|
Cuối Chuyện
Đèn đường vẫn hắt nhẹ những
tia sáng yếu ớt vào pḥng.
Tiếng côn trùng rả rích gọi
bạn về khuya. Đâu đây nghe
tiếng gió đưa xào xạc như
nhẹ rơi những cánh lá vàng
không buồn sống. Tôi ngồi
lên, bước tới bật đèn và
nh́n đồng hồ trên tường,
thấy đă gần hai giờ sáng. V́
nằm lâu nhưng không ngủ được
nên thấy người hơi choáng
váng. Tôi đưa hai bàn tay
lên xoa mặt, đan các ngón
tay vào đầu tóc rối bù v́
trăn trở măi trên gối.
Nhà Chung Hà Nội thật êm
ắng. Thỉnh thoảng, vài tiếng
thạch sùng tắc lưỡi t́m mồi
đêm. H́nh ảnh quá khứ cứ
nhảy múa trong đầu. Cái nọ
nối tiếp cái kia, có lúc lại
đan chặt và dính trùm vào
nhau như một vở bi hài kịch
kéo dài. Tôi cảm thấy hơi
nóng đầu như một bộ máy chạy
liên tiếp mấy tiếng đồng hồ
không nghỉ.
Tôi bước vào nhà tắm bật
đèn lên. Nhà tắm và cầu tiêu
chung trong một pḥng lớn,
có lẽ lớn hơn buồng giam bốn
người trong khu kỷ luật trại
Thanh Cẩm một chút, thật
sạch sẽ, tường lát gạch men
bóng láng. Trên tường có 2
cái giá máng khăn, một chiếc
khăn tắm lớn và chiếc khăn
mặt nhỏ được gấp làm tư cẩn
thận. Trên bàn rửa mặt bằng
men trắng kiểu cổ, có ṿi
nước máy và một chiếc khay
nhỏ đựng bàn chải đánh răng,
cây kem nhỏ, cái lược và dao
cạo râu loại rẻ tiền nhưng
mới toanh. Trong lúc đang
dùng phương tiện trong nhà
vệ sinh, tôi chợt mỉm cười
khi nhớ tới hai cái ống bẩu
bằng tre trong buồng kỷ luật
trại Thanh Cẩm!
Sau khi rửa mặt, chải đầu và
lau khô bằng chiếc khăn mặt
thơm mùi bột giặt, tôi đứng
ngắm ḿnh trong gương, mỉm
cười lần nữa. Lần này th́
cười tươi hơn và nghĩ thầm:
“Trông ḿnh cũng chưa đến
nỗi nào!” Mặc dù biết là rửa
mặt xong sẽ rất khó ngủ lại
nhưng lúc đó con người tôi
quá bần thần, như người đang
ốm nên phải rửa mặt mới dễ
chịu được. Và thật vậy, sau
khi rửa mặt, tôi thấy khỏe
khoắn, dễ chịu và tươi mát
ra.
Tôi không trở lại giường
nhưng mở cửa ra hành lang,
đứng tựa lan can nh́n xuống.
Phố xá giờ này đang vắng
tanh. Lâu lắm mới có tiếng
xe máy và bóng vài người đi
xe đạp thoáng qua phố chánh,
nơi mà trưa hôm qua, bộ ba
tướng sĩ tượng chúng tôi bỡ
ngỡ bước vào Nhà Chung này.
Bên kia đường, nơi chiều
qua, các người trẻ tới khiêu
vũ, giờ này không một bóng
người. Tất cả đều trở nên
yên lặng trong đêm tĩnh mịch.
Tờ giấy ra trại
Kể từ lúc cho vào túi tờ
“Giấy Ra Trại” màu nâu rách
mép và làm bằng chất liệu
kém nhất mà tôi mới thấy lần
đầu, cho tới giờ, thời gian
qua đi chưa đầy 24 tiếng.
Lúc vừa bước ra khỏi cơ quan
của trại Nam Hà để đón xe
lên Hà Nội sáng hôm qua, tôi
cứ suy nghĩ vẩn vơ về tờ
“Giấy Ra Trại”, đang nằm sâu
trong túi áo ngực được may
bên trong và cài hai lần kim
băng, lúc nào cũng cồm cộm
trên ngực.
Tôi suy nghĩ măi về sự
tương phản quá lớn lao giữa
h́nh dạng và nội dung của nó.
Khi người cán bộ đặt “Giấy
Ra Trại” trên bàn và bảo kư
tên vào, tôi ngạc nhiên đến
bất lịch sự khi nhận cây bút,
cúi khom người, kéo một hàng
ngoằn ngoèo như con giun vào
chỗ dành cho đương sự kư tên.
Nói rơ hơn là mảnh giấy đó
không đáng để tôi kư tên vào.
Ngay lúc đó, tôi nghĩ ḿnh
như bị xúc phạm khi cơ quan
trại Nam Hà cấp cho tôi một
thứ giấy tờ có giá trị pháp
lư lâu dài mà lại là một tờ
giấy đen thủi đen thui, chất
lượng c̣n kém hơn giấy bao
xi măng và b́a th́ rách nát
như cái răng cưa. Như vậy có
ư ǵ? Chẳng lẽ Nhà nước
không có thể cấp cho tôi một
tờ giấy ra trại bằng chất
liệu thông thường khác hay
sao?
Lúc nhận tờ giấy, tôi cầm
thật nhẹ tay, chỉ sợ vô ư
làm nó rách ra từng mảnh th́
phiền! Tôi đă thầm nghĩ:
Trời! Cuộc đời ḿnh trong 13
năm tù đă đen và rách nát mà
miếng giấy ra trại này nó
c̣n đen và rách nát hơn cả
đời ḿnh! Nhưng tôi mỉm
cười, tự an ủi: Ít ra, nó
cũng có giá trị nhờ các hàng
chữ đánh máy!
Trên đường từ trại Nam Hà
qua phà Phủ Lư rồi lên Hà
Nội, tôi không ghi nhận được
nhiều h́nh ảnh. Lúc đó tâm
trạng tôi c̣n lâng lâng và
khá mệt mỏi nên chỉ nhắm mắt
tựa đầu vào băng ghế xe suốt
quăng đường. Nhưng từ lúc
đặt chân xuống Hà Nội và
nhất là sau khi vào Nhà
Chung Hà Nội, tôi ghi nhận
được nhiều h́nh ảnh và có
nhiều cảm nghĩ. Từ Đức Hồng
y Căn, Đức cha Sang, hai anh
em thầy Trác và thầy Trạc,
Cha Sinh, và các Cha, các
Thầy tôi gặp trong nhà cơm
chiều tối hôm qua. Rồi khung
cảnh Nhà Chung Hà Nội với
lối kiến trúc cổ điển, cộng
với nét sinh hoạt thứ tự lớp
lang từ trên xuống dưới
trong cơ sở này, đều là
những kinh nghiệm lạ đối với
tôi.
