra. Tôi cảm thấy yêu đời, yêu cuộc sống này một cách mănh liệt và quyết tâm  sống quăng thời gian thần tiên độc nhất vô nhị của đời ḿnh trong lúc này thật tích cực. Tôi vẫn biết là quăng đường trước mặt sẽ c̣n nhiều thử thách, nhưng chuyện đó tính sau. Tôi không muốn những lo âu phiền muộn chưa xảy ra đó làm giảm đi cảm giác tuyệt vời tôi đang được hưởng trong lúc đứng một ḿnh ở hành lang bên ngoài pḥng khách của Nhà Chung Hà Nội này.

Đứng một lúc, tôi thấy mỏi chân nên vào pḥng nhắc ghế ra ngồi. Đó là chiếc ghế mây khá to nhưng rất nhẹ, ḷng ghế sâu và có chỗ t́ tay hai bên. Tôi kê ghế sát vào hàng rào chắn phía trước để khi ngồi tôi có thể gác chân lên một trong những thanh của hàng rào trong một tư thế thoải mái nhất. Tôi nhẹ nhàng ngồi xuống ghế trong tư thế tự do, riêng tư, lười biếng và bất lịch sự, đầu ngửa về phía sau tựa hờ lên thành ghế, hai tay dang rộng, đôi chân duỗi thẳng gác lên một thanh của hàng rào. Trong tư thế đó, tôi đưa mắt nh́n cảnh vật trước mắt ẩn hiện cái được cái mất qua những ánh đèn điện bóng tṛn của đường phố Hà Nội.

 Tôi nh́n một cách bâng quơ nhưng không chú ư tới một điểm nào. Tôi muốn tận dụng phút giây thư giăn tinh thần trong lúc này sau mấy tiếng đồng hồ tôi nằm trăn trở trên giường nhưng không ngủ được khi những chuyện của hơn chục năm qua lần lượt hiện lên trong tâm trí tôi như một cuốn phim quay chậm. Trong lúc đang ngồi thoải mái tựa đầu vào thành ghế, tôi nhắm mắt lại và tự hỏi: Quăng đời 13 năm tù và những kinh nghiệm buồn vui ḿnh đă trải qua đó có giá trị ǵ cho bản thân ḿnh và cho người khác? Tôi ngồi yên và cố trả lời câu hỏi đó.

Đối với tôi, giai đoạn đó cho tôi khá nhiều điều hiểu biết.

 

 Bài học của trường đời

Trước tiên, về phương diện tôn giáo, trong cảnh khốn cùng đó, tôi nhận thấy vai tṛ của một Linh mục thật vô cùng cần thiết để mang lại t́nh thương và niềm hy vọng trong khung cảnh mà hai thứ giá trị này rất hiếm, nếu không muốn nói là không có. Chính t́nh yêu và niềm hy vọng của chân lư Phúc Âm đă cho tôi điểm tựa và tôi chia sẻ hồng ân này với các bạn tù mà tôi có dịp sống chung.

Tôi nghĩ rằng, trong môi trường tù ngục đọa đày đó, tôi đă sống sứ mệnh Linh mục có nhiều kết quả hơn 6 năm trước ngày tôi vào tù, và có lẽ hơn cả những năm về sau này trong cuộc đời c̣n lại, mặc dù tôi chưa biết được cuộc đời rồi sẽ ra sao, ở đâu và làm ǵ. Hơn nữa, qua các biến cố xảy ra tưởng chừng như vô t́nh, nhưng sau này, tôi nhận ra đó chính là sự quan pḥng của Thiên Chúa, và tôi luôn nghĩ rằng, trong hết mọi hoàn cảnh, luôn có bàn tay của Thiên Chúa che chở cuộc đời tôi.

Về con người, trước tiên tôi khẳng định là không than phiền hoặc oán trách ǵ những cán bộ làm việc trong tù. Tôi biết đa số họ làm việc v́ cuộc sống và miếng cơm manh áo. Vai tṛ của một cán bộ trong tù cũng như bao nhiêu công việc của người dân khác đang làm nơi các cơ quan, nhà máy, xí nghiệp khác. Đôi lúc, có vài cán bộ v́ bản chất hung ác và được huấn luyện để phục vụ cho bộ máy kềm kẹp của đảng, làm cho cảnh sống tù đày chúng tôi khốn khổ, ngược lại, cũng có những cán bộ sống thân t́nh và biểu lộ ḷng nhân đạo một cách rất cảm động.

Vào thời gian cuối cùng trước khi được tha về, tôi đă có dịp tiếp xúc thân mật hơn với nhiều cán bộ và tôi thấy họ là những người đáng thương hơn là đáng trách. Có người c̣n để lại trong ḷng tôi sự quư mến và biết ơn sâu xa. Do đó, tôi không hề oán trách bất cứ một cán bộ nào tôi đă gặp trong suốt 13 năm tù, ngay cả những cán bộ đă từng chửi mắng, đánh đập hành hạ tôi cách này cách khác. Tôi cũng không hề oán trách những anh em tù đă ngược đăi và v́ sự nhẹ dạ đă hăm hại tôi.

