Giới Thiệu Tác Phẩm - Sản Phẩm

 

The Tragedy of the Vietnam War   (5)
 

MỘT SỐ Ư KIẾN ĐÓNG GÓP SAU KHI ĐỌC CUỐN

THE TRAGEDY OF THE VIETNAM WAR CỦA VĂN NGUYỄN DƯỠNG
 

Cung Trầm Tưởng

 

12 - Song song với “ngày cay đắng cuối cùng” trên của QLVNCH là một chuỗi những phản ứng dây chuyền về chính trị và ngoại giao của Hoa Kỳ mà hậu quả là một thứ đầu hàng uỷ nhiệm cho VNCH phải gánh hộ cho ḿnh,

Ngày 1/4/1975, văn pḥng DAO được lệnh tiến hành kế hoạch di tản sang Mỹ khoảng 35.000 người Việt Nam có liên hệ mật thiết với Mỹ trong cuộc chiến. Do t́nh h́nh thúc đẩy, nhịp độ công tác di tản tăng từ 12 giờ mỗi ngày lên 24 giờ mỗi ngày kể từ 3/4/1975. Ngày 1/4/1975, tính bí mật của kế hoạch bị đổ vỡ với tai nạn của chiếc C-5A Galaxy chở mấy trăm trẻ em mồ côi Việt Nam di tản sang Mỹ rơi xuống ngay sau khi vừa cất cánh, tăng thêm màu ảm đạm cho cái tang chung của cả một miền Nam mắc nạn và gây hoang mang rất nhiều trong mọi tầng lớp dân chúng.

Rối loạn này được bồi tiếp bởi rối loạn khác: Bộ Ngoại Giao và Bộ Quốc Pḥng H.K. lục đục với nhau về kế hoạch di tản. Trong khi Kissinger đang tranh thủ ngoại giao với Hà Nội về một giải pháp để Mỹ ra đi an toàn và không bị mất mặt, Bộ trưởng Quốc pḥng James Schlesinger cho rằng việc làm của Kissinger là quá chậm và ra lệnh hối thúc việc rút hết nhân viên dân sự và quân sự Mỹ ra khỏi Sàig̣n ngay. Hơn nữa, theo Đại Sứ Martin, trong khi Kissinger đă đạt được qua sự trung gian của của Chủ tịch Liên Xô Brezhnev một thoả thuận với Hà Nội là, để đổi lại điều trên, Hoa Kỳ sẽ để cho CSVN sử dụng toàn bộ số quân bị Mỹ đă viện trợ cho VNCH, Schlesinger lại phái người sang Sàig̣n để thu hồi những vũ khí nặng. Chính v́ tin vào thoả thuận trên mà Martin đă cố t́nh tŕ hoăn cuộc di tản 5.000 kiều dân Mỹ, với hy vọng sẽ có qua trung gian của Đại Sứ Pháp Merillon một giải pháp chính phủ liên hiệp cho miền Nam Việt Nam và đồng thời cũng tránh gây hoảng loạn cho QLVNCH mà ông ta sợ là sẽ nổ súng vào những người Mỹ di tản khi thấy ḿnh bị Mỹ phản bội
(trang 209). Sự thực xẩy ra đă chứng tỏ nỗi lo sợ này là hoang tưởng, và riêng bản thân chúng tôi đă chứng kiến các Quân Cảnh VNCH đứng giữ ǵn trật tự và an ninh cho kiều dân Mỹ lên xe buưt đi Tân Sơn Nhất để di tản khỏi Việt Nam.

Sau chuyến công du “điều nghiên” mà dụng ư là phủi tay và nhục mạ VNCH của một phái đoàn dân biểu Hoa Kỳ, ngày 17/4/1975, Quốc Hội Hoa Kỳ đă bỏ phiếu bác bỏ đề nghị của Tổng Thống Ford bổ sung 300 triệu đô la quân viện và khẩn viện 722 triệu đô la cho VNCH, nhưng chỉ chấp thuận cho 200 triêu đô la để dùng cho việc di tản nhân viên Mỹ.

Ngày 19/4/1975, để đáp ứng yêu sách loại trừ ông Thiệu của Hà Nội, Kissinger ra lệnh cho Đại Sứ Martin hối thúc ông Thiệu từ chức; đồng thời Trung Tá Mỹ Harry G. Summers, Jr., thuộc Uỷ Ban Quân Sự Liên Hợp Bốn Bên, đươc Đại Sứ Martin cử đi Hà Nội để bàn với các nhà cầm quyền nơi đây thể thức rút nhân viên Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam mà theo một nguồn tin tiết lộ sẽ được hoàn tất trước ngày 1/5/1975.
(trang 207)

Ngày 21/4/1975, dưới áp lực của Hoa Kỳ. Tổng Thống Thiệu tuyên bố từ chức trên vô tuyến truyền h́nh với những lời lẽ bộc trực, tố cáo sự phản bội của Hoa Kỳ. Nhưng ngay đêm hôm sau, ông và Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm lại được chính CIA hộ tống và lén lút mang ra khỏi Việt Nam trên một chiếc DC-6 của Không Quân Mỹ. Sự kiện này điểm thêm một nét hài hước cho tấn bi kịch Việt Nam.