Tôi đứng thẳng người, ưỡn
ngực về phía trước và hít
một hơi thật dài và sâu. Làn
không khí trong lành của thủ
đô Hà Nội trong buổi sáng
tinh sương lúc này làm tôi
sảng khoái. Tôi bật thành
tiếng:“Tạ ơn Chúa đă cho con
có làn khí trong lành này để
thở!”
Sau khi nói câu đó, tôi hồi
tưởng lại những đêm mùa hè
trong buồng giam khu kỷ luật
trại Thanh Cẩm. T́nh cảnh
tôi lúc đó chẳng khác ǵ
đang bị cùm trong một cái
thùng sắt kín mít và đang mở
ḷ sưởi ở số cao. Có những
đêm gần chết ngạt v́ không
thể hít vào buồng phổi chất
khí nóng hừng hực đó, không
cách ǵ hơn, chúng tôi phải
gào thét khan cả cổ gọi cán
bộ lên v́ có người gần chết
ngạt. Khi cán bộ mở cửa
buồng ra, làn không khí bên
ngoài ập vào làm tôi sung
sướng và hạnh phúc, tưởng là
trên đời này không c̣n thứ
hạnh phúc nào lớn lao hơn!
Nhưng khi cánh cửa sắt buồng
giam đóng lại rồi, đám tù
nhân khốn khổ trần truồng và
đang bị cùm chân lại phải
trở về t́nh trạng cũ.
Lúc bấy giờ, trong cơn vật
vờ của loài sinh vật đang cố
gắng dùng hết khả năng thích
ứng của cơ thể để bảo tồn sự
sống đó, tôi đă quyết tâm
nếu c̣n sống sót, về sau
này, mỗi lần tôi có thể hít
thở được vào buồng phổi làn
khí trong lành, tôi phải tạ
ơn Chúa v́ hồng ân vĩ đại mà
Ngài ban cho tôi. Tôi cũng
quyết tâm phải chia sẻ kinh
nghiệm này với tất cả mọi
người:“Chúng ta hăy tạ ơn
Chúa v́ hồng ân vĩ đại là
Ngài đă ban cho ta có đủ
không khí trong lành để
thở.”
Tôi biết chắc là có người
sẽ không nghe, không nhớ,
thậm chí có người sẽ mỉm
cười v́ cho rằng tôi đă bất
b́nh thường sau những năm tù
tội kéo dài khi kêu gào nhân
loại phải tạ ơn Chúa về một
chuyện chẳng ra đâu! V́ hít
thở không khí là một việc tự
nhiên và vô thức của cơ thể,
ngay cả lúc ngủ con người
vẫn hô hấp th́ làm ǵ phải
bận tâm? Trong cuộc đời này
c̣n quá nhiều chuyện lớn
khác phải lo, phải nghĩ và
phải tạ ơn khi ḿnh có được.
Tôi sẽ trả lời: “Thưa bạn,
v́ bạn chưa lâm vào cảnh của
tôi nên bạn chưa cảm thấy
làn không khí trong lành quư
báu như tôi cảm nhận”.
Lúc này, đă gần ba giờ sáng
và sau một ngày đi đường vất
vả hôm qua, tôi vẫn chưa
thấy buồn ngủ. Th́ ra, làn
không khí trong lành lúc đó
cộng với tâm trạng trong đêm
đầu tiên được ra khỏi tù và
sau khi đă rửa mặt, chải tóc
và lau mặt bằng chiếc khăn
trắng, sạch và thơm, ba yếu
tố đó cộng lại đă làm tôi
tỉnh hẳn ra. Tôi cảm thấy
yêu đời, yêu cuộc sống này
một cách mănh liệt và quyết
tâm sống quăng thời gian
thần tiên độc nhất vô nhị
của đời ḿnh trong lúc này
thật tích cực. Tôi vẫn biết
là quăng đường trước mặt sẽ
c̣n nhiều thử thách, nhưng
chuyện đó tính sau. Tôi
không muốn những lo âu phiền
muộn chưa xảy ra đó làm giảm
đi cảm giác tuyệt vời tôi
đang được hưởng trong lúc
đứng một ḿnh ở hành lang
bên ngoài pḥng khách của
Nhà Chung Hà Nội này.
Đứng một lúc, tôi thấy mỏi
chân nên vào pḥng nhắc ghế
ra ngồi. Đó là chiếc ghế mây
khá to nhưng rất nhẹ, ḷng
ghế sâu và có chỗ t́ tay hai
bên. Tôi kê ghế sát vào hàng
rào chắn phía trước để khi
ngồi tôi có thể gác chân lên
một trong những thanh của
hàng rào trong một tư thế
thoải mái nhất. Tôi nhẹ
nhàng ngồi xuống ghế trong
tư thế tự do, riêng tư, lười
biếng và bất lịch sự, đầu
ngửa về phía sau tựa hờ lên
thành ghế, hai tay dang
rộng, đôi chân duỗi thẳng
gác lên một thanh của hàng
rào. Trong tư thế đó, tôi
đưa mắt nh́n cảnh vật trước
mắt ẩn hiện cái được cái mất
qua những ánh đèn điện bóng
tṛn của đường phố Hà Nội.
Tôi nh́n một cách bâng quơ
nhưng không chú ư tới một
điểm nào. Tôi muốn tận dụng
phút giây thư giăn tinh thần
trong lúc này sau mấy tiếng
đồng hồ tôi nằm trăn trở
trên giường nhưng không ngủ
được khi những chuyện của
hơn chục năm qua lần lượt
hiện lên trong tâm trí tôi
như một cuốn phim quay chậm.
Trong lúc đang ngồi thoải
mái tựa đầu vào thành ghế,
tôi nhắm mắt lại và tự hỏi:
Quăng đời 13 năm tù và những
kinh nghiệm buồn vui ḿnh đă
trải qua đó có giá trị ǵ
cho bản thân ḿnh và cho
người khác? Tôi ngồi yên và
cố trả lời câu hỏi đó.