Điều đáng nói chính là chủ trương trong chế độ lao tù cộng sản. Chúng tôi vào tù với cái tên rất đẹp là “ Tập trung Cải tạo” kèm theo lời hứa “Chừng nào cải tạo tốt th́ về!”. Và như vậy, chúng tôi bị tước đoạt quyền hy vọng là lư do sống của con người. Câu nói‘‘chừng nào cải tạo tốt th́ về” đó, đă ngầm khuyến khích sự chia rẽ và phản bội nhau trong số tù chính trị miền Nam. Nói về tâm trạng tuyệt vọng lúc đó, sau khi vào tù, tôi nhớ lại có lần đọc ở đâu mấy câu thơ của thi sĩ Dante người Ư, tả cảnh địa ngục, tạm dịch như sau:

           Trên ngưỡng cửa địa ngục có khắc câu này:

“Hỡi những kẻ sắp bước vào đây

Hăy để niềm Hy Vọng lại bên ngoài!”

Sống trong t́nh trạng tù mù đó, tôi luôn nghĩ , nếu bị kêu án 5 năm, 10 năm hoặc 20 năm hay lâu hơn nữa, tôi vẫn vui hơn v́ ít ra c̣n có một cái mốc thời gian để hy vọng. Đàng này không ai thực sự biết được số phận của ḿnh ra sao! Không c̣n ǵ khốn khổ hơn tâm trạng  của một con người sống trong tuyệt vọng!

Cái kiểu treo củ cà rốt trước mơm  con lừa đang kéo xe bằng luận điệu:‘‘Các anh đang chơi bóng đá và đang ở gần cuối của hiệp hai rồi, chỉ c̣n mấy phút cuối cùng nữa là có tiếng c̣i tan trận đấu! Cố gắng lên!”  Chúng tôi nghe đến nhàm tai cách nói đó của cán bộ giảng huấn khắp các nơi, và các “trận bóng đá” này trại nào cũng có! Nhưng khổ nỗi, mấy phút cuối cùng của trận đấu lại là thời giờ bằng dây thun chất liệu tốt, có thể kéo giăn ra đến vô tận!

Trong hoàn cảnh đó, lời hứa mù mờ  “cải tạo tốt được về” đă thành cơn cám dỗ cho một số người nhẹ dạ cố gắng cải tạo tốt. Có vài người c̣n muốn cải tạo “thật tốt!” Mà cách tốt nhất là quên đi ḿnh là ai, quên đi những người đang mặc bộ đồng phục tù như ḿnh là ai, để rồi phản bội lại chính ḿnh và phản bội anh em đồng cảnh. Lời hứa mù mờ đó, theo tôi, là chủ trương thâm độc nhất của chế độ nhà tù cộng sản. Nó đă hành hạ tâm trí chúng tôi và đă gây ra bao nhiêu tác hại, khiến những con người khờ khạo tin vào lời hứa đó để hăm hại chính anh em ḿnh.

 Và như tôi đă nói, sự đau thương và nhục nhă mà tôi đă phải chịu 13 năm trong ngục tù cộng sản, không phải là cực h́nh trên thân xác như  sự hành hạ, cùm kẹp, đánh đập đói khát, trần truồng, chết ngạt, chửi mắng...như tôi đă nhớ lại, nhưng là t́nh trạng tuyệt vọng và nhất là khi phải chứng kiến và chịu đựng sự phản bội của một vài  người trong số tù chính trị miền Nam.

Cũng từ kinh nghiệm đó cho tôi hiểu biết hơn về ḷng dạ con người. Khi con người lâm vào cảnh túng cùng và không c̣n được che giấu dưới những bộ y phục, những huy hiệu, cấp bậc, chức vụ trước kia, họ đă lộ nguyên h́nh là những con người. Khi con người sống chen chúc nhau trong cảnh khốn cùng, đói khát và tuyệt vọng trong thời gian dài hơn chục năm trời, đă cho tôi rút được bài học đắng cay sau đây:“Ḷng nhân đạo của con người có giới hạn, nhưng sự ác độc của loài người th́ vô tận, nhất là khi sự ác độc đó được dung dưỡng bởi hoàn cảnh xấu xa.”

 

Dân Tộc Việt Nam của tôi

Thời gian dài, nhất là 3 năm lăn lộn trong đáy địa ngục khu kỷ luật trại Thanh Cẩm, đă cho tôi cơ sở để nói rằng trong mỗi con người đều có phần THIỆN và phần ÁC ngang ngửa nhau, và tùy thuộc vào môi trường sống mà phát triển. Nếu con người được sống trong một môi trường đạo đức và luật pháp được tôn trọng th́ phần THIỆN sẽ phát triển và đè bẹp phần ÁC. Ngược lại, nếu con người rơi vào hoàn cảnh xấu xa, hận thù và không luật lệ th́ phần ÁC sẽ ngoi lên và ngự trị.

Trong tù, tôi đă chứng kiến và chịu đựng  những hành động ác độc của một số cán bộ và những người tù phản bội. Tôi biết một phần cũng do bản chất tàn bạo của họ, nhưng nếu không có sự dung dưỡng và khuyến khích của chế độ th́ các việc đó đă không xảy ra, hoặc nếu có xảy ra, cũng không đi tới chỗ quá tàn nhẫn như thế. Từ nhận xét đó, tôi kết luận: “Không bao giờ oán trách con người, không bao giờ thù hận con người, không bao giờ tiêu diệt con người nhưng bằng mọi giá phải loại bỏ bất cứ chế độ xấu xa nào đă khuyến khích và dung dưỡng sự hận thù giữa người với người, và thay vào đó một xă hội lành mạnh để con người được phát triển phần LƯƠNG THIỆN của ḿnh.”

Những năm tù cũng cho tôi có dịp chia sẻ và sống với nỗi đau thương chung của Dân tộc mà nếu không trải qua kinh nghiệm đó, có lẽ tôi không biết hoặc biết rất hời hợt về số phận đau thương của đồng bào Việt Nam. Qua đó, tôi thương  và gắn bó với Dân tộc tôi nhiều hơn.

Tôi cũng nghĩ rằng, sau này, tôi có bổn phận phải chia sẻ kinh nghiệm của đời tôi với nhiều đồng bào của tôi, nhất là với thế hệ trẻ Việt Nam là những người không bị ảnh hưởng bởi cuộc chiến tranh tương tàn do ư thức hệ gây ra.

Tôi muốn gửi lại cho thế hệ mai sau một lời tâm huyết là đừng bao giờ mê muội v́ một chủ thuyết ngoại lai nào mà quên đi t́nh Dân Tộc, để rồi cảnh nồi da xáo thịt lại tái diễn. Thể chế chính trị nào rồi cũng sẽ qua đi, triều đại nào rồi cũng sẽ sụp đổ, chỉ có Dân Tộc là trường tồn. Lịch sử đă chứng minh, chế độ nào càng tàn ác, càng bạo ngược bao nhiêu th́ càng mau sụp đổ bấy nhiêu. Không một chế độ nào dùng họng súng và nhà tù để cai trị mà vững bền được, chỉ có ḷng nhân mới cảm hóa được con người.

Tôi vẫn biết là trên quê hương tôi tiếng súng đă im từ nhiều năm qua, nhưng trong ḷng người dân Việt Nam, cuộc chiến vẫn chưa tàn, và cuộc chiến đó càng kéo dài bao nhiêu th́ càng tác hại cho Dân Tộc tôi bấy nhiêu.

 

Cuộc chiến chưa tàn

Bên cạnh đó, tôi biết những hệ lụy của một cuộc chiến tương tàn kéo dài mấy chục năm trên quê hương và đă giết hại và làm khổ hàng triệu đồng bào ở cả hai miền Nam Bắc như là một vết thương c̣n đang chảy máu, khó mà có thể quên ngay được. Tôi vẫn biết sự căm tức và ḷng hận thù nhau giữa những người Việt Nam bị lôi kéo vào cuộc chiến tương tàn ấy, c̣n đang cao ngút trời, khó mà có thể kêu gọi sự tha thứ ngay được.

Tôi kính trọng và cầu nguyện cho những người đă chết trong cuộc chiến tại Việt Nam.  Tôi cảm thông nỗi khổ đau và căm hờn của tất cả những nạn nhân cả hai bên trong cuộc chiến. Tôi cảm thương cho số phận của những thương phế binh của cả hai bên trong cuộc chiến, đang phải kéo lê quăng đời c̣n lại trong cảnh tật nguyền, thiếu thốn và bị lăng quên. Tôi chia sẻ sự đau thương tủi hờn của các bạn tù chính trị của tôi trong các trại tù mang tính chất trả thù và tiêu diệt mang tên“trại cải tạo” của chế độ cộng sản sau khi quê hương đă im tiếng súng.

Chính bản thân tôi là một chứng nhân và cũng là một nạn nhân c̣n sống sót của chế độ lao tù đó. Tôi đă lăn lộn trong một giai đoạn đen tối của lịch sử. Trong đó, sự ác độc của con người được dung dưỡng và khuyến khích, và đă có những con người hành động ác độc  hơn loài ác thú thả lỏng dây cương. Có lúc, sự tàn ác của người đối với người đă vượt quá sự tưởng tượng và khả năng chịu đựng của con người.