Đối với tôi, giai đoạn đó
cho tôi khá nhiều điều hiểu
biết.
Bài học của trường đời
Trước tiên, về phương diện
tôn giáo, trong cảnh khốn
cùng đó, tôi nhận thấy vai
tṛ của một Linh mục thật vô
cùng cần thiết để mang lại
t́nh thương và niềm hy vọng
trong khung cảnh mà hai thứ
giá trị này rất hiếm, nếu
không muốn nói là không có.
Chính t́nh yêu và niềm hy
vọng của chân lư Phúc Âm đă
cho tôi điểm tựa và tôi chia
sẻ hồng ân này với các bạn
tù mà tôi có dịp sống chung.
Tôi nghĩ rằng, trong môi
trường tù ngục đọa đày đó,
tôi đă sống sứ mệnh Linh mục
có nhiều kết quả hơn 6 năm
trước ngày tôi vào tù, và có
lẽ hơn cả những năm về sau
này trong cuộc đời c̣n lại,
mặc dù tôi chưa biết được
cuộc đời rồi sẽ ra sao, ở
đâu và làm ǵ. Hơn nữa, qua
các biến cố xảy ra tưởng
chừng như vô t́nh, nhưng sau
này, tôi nhận ra đó chính là
sự quan pḥng của Thiên
Chúa, và tôi luôn nghĩ rằng,
trong hết mọi hoàn cảnh,
luôn có bàn tay của Thiên
Chúa che chở cuộc đời tôi.
Về con người, trước tiên tôi
khẳng định là không than
phiền hoặc oán trách ǵ
những cán bộ làm việc trong
tù. Tôi biết đa số họ làm
việc v́ cuộc sống và miếng
cơm manh áo. Vai tṛ của một
cán bộ trong tù cũng như bao
nhiêu công việc của người
dân khác đang làm nơi các cơ
quan, nhà máy, xí nghiệp
khác. Đôi lúc, có vài cán bộ
v́ bản chất hung ác và được
huấn luyện để phục vụ cho bộ
máy kềm kẹp của đảng, làm
cho cảnh sống tù đày chúng
tôi khốn khổ, ngược lại,
cũng có những cán bộ sống
thân t́nh và biểu lộ ḷng
nhân đạo một cách rất cảm
động.
Vào thời gian cuối cùng
trước khi được tha về, tôi
đă có dịp tiếp xúc thân mật
hơn với nhiều cán bộ và tôi
thấy họ là những người đáng
thương hơn là đáng trách. Có
người c̣n để lại trong ḷng
tôi sự quư mến và biết ơn
sâu xa. Do đó, tôi không hề
oán trách bất cứ một cán bộ
nào tôi đă gặp trong suốt 13
năm tù, ngay cả những cán bộ
đă từng chửi mắng, đánh đập
hành hạ tôi cách này cách
khác. Tôi cũng không hề oán
trách những anh em tù đă
ngược đăi và v́ sự nhẹ dạ đă
hăm hại tôi.
Điều đáng nói chính là chủ
trương trong chế độ lao tù
cộng sản. Chúng tôi vào tù
với cái tên rất đẹp là “ Tập
trung Cải tạo” kèm theo lời
hứa “Chừng nào cải tạo tốt
th́ về!”. Và như vậy, chúng
tôi bị tước đoạt quyền hy
vọng là lư do sống của con
người. Câu nói‘‘chừng nào
cải tạo tốt th́ về” đó, đă
ngầm khuyến khích sự chia rẽ
và phản bội nhau trong số tù
chính trị miền Nam. Nói về
tâm trạng tuyệt vọng lúc đó,
sau khi vào tù, tôi nhớ lại
có lần đọc ở đâu mấy câu thơ
của thi sĩ Dante người Ư, tả
cảnh địa ngục, tạm dịch như
sau:
Trên ngưỡng cửa
địa ngục có khắc câu này:
“Hỡi những kẻ sắp bước vào
đây
Hăy để niềm Hy Vọng lại bên
ngoài!”
Sống trong t́nh trạng tù mù
đó, tôi luôn nghĩ , nếu bị
kêu án 5 năm, 10 năm hoặc 20
năm hay lâu hơn nữa, tôi vẫn
vui hơn v́ ít ra c̣n có một
cái mốc thời gian để hy
vọng. Đàng này không ai thực
sự biết được số phận của
ḿnh ra sao! Không c̣n ǵ
khốn khổ hơn tâm trạng của
một con người sống trong
tuyệt vọng!
Cái kiểu treo củ cà rốt
trước mơm con lừa đang kéo
xe bằng luận điệu:‘‘Các anh
đang chơi bóng đá và đang ở
gần cuối của hiệp hai rồi,
chỉ c̣n mấy phút cuối cùng
nữa là có tiếng c̣i tan trận
đấu! Cố gắng lên!” Chúng
tôi nghe đến nhàm tai cách
nói đó của cán bộ giảng huấn
khắp các nơi, và các “trận
bóng đá” này trại nào cũng
có! Nhưng khổ nỗi, mấy phút
cuối cùng của trận đấu lại
là thời giờ bằng dây thun
chất liệu tốt, có thể kéo
giăn ra đến vô tận!
Trong hoàn cảnh đó, lời hứa
mù mờ “cải tạo tốt được về”
đă thành cơn cám dỗ cho một
số người nhẹ dạ cố gắng cải
tạo tốt. Có vài người c̣n
muốn cải tạo “thật tốt!” Mà
cách tốt nhất là quên đi
ḿnh là ai, quên đi những
người đang mặc bộ đồng phục
tù như ḿnh là ai, để rồi
phản bội lại chính ḿnh và
phản bội anh em đồng cảnh.
Lời hứa mù mờ đó, theo tôi,
là chủ trương thâm độc nhất
của chế độ nhà tù cộng sản.
Nó đă hành hạ tâm trí chúng
tôi và đă gây ra bao nhiêu
tác hại, khiến những con
người khờ khạo tin vào lời
hứa đó để hăm hại chính anh
em ḿnh.
Và như tôi đă nói, sự đau
thương và nhục nhă mà tôi đă
phải chịu 13 năm trong ngục
tù cộng sản, không phải là
cực h́nh trên thân xác như
sự hành hạ, cùm kẹp, đánh
đập đói khát, trần truồng,
chết ngạt, chửi mắng...như
tôi đă nhớ lại, nhưng là
t́nh trạng tuyệt vọng và
nhất là khi phải chứng kiến
và chịu đựng sự phản bội của
một vài người trong số tù
chính trị miền Nam.