Chính tôi, mặc dù là một Linh mục, tôi đă có lần phải buông ra những lời nguyền rủa gớm ghê, độc ác nhất mà lúc b́nh thường tôi không bao giờ dám nghĩ tới.  Đó là một thực tế đau ḷng đă và có thể là c̣n đang xảy ra trên quê hương tôi, giữa những người Việt Nam với nhau.

Một câu hỏi được đặt ra cho tất cả mọi người Việt Nam, sau khi quê hương đă im tiếng súng, và mỗi người bắt buộc phải có một câu trả lời :

  “ Đứng trước t́nh cảnh của Dân Tộc Việt Nam như thế, bạn phải làm ǵ, và làm như thế nào?”

Câu hỏi này được đặt ra cho tất cả mọi người Việt Nam, không phân biệt đang sống trong nước hay ở hải ngoại, không phân biệt đang ở vị thế cầm quyền hay là người dân b́nh thường, không phân biệt thuộc về phía nào trong cuộc chiến trước kia, không phân biệt là kẻ đă gây ra tội ác hay là nạn nhân của những tội ác do kẻ khác gây ra.

 

Can Đảm và Khoan Dung

Chúng ta biết rằng Dân Tộc bị lôi cuốn vào một cuộc chiến tương tàn vượt ra ngoài sự kiểm soát của ḿnh. Toàn thể dân tộc Việt Nam là nạn nhân của một tṛ chơi chính trị lớn. Khi hai miền Nam Bắc đă bị những thế lực ngoại bang dẫn đưa vào cuộc chiến rồi, lúc đó, dù có muốn dừng tay lại cũng không dừng được. Như thế, toàn thể dân tộc Việt Nam là những nạn nhân, là những người thua cuộc.

Đây là lúc người Việt Nam phải có can đảm đặt vấn đề một cách thẳng thắn và t́m phương cách giải quyết vấn đề trong tinh thần hiểu biết và thái độ bao dung như thế mới mong thoát ra khỏi sự ràng buộc của dây hận thù oan trái đang trói chặt thân thể Dân Tộc do hậu quả của bao năm chiến tranh tương tàn để lại.

Trong cuộc chiến không có tiếng súng này, dân tộc Việt Nam không c̣n chiến đấu v́ một chế độ này hay chế độ khác. Không chiến đấu để khôi phục lại một chế độ vừa sụp đổ, cũng không chiến đấu để cố bảo vệ chế độ độc tài thối nát đang ngự trị trên quê hương. Đây phải là cuộc chiến của lương tri con người để chọn cái Đúng và loại bỏ cái Sai, để chọn cái Thiện và loại bỏ cái Ác cho con đường Dân Tộc phải đi.

 Kẻ thù của dân tộc Việt Nam lúc này không c̣n phải là những con người đă đứng bên này hay bên kia chiến tuyến trong quá khứ, nhưng là bất cứ thể chế chính trị nào cướp đi quyền lợi tự nhiên của những thành phần Dân Tộc khác. Đă đến lúc lương tri tổng hợp của dân tộc Việt Nam phải nhận diện và loại bỏ bất cứ một chế độ bất nhân nào, cho dù là mang tên tuổi ǵ, chủ nghĩa ǵ mà trong đó các quyền sống căn bản của người dân bị những kẻ nắm quyền cướp đoạt. Một chế độ chính trị không phải tốt hay xấu v́ tên gọi của nó, nhưng tốt hay xấu là do đường lối, chính sách, và cách hành xử của những kẻ cầm quyền.

 Đây là một vấn đề khó khăn nhưng là vấn đề sống c̣n cho tương lai dân tộc Việt Nam. Không phải v́ vấn đề quá lớn hoặc cảm thấy khó khăn mà chúng ta không muốn hoặc không có can đảm t́m một giải pháp cho vấn đề. Theo tôi nghĩ, không có một vấn đề ǵ mà chúng ta không thể giải quyết được trừ ra việc chúng ta không muốn giải quyết vấn đề.

Ngày nay xă hội Việt Nam sau một thời gian im tiếng súng giống như bề mặt của một đại dương chỉ hơi gợn sóng lăn tăn. Trong thực tế dưới đáy đại dương đó, đang có những đợt sóng ngầm chỉ chờ cơ hội bộc phát. Những đợt sóng ngầm này là kết tinh của bao nhiêu bất công, chém giết, cướp đoạt tài sản, hận thù, oan nghiệt đang tích lũy trong ḷng dân tộc. Nhất là qua cảnh bất công gây ra bởi những kẻ đang nắm quyền. Họ tự coi là chủ nhân ông và giữ độc quyền lănh đạo đất nước. Họ cấu kết nhau trong đồng phục đă nhạt màu của một chủ nghĩa ngoại lai để vơ vét tài sản của Dân Tộc. Họ đè đầu cỡi cổ thành phần thất thế và hút máu thành phần dân tộc khác qua nạn tham nhũng công khai và có hệ thống.

Những đợt sóng ngầm đó phải được loại ra khỏi ḷng đại dương dân tộc Việt Nam càng sớm càng tốt. V́ càng kéo dài nó càng tích lũy sức tàn phá tinh thần dân tộc. Tôi có thể khẳng định là dần dần sẽ có những con người đang nằm trong guồng máy cai trị nói lên tiếng nói của lương tri. Có lúc họ sẽ thức tỉnh trước sự sai trái về con đường có hại cho Dân Tộc mà họ đă đi.

Tôi đă có dịp nghe được những tâm tư thầm kín này nơi một số cán bộ trong nhà tù trong thời gian cuối cùng trước khi tôi được tha về. Tôi biết hiện tượng này rất phổ biến và đang dày ḍ tâm can của một số người đang nằm trong bộ máy cầm quyền nhưng chưa tới lúc thuận tiện để họ có thể bày tỏ công khai. Khi hoàn cảnh cho phép để họ bày tỏ sự thức tỉnh, lúc đó họ là những người đáng quư và đáng kính trọng cho dù trước kia và ngay trong hiện tại họ đă ở đâu và làm ǵ. Họ sẽ là những người trong vị trí thuận lợi để đóng góp cho sự nghiệp tranh đấu cho cái THIỆN và loại bỏ cái ÁC ra khỏi chế độ cầm quyền.

 Khi nguồn sức mạnh của ư chí quật cường và lương tri tổng hợp của dân tộc được khơi dậy sẽ không có một thế lực chính trị nào cho dù bạo ngược tới đâu có thể cưỡng lại được. Trong khi đó, những kẻ thù của Dân Tộc không mừng ǵ hơn là có những người lúc nào cũng chỉ gầm gừ chực loại nhau trong một bài toán không có đáp số và họ được rảnh tay để ngang nhiên tự tại nắm quyền. Theo tôi, chừng nào mà những người trong cuộc chiến trước kia biết nhận ra nhau, hiểu biết nhau và hợp tác nhau trong cuộc chiến tranh đấu cho cái THIỆN của dân tộc, chừng đó mới có thể nói tới việc đưa dân tộc Việt Nam chúng ta tới một tương lai tươi sáng.

Lúc đang đắm ch́m trong suy tư về vấn đề này, tự nhiên tôi nhớ lại một câu chuyện đă nghe khá lâu, c̣n nhớ măi. Năm 1966, khi tôi đang học năm Thần học thứ nhất tại Đại chủng viện Sài G̣n, có lần Linh mục Gérard Gagnon vào thăm và nói chuyện với tất cả chủng sinh. Cha Gagnon là Linh mục Ḍng Chúa Cứu Thế, người Canada, đă sống ở Việt Nam trên 30 năm nên nói tiếng Việt lưu loát. Trong lần nói chuyện đó, ngài có kể lại câu chuyện, trong một lần ngài cỡi xe mô-tô từ Đà Lạt về Sài G̣n, tới khúc đường vắng, bị Việt cộng chặn lại, bắt dẫn vào rừng tuyên truyền. Cảnh Việt cộng chặn xe, bắt người vào rừng để tuyên truyền là chuyện thường xuyên lúc bấy giờ. V́ biết ngài là Linh mục nên người cán bộ tuyên truyền hỏi:

    - Anh nghĩ thế nào, Đạo Công Giáo của anh đă hoạt động gần hai ngàn năm rồi mà mới được mấy trăm triệu tín đồ, c̣n chủ thuyết cộng sản mới ra đời có 50 năm mà đă chiếm một phần ba nhân loại. Như thế, giữa đạo của anh và chủ thuyết cộng sản cái nào hay hơn?

     Cha Gagnon trả lời:

    -Tôi cũng không biết, nhưng phải đợi chủ thuyết cộng sản được gần hai ngàn tuổi  như đạo Công Giáo, lúc bấy giờ tôi mới trả lời anh được!

     Câu chuyện cha Gagnon kể tuy đă 20 năm rồi nhưng tôi c̣n nhớ rất rơ, v́ tôi thích câu trả lời đầy ư nhị của ngài.

Trong khi ngồi nghĩ miên man, lúc đó tôi quyết định khi nào thuận tiện tôi sẽ ghi lại chi tiết những ǵ đă xảy ra trong tù và những suy tư của tôi qua những biến cố đó. Nếu tôi có ghi lại, không phải để than oán cuộc đời, cũng không phải để trách cứ con người. Tôi muốn chia sẻ kinh nghiệm của tôi với nhiều người.

Tôi cũng muốn viết để bày tỏ ḷng biết ơn những tâm hồn cao thượng trong số những anh em đồng cảnh và cả một vài cán bộ mà tôi đă gặp được trong tù. Tôi cũng viết để tưởng nhớ những người đă cùng sống với tôi và đă chết trong tù.