Cũng từ kinh nghiệm đó cho
tôi hiểu biết hơn về ḷng dạ
con người. Khi con người lâm
vào cảnh túng cùng và không
c̣n được che giấu dưới những
bộ y phục, những huy hiệu,
cấp bậc, chức vụ trước kia,
họ đă lộ nguyên h́nh là
những con người. Khi con
người sống chen chúc nhau
trong cảnh khốn cùng, đói
khát và tuyệt vọng trong
thời gian dài hơn chục năm
trời, đă cho tôi rút được
bài học đắng cay sau
đây:“Ḷng nhân đạo của con
người có giới hạn, nhưng sự
ác độc của loài người th́ vô
tận, nhất là khi sự ác độc
đó được dung dưỡng bởi hoàn
cảnh xấu xa.”
Dân Tộc Việt Nam của tôi
Thời gian dài, nhất là 3 năm
lăn lộn trong đáy địa ngục
khu kỷ luật trại Thanh Cẩm,
đă cho tôi cơ sở để nói rằng
trong mỗi con người đều có
phần THIỆN và phần ÁC ngang
ngửa nhau, và tùy thuộc vào
môi trường sống mà phát
triển. Nếu con người được
sống trong một môi trường
đạo đức và luật pháp được
tôn trọng th́ phần THIỆN sẽ
phát triển và đè bẹp phần
ÁC. Ngược lại, nếu con người
rơi vào hoàn cảnh xấu xa,
hận thù và không luật lệ th́
phần ÁC sẽ ngoi lên và ngự
trị.
Trong tù, tôi đă chứng kiến
và chịu đựng những hành
động ác độc của một số cán
bộ và những người tù phản
bội. Tôi biết một phần cũng
do bản chất tàn bạo của họ,
nhưng nếu không có sự dung
dưỡng và khuyến khích của
chế độ th́ các việc đó đă
không xảy ra, hoặc nếu có
xảy ra, cũng không đi tới
chỗ quá tàn nhẫn như thế. Từ
nhận xét đó, tôi kết luận:
“Không bao giờ oán trách con
người, không bao giờ thù hận
con người, không bao giờ
tiêu diệt con người nhưng
bằng mọi giá phải loại bỏ
bất cứ chế độ xấu xa nào đă
khuyến khích và dung dưỡng
sự hận thù giữa người với
người, và thay vào đó một xă
hội lành mạnh để con người
được phát triển phần LƯƠNG
THIỆN của ḿnh.”
Những năm tù cũng cho tôi có
dịp chia sẻ và sống với nỗi
đau thương chung của Dân tộc
mà nếu không trải qua kinh
nghiệm đó, có lẽ tôi không
biết hoặc biết rất hời hợt
về số phận đau thương của
đồng bào Việt Nam. Qua đó,
tôi thương và gắn bó với
Dân tộc tôi nhiều hơn.
Tôi cũng nghĩ rằng, sau này,
tôi có bổn phận phải chia sẻ
kinh nghiệm của đời tôi với
nhiều đồng bào của tôi, nhất
là với thế hệ trẻ Việt Nam
là những người không bị ảnh
hưởng bởi cuộc chiến tranh
tương tàn do ư thức hệ gây
ra.
Tôi muốn gửi lại cho thế hệ
mai sau một lời tâm huyết là
đừng bao giờ mê muội v́ một
chủ thuyết ngoại lai nào mà
quên đi t́nh Dân Tộc, để rồi
cảnh nồi da xáo thịt lại tái
diễn. Thể chế chính trị nào
rồi cũng sẽ qua đi, triều
đại nào rồi cũng sẽ sụp đổ,
chỉ có Dân Tộc là trường
tồn. Lịch sử đă chứng minh,
chế độ nào càng tàn ác, càng
bạo ngược bao nhiêu th́ càng
mau sụp đổ bấy nhiêu. Không
một chế độ nào dùng họng
súng và nhà tù để cai trị mà
vững bền được, chỉ có ḷng
nhân mới cảm hóa được con
người.
Tôi vẫn biết là trên quê
hương tôi tiếng súng đă im
từ nhiều năm qua, nhưng
trong ḷng người dân Việt
Nam, cuộc chiến vẫn chưa
tàn, và cuộc chiến đó càng
kéo dài bao nhiêu th́ càng
tác hại cho Dân Tộc tôi bấy
nhiêu.
Cuộc chiến chưa tàn
Bên cạnh đó, tôi biết những
hệ lụy của một cuộc chiến
tương tàn kéo dài mấy chục
năm trên quê hương và đă
giết hại và làm khổ hàng
triệu đồng bào ở cả hai miền
Nam Bắc như là một vết
thương c̣n đang chảy máu,
khó mà có thể quên ngay
được. Tôi vẫn biết sự căm
tức và ḷng hận thù nhau
giữa những người Việt Nam bị
lôi kéo vào cuộc chiến tương
tàn ấy, c̣n đang cao ngút
trời, khó mà có thể kêu gọi
sự tha thứ ngay được.
Tôi kính trọng và cầu nguyện
cho những người đă chết
trong cuộc chiến tại Việt
Nam. Tôi cảm thông nỗi khổ
đau và căm hờn của tất cả
những nạn nhân cả hai bên
trong cuộc chiến. Tôi cảm
thương cho số phận của những
thương phế binh của cả hai
bên trong cuộc chiến, đang
phải kéo lê quăng đời c̣n
lại trong cảnh tật nguyền,
thiếu thốn và bị lăng quên.
Tôi chia sẻ sự đau thương
tủi hờn của các bạn tù chính
trị của tôi trong các trại
tù mang tính chất trả thù và
tiêu diệt mang tên“trại cải
tạo” của chế độ cộng sản sau
khi quê hương đă im tiếng
súng.
Chính bản thân tôi là một
chứng nhân và cũng là một
nạn nhân c̣n sống sót của
chế độ lao tù đó. Tôi đă lăn
lộn trong một giai đoạn đen
tối của lịch sử. Trong đó,
sự ác độc của con người được
dung dưỡng và khuyến khích,
và đă có những con người
hành động ác độc hơn loài
ác thú thả lỏng dây cương.
Có lúc, sự tàn ác của người
đối với người đă vượt quá sự
tưởng tượng và khả năng chịu
đựng của con người.
Chính tôi, mặc dù là một
Linh mục, tôi đă có lần phải
buông ra những lời nguyền
rủa gớm ghê, độc ác nhất mà
lúc b́nh thường tôi không
bao giờ dám nghĩ tới. Đó là
một thực tế đau ḷng đă và
có thể là c̣n đang xảy ra
trên quê hương tôi, giữa
những người Việt Nam với
nhau.
Một câu hỏi được đặt ra cho
tất cả mọi người Việt Nam,
sau khi quê hương đă im
tiếng súng, và mỗi người bắt
buộc phải có một câu trả lời
:
“ Đứng trước t́nh cảnh của
Dân Tộc Việt Nam như thế,
bạn phải làm ǵ, và làm như
thế nào?”
Câu hỏi này được đặt ra cho
tất cả mọi người Việt Nam,
không phân biệt đang sống
trong nước hay ở hải ngoại,
không phân biệt đang ở vị
thế cầm quyền hay là người
dân b́nh thường, không phân
biệt thuộc về phía nào trong
cuộc chiến trước kia, không
phân biệt là kẻ đă gây ra
tội ác hay là nạn nhân của
những tội ác do kẻ khác gây
ra.
Can Đảm và Khoan Dung
Chúng ta biết rằng Dân Tộc
bị lôi cuốn vào một cuộc
chiến tương tàn vượt ra
ngoài sự kiểm soát của ḿnh.
Toàn thể dân tộc Việt Nam là
nạn nhân của một tṛ chơi
chính trị lớn. Khi hai miền
Nam Bắc đă bị những thế lực
ngoại bang dẫn đưa vào cuộc
chiến rồi, lúc đó, dù có
muốn dừng tay lại cũng không
dừng được. Như thế, toàn thể
dân tộc Việt Nam là những
nạn nhân, là những người
thua cuộc.
Đây là lúc người Việt Nam
phải có can đảm đặt vấn đề
một cách thẳng thắn và t́m
phương cách giải quyết vấn
đề trong tinh thần hiểu biết
và thái độ bao dung như thế
mới mong thoát ra khỏi sự
ràng buộc của dây hận thù
oan trái đang trói chặt thân
thể Dân Tộc do hậu quả của
bao năm chiến tranh tương
tàn để lại.
Trong cuộc chiến không có
tiếng súng này, dân tộc Việt
Nam không c̣n chiến đấu v́
một chế độ này hay chế độ
khác. Không chiến đấu để
khôi phục lại một chế độ vừa
sụp đổ, cũng không chiến đấu
để cố bảo vệ chế độ độc tài
thối nát đang ngự trị trên
quê hương. Đây phải là cuộc
chiến của lương tri con
người để chọn cái Đúng và
loại bỏ cái Sai, để chọn cái
Thiện và loại bỏ cái Ác cho
con đường Dân Tộc phải đi.
Kẻ thù của dân tộc Việt Nam
lúc này không c̣n phải là
những con người đă đứng bên
này hay bên kia chiến tuyến
trong quá khứ, nhưng là bất
cứ thể chế chính trị nào
cướp đi quyền lợi tự nhiên
của những thành phần Dân Tộc
khác. Đă đến lúc lương tri
tổng hợp của dân tộc Việt
Nam phải nhận diện và loại
bỏ bất cứ một chế độ bất
nhân nào, cho dù là mang tên
tuổi ǵ, chủ nghĩa ǵ mà
trong đó các quyền sống căn
bản của người dân bị những
kẻ nắm quyền cướp đoạt. Một
chế độ chính trị không phải
tốt hay xấu v́ tên gọi của
nó, nhưng tốt hay xấu là do
đường lối, chính sách, và
cách hành xử của những kẻ
cầm quyền.
Đây là một vấn đề khó khăn
nhưng là vấn đề sống c̣n cho
tương lai dân tộc Việt Nam.
Không phải v́ vấn đề quá lớn
hoặc cảm thấy khó khăn mà
chúng ta không muốn hoặc
không có can đảm t́m một
giải pháp cho vấn đề. Theo
tôi nghĩ, không có một vấn
đề ǵ mà chúng ta không thể
giải quyết được trừ ra việc
chúng ta không muốn giải
quyết vấn đề.
Ngày nay xă hội Việt Nam sau
một thời gian im tiếng súng
giống như bề mặt của một đại
dương chỉ hơi gợn sóng lăn
tăn. Trong thực tế dưới đáy
đại dương đó, đang có những
đợt sóng ngầm chỉ chờ cơ hội
bộc phát. Những đợt sóng
ngầm này là kết tinh của bao
nhiêu bất công, chém giết,
cướp đoạt tài sản, hận thù,
oan nghiệt đang tích lũy
trong ḷng dân tộc. Nhất là
qua cảnh bất công gây ra bởi
những kẻ đang nắm quyền. Họ
tự coi là chủ nhân ông và
giữ độc quyền lănh đạo đất
nước. Họ cấu kết nhau trong
đồng phục đă nhạt màu của
một chủ nghĩa ngoại lai để
vơ vét tài sản của Dân Tộc.
Họ đè đầu cỡi cổ thành phần
thất thế và hút máu thành
phần dân tộc khác qua nạn
tham nhũng công khai và có
hệ thống.
Những đợt sóng ngầm đó phải
được loại ra khỏi ḷng đại
dương dân tộc Việt Nam càng
sớm càng tốt. V́ càng kéo
dài nó càng tích lũy sức tàn
phá tinh thần dân tộc. Tôi
có thể khẳng định là dần dần
sẽ có những con người đang
nằm trong guồng máy cai trị
nói lên tiếng nói của lương
tri. Có lúc họ sẽ thức tỉnh
trước sự sai trái về con
đường có hại cho Dân Tộc mà
họ đă đi.
Tôi đă có dịp nghe được
những tâm tư thầm kín này
nơi một số cán bộ trong nhà
tù trong thời gian cuối cùng
trước khi tôi được tha về.
Tôi biết hiện tượng này rất
phổ biến và đang dày ḍ tâm
can của một số người đang
nằm trong bộ máy cầm quyền
nhưng chưa tới lúc thuận
tiện để họ có thể bày tỏ
công khai. Khi hoàn cảnh cho
phép để họ bày tỏ sự thức
tỉnh, lúc đó họ là những
người đáng quư và đáng kính
trọng cho dù trước kia và
ngay trong hiện tại họ đă ở
đâu và làm ǵ. Họ sẽ là
những người trong vị trí
thuận lợi để đóng góp cho sự
nghiệp tranh đấu cho cái
THIỆN và loại bỏ cái ÁC ra
khỏi chế độ cầm quyền.