Nhưng quan trọng hơn cả là tôi muốn  ghi lại như một bài học của lịch sử, gửi tới đồng bào Việt Nam mà tôi yêu mến, nhất là những người trong thế hệ trẻ, không phân biệt Nam hay Bắc, không phân biệt đang sống trong nước hay ở hải ngoại, không phân biệt tôn giáo, không phân biệt bây giờ và trước kia thuộc về thể chế chính trị nào, không phân biệt đă từng đứng về phía nào trong cuộc chiến tương tàn trên quê hương, không phân biệt là nạn nhân hay là tác nhân đă gây nên nỗi khổ cho các nạn nhân, những lời tâm huyết sau đây:

 

Đồng bào Việt Nam thương mến,

Máu dân tộc Việt Nam đổ ra đă đủ rồi

Vết tích đau thương c̣n lưu lại trên thân thể trong cuộc đời c̣n lại và trong tâm hồn của những thương phế binh của cả hai bên trong cuộc chiến tương tàn đă gây đau khổ đủ rồi .

Nỗi đau thương của người dân vô tội Việt Nam đă quá nhiều rồi.

Cơn điên loạn v́ tôn thờ chủ nghĩa ngoại lai đă giết hại đồng bào đủ rồi.

Bom đạn của ngoại bang đă cày xé nát thân thể Mẹ Việt Nam quá nhiều rồi.

Sự nghi ngại nhau giữa các thành phần dân tộc, giữa các tôn giáo đă từng tác hại cho t́nh đoàn kết dân tộc đă quá nhiều rồi.

Ḷng hận thù và ḷng tham lam vô độ của những kẻ có thế lực qua các thời đại như con thú dữ thả lỏng dây cương, đă hoành hành và hăm hại thành phần thất thế và không có tiếng nói trong dân tộc đủ rồi. Hăy nhớ rằng thể chế chính trị nào rồi cũng sẽ qua đi, chỉ có Dân Tộc là trường tồn.”

Hăy để những dị biệt của quá khứ lại phía sau và cùng nhau xây dựng một tương lai sáng lạng cho Dân Tộc trong một xă hội Tự Do, Công Bằng và Phát Triển.

 

Và chủ yếu là tôi muốn gửi tâm t́nh thiết tha sau đây tới thế hệ trẻ Việt Nam

 

             Các bạn trong thế hệ trẻ thương mến,

 Dân tộc chúng ta đă trải qua một giai đoạn u buồn đầy máu và nước mắt. Những người trong thế hệ trước, mặc dù có nhiều cố gắng  nhưng chưa mang lại được t́nh thương và sự đoàn kết dân tộc. Tôi ước mong điều đó sẽ thành tựu trong thế hệ của các bạn. Xin các bạn đừng để cho những biến cố đau thương của lịch sử trói buộc ḿnh, hăy dùng lịch sử như một bài học để có thể  tránh tái diễn thảm cảnh cho dân tộc.

Hăy để cho những người chết được nghỉ yên. Hăy kính những anh hùng nhưng không sống v́ ho. Lịch sử dân tộc là một cuộc hành tŕnh tiếp diễn và mỗi thời đại sẽ sinh ra những anh hùng dân tộc mới. Theo tôi nghĩ, những anh hùng dân tộc thực sự  là những người có can đảm  vượt ra ngoài sự ràng buộc của quá khứ để hướng về tương lai với sự hiểu biết và khoan dung.

 Đừng ngồi đó để ngâm nga lịch sử hay than van oán trách con người, nhưng hăy dùng lịch sử như ngọn đèn soi sáng con đường dân tộc ta phải đi.

 Khi nh́n lại giai đoạn lịch sử cận đại, tôi thấy cuộc chiến tương tàn đầy máu và nước mắt kéo dài mấy mươi năm trên quê hương chúng ta, cuối cùng đă im tiếng súng. Nhưng trong ḷng dân tộc Việt Nam, cuộc chiến vẫn chưa tàn. Điều thật trớ trêu là cuộc chiến đó  không có kẻ thắng mà chỉ có những  người thua, và những người thua cuộc đó chính  là DÂN TỘC VIỆT NAM. Hăy để cho bóng tối đi qua và cùng nhau hướng về nguồn ánh sáng của B̀NH MINH DÂN TỘC trong cuộc sống Công Bằng, Tự Do và Phát Triển.

 

Tôi ngồi trên ghế, gục đầu yên lặng khá lâu để cầu nguyện theo ư hướng đó.

 

Bước vào tương lai vô định

 Một lúc sau, tôi cảm thấy lạnh và nghĩ là tốt hơn nên vào pḥng cố gắng ngủ một chút sau một ngày đi đường mệt nhọc. Vả lại, sáng ngày c̣n nhiều việc khác để làm. Tôi tính việc đầu tiên trong ngày là phải t́m đến làng Bưởi để ḍ hỏi tin tức về B́nh Thanh mà sáu năm qua tôi không nghe biết tin tức ǵ. Tôi quay vào pḥng, đóng cửa lại và leo lên giường ngồi đọc kinh. Đọc kinh xong tôi nằm xuống, quyết tâm sẽ dỗ giấc ngủ bằng câu nói:“Quên hết mọi chuyện! Phải ngủ cho khỏe để mai c̣n đi. Đừng có như cái đêm vừa được ra khỏi nhà kỷ luật!”

Vừa liên tưởng tới cái đêm được ra khỏi nhà kỷ luật ở trại Thanh Cẩm sáu năm về trước, đầu óc tôi lại căng thẳng và suy nghĩ.

Tôi nhớ lại đêm hôm đó vừa được chuyển từ kỷ luật qua khu kiên giam sống với một số Linh mục khác. Đêm đó, mọi người trong buồng ngủ say, nhưng sao tôi cứ trằn trọc măi không ngủ được. Tôi nằm trăn trở từ bên này qua bên kia để cố dỗ giấc ngủ nhưng không tài nào chợp mắt. Khổ hơn nữa, khi phải nằm nghe tiếng ngáy đều của anh em trong buồng.

 Tôi khó ngủ có lẽ v́ nhiều lư do. Một phần v́ tâm trạng người tù được tha cùm sau gần ba năm trong kỷ luật, tôi nằm tính lại đúng 1020 ngày đêm! Một phần nhớ em tôi là tướng cướp B́nh Thanh ở chung buồng kỷ luật mà tôi vừa từ giă ra đi. Phần nữa, tôi cảm thấy thiếu một thứ ǵ đó rất quen thuộc. Chừng nhớ ra mới biết là thiếu cái móng cùm ngoạm vào cổ chân. Th́ ra trong 1020 đêm liên tiếp đó, đêm nào tôi cũng đi ngủ với một chân xỏ vào cùm, và đêm nay cả hai chân nằm ngoài. Thừa một chân, tự nhiên sao cảm thấy nó vướng víu kỳ dị!

  Tới quá nửa đêm vẫn chưa chợp mắt, tôi ḷ ṃ xuống ngồi ở lối đi trong buồng, hút thuốc lào. Nghe tiếng động, cha Lê Đức Triệu, tức nhạc sĩ Hoài Đức, cũng thức giấc và bước xuống ngồi hút thuốc với tôi. Cha Triệu mà tôi gọi là Bố Triệu, là tác giả bài Thánh ca Giáng Sinh “Cao Cung Lên” rất phổ biến. Người cao và gầy ốm, tướng đi khoan thai đĩnh đạc, bộ râu cằm không nhiều nhưng khá dài. Nh́n qua phong thái, cha giống như một tiên ông đạo cốt trong truyện tàu.

Trước đó, cha Triệu đă giúp phổ nhạc cho bài thơ tôi làm sau khi vào tù một năm. Tôi cũng chẳng biết người Linh mục nhạc sĩ này thực sự có hứng, hay v́ nể nang trước lời tôi yêu cầu, mà phổ nhạc bài thơ lục bát 12 câu tôi soạn, có tựa đề khá trữ t́nh: “Đếm hạt mưa rơi!”, như sau:

            Pḥng giam vắng lạnh về đêm,

Ngoài trời mưa đổ tăng thêm nỗi sầu.

Xa người xa đă bấy lâu

Đêm nay gởi nhớ thương sầu về ai?

Nhớ ai tôi nhớ đêm ngày,

Bao đêm thức trắng đắng cay mỏi ṃn.

Nhạc buồn tiếng dế nỉ non!

Dế ơi!  Không ngủ dế c̣n gọi ai?

Hay ḷng dế cũng đắng cay,

Thương vay khóc mướn cho hai cuộc đời?

Lặng nh́n đếm hạt mưa rơi,

Bao nhiêu giọt nước bấy lời nhớ thương!”

           Tôi không biết làm thơ và cũng chưa bao giờ làm thơ cả, mặc dù tôi rất thích thơ. Đêm đó, vào năm 1977, một ḿnh trong xà lim trại Phan Đăng Lưu buồn quá, nh́n ra ngoài qua cái lỗ vừa đút lọt cái ca đựng nước trên cửa sắt buồng giam, bên ngoài lại mưa rỉ rả. Tôi bèn thử thời vận, đánh bạo ê a vài câu thơ đó, và cố nhớ trong ḷng.

          Tôi chẳng biết nó có đúng niêm đúng luật ǵ hay không. Nếu quư vị nào thấy mấy câu thơ đó kỳ quá, xin cứ xé bỏ trang sách này cho tôi đỡ ngượng. Dù vậy, tôi cũng xin sự rộng lượng của độc giả, v́ bài thơ con cóc này là bài thơ duy nhất tôi sáng tác trong 13 năm tù, và đúng hơn là trong cả đời tôi, ít ra là cho tới lúc này.

     Cha Triệu vui vẻ hỏi thật nhỏ:

    - Chú Lễ chưa ngủ à?