Khi nguồn sức mạnh của ư
chí quật cường và lương tri
tổng hợp của dân tộc được
khơi dậy sẽ không có một thế
lực chính trị nào cho dù bạo
ngược tới đâu có thể cưỡng
lại được. Trong khi đó,
những kẻ thù của Dân Tộc
không mừng ǵ hơn là có
những người lúc nào cũng chỉ
gầm gừ chực loại nhau trong
một bài toán không có đáp số
và họ được rảnh tay để ngang
nhiên tự tại nắm quyền. Theo
tôi, chừng nào mà những
người trong cuộc chiến trước
kia biết nhận ra nhau, hiểu
biết nhau và hợp tác nhau
trong cuộc chiến tranh đấu
cho cái THIỆN của dân tộc,
chừng đó mới có thể nói tới
việc đưa dân tộc Việt Nam
chúng ta tới một tương lai
tươi sáng.
Lúc đang đắm ch́m trong suy
tư về vấn đề này, tự nhiên
tôi nhớ lại một câu chuyện
đă nghe khá lâu, c̣n nhớ
măi. Năm 1966, khi tôi đang
học năm Thần học thứ nhất
tại Đại chủng viện Sài G̣n,
có lần Linh mục Gérard
Gagnon vào thăm và nói
chuyện với tất cả chủng
sinh. Cha Gagnon là Linh mục
Ḍng Chúa Cứu Thế, người
Canada, đă sống ở Việt Nam
trên 30 năm nên nói tiếng
Việt lưu loát. Trong lần nói
chuyện đó, ngài có kể lại
câu chuyện, trong một lần
ngài cỡi xe mô-tô từ Đà Lạt
về Sài G̣n, tới khúc đường
vắng, bị Việt cộng chặn lại,
bắt dẫn vào rừng tuyên
truyền. Cảnh Việt cộng chặn
xe, bắt người vào rừng để
tuyên truyền là chuyện
thường xuyên lúc bấy giờ. V́
biết ngài là Linh mục nên
người cán bộ tuyên truyền
hỏi:
- Anh nghĩ thế nào, Đạo
Công Giáo của anh đă hoạt
động gần hai ngàn năm rồi mà
mới được mấy trăm triệu tín
đồ, c̣n chủ thuyết cộng sản
mới ra đời có 50 năm mà đă
chiếm một phần ba nhân loại.
Như thế, giữa đạo của anh và
chủ thuyết cộng sản cái nào
hay hơn?
Cha Gagnon trả lời:
-Tôi cũng không biết,
nhưng phải đợi chủ thuyết
cộng sản được gần hai ngàn
tuổi như đạo Công Giáo, lúc
bấy giờ tôi mới trả lời anh
được!
Câu chuyện cha Gagnon
kể tuy đă 20 năm rồi nhưng
tôi c̣n nhớ rất rơ, v́ tôi
thích câu trả lời đầy ư nhị
của ngài.
Trong khi ngồi nghĩ miên
man, lúc đó tôi quyết định
khi nào thuận tiện tôi sẽ
ghi lại chi tiết những ǵ đă
xảy ra trong tù và những suy
tư của tôi qua những biến cố
đó. Nếu tôi có ghi lại,
không phải để than oán cuộc
đời, cũng không phải để
trách cứ con người. Tôi muốn
chia sẻ kinh nghiệm của tôi
với nhiều người.
Tôi cũng muốn viết để bày tỏ
ḷng biết ơn những tâm hồn
cao thượng trong số những
anh em đồng cảnh và cả một
vài cán bộ mà tôi đă gặp
được trong tù. Tôi cũng viết
để tưởng nhớ những người đă
cùng sống với tôi và đă chết
trong tù.
Nhưng quan trọng hơn cả là
tôi muốn ghi lại như một
bài học của lịch sử, gửi tới
đồng bào Việt Nam mà tôi yêu
mến, nhất là những người
trong thế hệ trẻ, không phân
biệt Nam hay Bắc, không phân
biệt đang sống trong nước
hay ở hải ngoại, không phân
biệt tôn giáo, không phân
biệt bây giờ và trước kia
thuộc về thể chế chính trị
nào, không phân biệt đă từng
đứng về phía nào trong cuộc
chiến tương tàn trên quê
hương, không phân biệt là
nạn nhân hay là tác nhân đă
gây nên nỗi khổ cho các nạn
nhân, những lời tâm huyết
sau đây:
Đồng bào Việt Nam thương
mến,
Máu dân tộc Việt Nam đổ ra
đă đủ rồi
Vết tích đau thương c̣n lưu
lại trên thân thể trong cuộc
đời c̣n lại và trong tâm hồn
của những thương phế binh
của cả hai bên trong cuộc
chiến tương tàn đă gây đau
khổ đủ rồi .
Nỗi đau thương của người dân
vô tội Việt Nam đă quá nhiều
rồi.
Cơn điên loạn v́ tôn thờ chủ
nghĩa ngoại lai đă giết hại
đồng bào đủ rồi.
Bom đạn của ngoại bang đă
cày xé nát thân thể Mẹ Việt
Nam quá nhiều rồi.
Sự nghi ngại nhau giữa các
thành phần dân tộc, giữa các
tôn giáo đă từng tác hại cho
t́nh đoàn kết dân tộc đă quá
nhiều rồi.
Ḷng hận thù và ḷng tham
lam vô độ của những kẻ có
thế lực qua các thời đại như
con thú dữ thả lỏng dây
cương, đă hoành hành và hăm
hại thành phần thất thế và
không có tiếng nói trong dân
tộc đủ rồi. Hăy nhớ rằng thể
chế chính trị nào rồi cũng
sẽ qua đi, chỉ có Dân Tộc là
trường tồn.”
Hăy để những dị biệt của quá
khứ lại phía sau và cùng
nhau xây dựng một tương lai
sáng lạng cho Dân Tộc trong
một xă hội Tự Do, Công Bằng
và Phát Triển.
Và chủ yếu là tôi muốn gửi
tâm t́nh thiết tha sau đây
tới thế hệ trẻ Việt Nam
Các
bạn trong thế hệ trẻ thương
mến,
Dân tộc chúng ta đă trải
qua một giai đoạn u buồn đầy
máu và nước mắt. Những người
trong thế hệ trước, mặc dù
có nhiều cố gắng nhưng chưa
mang lại được t́nh thương và
sự đoàn kết dân tộc. Tôi ước
mong điều đó sẽ thành tựu
trong thế hệ của các bạn.