     Tôi trả lời:

    - Sao đêm nay con khó ngủ quá bố Triệu ơi! Cứ nằm lăn lộn trở trăn hoài!

     Cha Triệu vê bi thuốc lào vào nơ điếu, hỏi:

    - Sao khó ngủ? Bộ nóng lắm hả?

    - Không phải đâu bố, pḥng này mát hơn bên kỷ luật nhiều!

     Bố Triệu ngửa mặt lên trời, nhả khói xong hỏi:

    - Thế sao không ngủ được?

    - Con ngủ bên kỷ luật bị cùm một chân quen rồi, qua đây thiếu cái móng cùm con thấy một chân bị thừa thăi và nhẹ tong. Cứ nằm quơ quơ  trên không hoài không biết để chân đó ở đâu!

     Nghe tôi nói cha Triệu bật cười thành tiếng, quên cả có người đang  nằm ngủ kế bên. Vẫn giữ nụ cười thoải mái và rạng rỡ, vị Linh mục nhạc sĩ nói:

    - Cái chú này! Thiệt t́nh tôi chẳng biết chú ra làm sao!                        

                  

       

Trở về thực tại

 

Tôi ngủ thiếp đi lúc nào không hay. Một giấc ngủ thật say, yên lành và không mộng mị.   

Có tiếng gơ cửa khá to, tôi giật ḿnh choàng dậy, tưởng là đang c̣n trong tù, nghĩ vội:“Chết cha rồi, ḿnh ngủ quên để cán bộ phải vào gọi, chắc là đội đă báo số xuất trại rồi!” Tôi ngồi bật dậy như cái máy, mở mắt ra và ngạc nhiên thấy khung cảnh lạ. Không biết  ḿnh đang ở đâu. Nhưng một giây sau tôi nhận ra thực tại, nên vội tuột xuống giường và bước ra mở cửa pḥng.

Khi vừa đưa tay chạm cái quả nắm bằng sứ trắng tinh trên cánh cửa pḥng khách ở Nhà Chung Hà Nội, tôi cảm thấy lạnh nơi ḷng bàn tay đồng thời với tâm trạng hạnh phúc của con người TỰ DO. Tôi cảm nhận giây phút sung sướng tuyệt vời lúc đó như đang được bay bổng lên chín tầng mây v́ đây là lần đầu tiên sau 13 năm trời tôi được tự tay mở cửa buồng vào buổi sáng sau khi thức dậy.

 Nhớ lại trong thời gian hơn chục năm trong tù, sáng nào tôi cũng nghe tiếng kẻng vang lên ở cổng trại, sau đó là tiếng ch́a khóa khua rổn rẻng cộng với tiếng ḷi tói va chạm vào cửa sắt. Có khi là tiếng rít chói tai của song sắt cài cửa to như cổ tay trẻ em, khi cán bộ hoặc người tù trật tự rút một cách mạnh bạo và hối hả thanh sắt đó ra khỏi các khoen sắt để mở cửa buồng giam.

V́ đă quen nghe âm thanh ấy như một điệu nhạc buồn mỗi buổi sáng nên lúc đó tôi không chú ư nhiều. Bây giờ nhớ lại tôi mới rùng ḿnh ghê rợn. Lúc đó, sau khi cửa buồng giam mở ra, đám tù nhân chúng tôi xếp thành hàng một bước ra cho người ta đếm. Cảnh này giống y như ở một nông trại, mỗi sáng người chủ nông trại đếm lại từng con thú trong bầy súc vật đang từ chuồng chen lấn nhau ra. Cái khác nhau duy nhất là bầy súc vật có khi chạy nhảy vô trật tư, c̣n đám tù chúng tôi th́ đi ngay hàng thẳng lối, đầu cúi gầm xuống. Mới sáng hôm qua đây tôi cũng c̣n sống trong khung cảnh “cúi đầu bước ra” ấy ở trại tù Nam Hà.

Lúc này, khi cách cửa pḥng khách mở ra, tôi thấy bên ngoài ánh nắng ban mai đă chói chang và báo hiệu một ngày đẹp trời. Một thầy pḥng bộ có mái tóc đầu đinh, mặc quần đen, áo sơ mi trắng ngắn tay, bỏ ngoài quần, chân mang săn-đan màu đen, đứng bên ngoài cửa tươi cười: “Chào cha! Chắc hôm qua cha đi đường mệt nên ngủ ngon, con đă gọi cửa khá lâu. Xin lỗi con phải đánh thức cha. Đức Hồng Y mời cha xuống ăn điểm tâm.”

Tôi không kịp nh́n đồng hồ trên tường, vội đáp lại: “Chào thầy...” và lí nhí thêm câu ǵ tôi cũng không nhớ. Nhưng tôi c̣n nhớ là lúc bước vội vào nhà tắm, tôi tự hỏi: “Ông này là Trác hay Trạc đây hả trời?!” 

Mùa Thu Năm Quư Mùi  2003