Xin các bạn đừng để cho
những biến cố đau thương của
lịch sử trói buộc ḿnh, hăy
dùng lịch sử như một bài học
để có thể tránh tái diễn
thảm cảnh cho dân tộc.
Hăy để cho những người chết
được nghỉ yên. Hăy kính
những anh hùng nhưng không
sống v́ ho. Lịch sử dân tộc
là một cuộc hành tŕnh tiếp
diễn và mỗi thời đại sẽ sinh
ra những anh hùng dân tộc
mới. Theo tôi nghĩ, những
anh hùng dân tộc thực sự là
những người có can đảm vượt
ra ngoài sự ràng buộc của
quá khứ để hướng về tương
lai với sự hiểu biết và
khoan dung.
Đừng ngồi đó để ngâm nga
lịch sử hay than van oán
trách con người, nhưng hăy
dùng lịch sử như ngọn đèn
soi sáng con đường dân tộc
ta phải đi.
Khi nh́n lại giai đoạn lịch
sử cận đại, tôi thấy cuộc
chiến tương tàn đầy máu và
nước mắt kéo dài mấy mươi
năm trên quê hương chúng ta,
cuối cùng đă im tiếng súng.
Nhưng trong ḷng dân tộc
Việt Nam, cuộc chiến vẫn
chưa tàn. Điều thật trớ trêu
là cuộc chiến đó không có
kẻ thắng mà chỉ có những
người thua, và những người
thua cuộc đó chính là DÂN
TỘC VIỆT NAM. Hăy để cho
bóng tối đi qua và cùng nhau
hướng về nguồn ánh sáng của
B̀NH MINH DÂN TỘC trong cuộc
sống Công Bằng, Tự Do và
Phát Triển.
Tôi ngồi trên ghế, gục đầu
yên lặng khá lâu để cầu
nguyện theo ư hướng đó.
Bước vào tương lai vô định
Một lúc sau, tôi cảm thấy
lạnh và nghĩ là tốt hơn nên
vào pḥng cố gắng ngủ một
chút sau một ngày đi đường
mệt nhọc. Vả lại, sáng ngày
c̣n nhiều việc khác để làm.
Tôi tính việc đầu tiên trong
ngày là phải t́m đến làng
Bưởi để ḍ hỏi tin tức về
B́nh Thanh mà sáu năm qua
tôi không nghe biết tin tức
ǵ. Tôi quay vào pḥng, đóng
cửa lại và leo lên giường
ngồi đọc kinh. Đọc kinh xong
tôi nằm xuống, quyết tâm sẽ
dỗ giấc ngủ bằng câu
nói:“Quên hết mọi chuyện!
Phải ngủ cho khỏe để mai c̣n
đi. Đừng có như cái đêm vừa
được ra khỏi nhà kỷ luật!”
Vừa liên tưởng tới cái đêm
được ra khỏi nhà kỷ luật ở
trại Thanh Cẩm sáu năm về
trước, đầu óc tôi lại căng
thẳng và suy nghĩ.
Tôi nhớ lại đêm hôm đó vừa
được chuyển từ kỷ luật qua
khu kiên giam sống với một
số Linh mục khác. Đêm đó,
mọi người trong buồng ngủ
say, nhưng sao tôi cứ trằn
trọc măi không ngủ được. Tôi
nằm trăn trở từ bên này qua
bên kia để cố dỗ giấc ngủ
nhưng không tài nào chợp
mắt. Khổ hơn nữa, khi phải
nằm nghe tiếng ngáy đều của
anh em trong buồng.
Tôi khó ngủ có lẽ v́ nhiều
lư do. Một phần v́ tâm trạng
người tù được tha cùm sau
gần ba năm trong kỷ luật,
tôi nằm tính lại đúng 1020
ngày đêm! Một phần nhớ em
tôi là tướng cướp B́nh Thanh
ở chung buồng kỷ luật mà tôi
vừa từ giă ra đi. Phần nữa,
tôi cảm thấy thiếu một thứ
ǵ đó rất quen thuộc. Chừng
nhớ ra mới biết là thiếu cái
móng cùm ngoạm vào cổ chân.
Th́ ra trong 1020 đêm liên
tiếp đó, đêm nào tôi cũng đi
ngủ với một chân xỏ vào cùm,
và đêm nay cả hai chân nằm
ngoài. Thừa một chân, tự
nhiên sao cảm thấy nó vướng
víu kỳ dị!
Tới quá nửa đêm vẫn chưa
chợp mắt, tôi ḷ ṃ xuống
ngồi ở lối đi trong buồng,
hút thuốc lào. Nghe tiếng
động, cha Lê Đức Triệu, tức
nhạc sĩ Hoài Đức, cũng thức
giấc và bước xuống ngồi hút
thuốc với tôi. Cha Triệu mà
tôi gọi là Bố Triệu, là tác
giả bài Thánh ca Giáng Sinh
“Cao Cung Lên” rất phổ biến.
Người cao và gầy ốm, tướng
đi khoan thai đĩnh đạc, bộ
râu cằm không nhiều nhưng
khá dài. Nh́n qua phong
thái, cha giống như một tiên
ông đạo cốt trong truyện
tàu.
Trước đó, cha Triệu đă giúp
phổ nhạc cho bài thơ tôi làm
sau khi vào tù một năm. Tôi
cũng chẳng biết người Linh
mục nhạc sĩ này thực sự có
hứng, hay v́ nể nang trước
lời tôi yêu cầu, mà phổ nhạc
bài thơ lục bát 12 câu tôi
soạn, có tựa đề khá trữ
t́nh: “Đếm hạt mưa rơi!”,
như sau:
Pḥng giam vắng
lạnh về đêm,
Ngoài trời mưa đổ tăng thêm
nỗi sầu.
Xa người xa đă bấy lâu
Đêm nay gởi nhớ thương sầu
về ai?
Nhớ ai tôi nhớ đêm ngày,
Bao đêm thức trắng đắng cay
mỏi ṃn.
Nhạc buồn tiếng dế nỉ non!
Dế ơi! Không ngủ dế c̣n gọi
ai?
Hay ḷng dế cũng đắng cay,
Thương vay khóc mướn cho hai
cuộc đời?
Lặng nh́n đếm hạt mưa rơi,
Bao nhiêu giọt nước bấy lời
nhớ thương!”
Tôi không biết
làm thơ và cũng chưa bao giờ
làm thơ cả, mặc dù tôi rất
thích thơ. Đêm đó, vào năm
1977, một ḿnh trong xà lim
trại Phan Đăng Lưu buồn quá,
nh́n ra ngoài qua cái lỗ vừa
đút lọt cái ca đựng nước
trên cửa sắt buồng giam, bên
ngoài lại mưa rỉ rả. Tôi bèn
thử thời vận, đánh bạo ê a
vài câu thơ đó, và cố nhớ
trong ḷng.
Tôi chẳng biết nó
có đúng niêm đúng luật ǵ
hay không. Nếu quư vị nào
thấy mấy câu thơ đó kỳ quá,
xin cứ xé bỏ trang sách này
cho tôi đỡ ngượng. Dù vậy,
tôi cũng xin sự rộng lượng
của độc giả, v́ bài thơ con
cóc này là bài thơ duy nhất
tôi sáng tác trong 13 năm
tù, và đúng hơn là trong cả
đời tôi, ít ra là cho tới
lúc này.
Cha Triệu vui vẻ hỏi
thật nhỏ:
- Chú Lễ chưa ngủ à?
Tôi trả lời:
- Sao đêm nay con khó
ngủ quá bố Triệu ơi! Cứ nằm
lăn lộn trở trăn hoài!
Cha Triệu vê bi thuốc
lào vào nơ điếu, hỏi:
- Sao khó ngủ? Bộ nóng
lắm hả?
- Không phải đâu bố,
pḥng này mát hơn bên kỷ
luật nhiều!
Bố Triệu ngửa mặt lên
trời, nhả khói xong hỏi:
- Thế sao không ngủ
được?
- Con ngủ bên kỷ luật bị
cùm một chân quen rồi, qua
đây thiếu cái móng cùm con
thấy một chân bị thừa thăi
và nhẹ tong. Cứ nằm quơ quơ
trên không hoài không biết
để chân đó ở đâu!
Nghe tôi nói cha Triệu
bật cười thành tiếng, quên
cả có người đang nằm ngủ kế
bên. Vẫn giữ nụ cười thoải
mái và rạng rỡ, vị Linh mục
nhạc sĩ nói:
- Cái chú này! Thiệt
t́nh tôi chẳng biết chú ra
làm sao!
Trở về thực tại
Tôi ngủ thiếp đi lúc nào
không hay. Một giấc ngủ thật
say, yên lành và không mộng
mị.
Có tiếng gơ cửa khá to, tôi
giật ḿnh choàng dậy, tưởng
là đang c̣n trong tù, nghĩ
vội:“Chết cha rồi, ḿnh ngủ
quên để cán bộ phải vào gọi,
chắc là đội đă báo số xuất
trại rồi!” Tôi ngồi bật dậy
như cái máy, mở mắt ra và
ngạc nhiên thấy khung cảnh
lạ. Không biết ḿnh đang ở
đâu. Nhưng một giây sau tôi
nhận ra thực tại, nên vội
tuột xuống giường và bước ra
mở cửa pḥng.
Khi vừa đưa tay chạm cái quả
nắm bằng sứ trắng tinh trên
cánh cửa pḥng khách ở Nhà
Chung Hà Nội, tôi cảm thấy
lạnh nơi ḷng bàn tay đồng
thời với tâm trạng hạnh phúc
của con người TỰ DO. Tôi cảm
nhận giây phút sung sướng
tuyệt vời lúc đó như đang
được bay bổng lên chín tầng
mây v́ đây là lần đầu tiên
sau 13 năm trời tôi được tự
tay mở cửa buồng vào buổi
sáng sau khi thức dậy.
Nhớ lại trong thời gian hơn
chục năm trong tù, sáng nào
tôi cũng nghe tiếng kẻng
vang lên ở cổng trại, sau đó
là tiếng ch́a khóa khua rổn
rẻng cộng với tiếng ḷi tói
va chạm vào cửa sắt. Có khi
là tiếng rít chói tai của
song sắt cài cửa to như cổ
tay trẻ em, khi cán bộ hoặc
người tù trật tự rút một
cách mạnh bạo và hối hả
thanh sắt đó ra khỏi các
khoen sắt để mở cửa buồng
giam.
V́ đă quen nghe âm thanh ấy
như một điệu nhạc buồn mỗi
buổi sáng nên lúc đó tôi
không chú ư nhiều. Bây giờ
nhớ lại tôi mới rùng ḿnh
ghê rợn. Lúc đó, sau khi cửa
buồng giam mở ra, đám tù
nhân chúng tôi xếp thành
hàng một bước ra cho người
ta đếm. Cảnh này giống y như
ở một nông trại, mỗi sáng
người chủ nông trại đếm lại
từng con thú trong bầy súc
vật đang từ chuồng chen lấn
nhau ra. Cái khác nhau duy
nhất là bầy súc vật có khi
chạy nhảy vô trật tư, c̣n
đám tù chúng tôi th́ đi ngay
hàng thẳng lối, đầu cúi gầm
xuống. Mới sáng hôm qua đây
tôi cũng c̣n sống trong
khung cảnh “cúi đầu bước ra”
ấy ở trại tù Nam Hà.
Lúc này, khi cách cửa pḥng
khách mở ra, tôi thấy bên
ngoài ánh nắng ban mai đă
chói chang và báo hiệu một
ngày đẹp trời. Một thầy
pḥng bộ có mái tóc đầu
đinh, mặc quần đen, áo sơ mi
trắng ngắn tay, bỏ ngoài
quần, chân mang săn-đan màu
đen, đứng bên ngoài cửa tươi
cười: “Chào cha! Chắc hôm
qua cha đi đường mệt nên ngủ
ngon, con đă gọi cửa khá
lâu. Xin lỗi con phải đánh
thức cha. Đức Hồng Y mời cha
xuống ăn điểm tâm.”
Tôi không kịp nh́n đồng hồ
trên tường, vội đáp lại:
“Chào thầy...” và lí nhí
thêm câu ǵ tôi cũng không
nhớ. Nhưng tôi c̣n nhớ là
lúc bước vội vào nhà tắm,
tôi tự hỏi: “Ông này là Trác
hay Trạc đây hả trời?!”
Mùa Thu Năm Quư Mùi 2003 |