Ngày 23/4/1975, tức hai ngày sau khi cộng sản chiếm Xuân Lộc, Tổng Thống Ford tuyên bố tại trường Đại Học Tulane ỏ New Orleans: “
Ngày hôm nay nước Mỹ đă lấy lại được niềm tự hào thuở tiền (chiến tranh) Việt Nam của nó. Nhưng chúng ta không thể làm được điều này bằng cách tham gia trở lại một cuộc chiến đă chấm dứt đối với chúng ta.” (trang 208) Đây là lời tuyên bố phủi tay đầu tiên được phát biểu công khai và chính thức bởi một vị tổng thống Hoa Kỳ. Nó phơi bày khía cạnh xấu xa nhất của chủ nghĩa thực dụng chính trị Mỹ mà Bộ Trưởng Ngoại Giao Kissinger là một trong những người chủ xướng tích cực nhất. Quan điểm của ông ta là dùng chiến tranh uỷ nhiệm để thoái thác trách nhiệm và sử dụng hoà b́nh như một hưu chiến tạm để tạo một khoảng cách an toàn cho thanh danh của nước Mỹ và của chính bản thân ông ta, hiểu như nếu sau đó miền Nam Việt Nam có rơi vào tay cộng sản th́ đó là lỗi của VNCH chứ không phải lỗi của Hoa Kỳ hay của ông ta.

Cách nói bộc trực của ông Ford có tác dụng tăng cao tột độ cái không khí hoang mang đang bao trùm lên cơ quan đầu năo của QLVNCH là Bộ Tổng Tham Mưu. Một năo trạng bị sói ṃn bởi hội chứng bị bỏ rơi, nay đâm ra hoảng loạn và t́m đường thoát thân. Cho đến trưa ngày 29/4/1975 th́ hầu hết các sĩ quan cấp tướng và sĩ quan trưởng pḥng nơi đó đă rời nhiệm sở để sang tá túc nơi cơ quan DAO kế cạnh, chờ được Mỹ bốc ra Hạm Đội 7. QLVNCH trở thành một con rắn không đầu, với những đơn vị địa phương tự đề ra kế hoạch hành động và cuộc chiến ở nhiều nơi trở lại trạng thái năm 1964 sau khi Tổng Thống Diệm bị lật đổ: Cuộc chiến của những viên đại uư
(la guerre des capitaines). Ngoài ra, v́ hệ thống phối hợp hàng ngang cũng bị gián đoạn, mỗi đơn vị trở thành một ốc đảo chiến đấu, không biết t́nh trạng đơn vị bạn ra sao?

Trước một t́nh trạng chung phân ră như vậy, tân Tổng Thống Trần Văn Hương chẳng có thể làm ǵ được để lật ngược thế cờ. Sau sáu ngày chấp chính thay ông Thiệu, ngày 27/4/1975, ông Hương rút lui; ngày 28/4/1975, Quốc Hội VNCH bầu ông Dương Văn Minh lên làm tổng thống, khoảng 5 giờ chiều cùng ngày, như trên đă nói, không quân cộng sản oanh kích phi trường Tân Sơn Nhất.

Một điều bí mật mà mọi người ở những quán rượu trên đường Tự Do đều biết là, với sự tiếp tay tích cực của Đại Sứ Merillon và Đại Sứ Martin, ông Minh có nhiệm vụ thương thảo với cộng sản để thành lập một chính phủ liên hiệp ba thành phần
(VNCH – Phe Trung Lập – Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Việt Cộng) cho miền Nam Việt Nam. Thiện chí này, do một phái đoàn VNCH đưa ra tại trại David ở Tân Sơn Nhất sáng ngày 29/4/1975, bị đại diện của chính phủ Việt Cộng bác bỏ.

Trong khi đó, bầu trời thủ đô Sài G̣n trở nên náo nhiệt, ồn ào với hết lớp trực thăng này đến lớp trực thăng khác của Hạm đội 7 Mỹ từ ngoài khơi hối hả bay vào để rồi hối hả chở đi những kiều dân Mỹ và người Việt thân Mỹ c̣n kẹt lại. Cảnh này làm chúng tôi chạnh ḷng nhớ lại cảnh sáng ngày 26/10/1956 với hàng trăm phi cơ Mỹ đủ loại cũng từ Hạm đội 7 ấy bay đến để dương oai diễu vơ - tưởng là vô song – trên bầu trời thủ đô Sài G̣n để chào mừng sự ra đời của Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hoà, một tiền đồn chống cộng Hoa Kỳ vừa góp công dựng lên để bảo vệ thế giới tự do. Tạo hoá rơ khéo “gây chi nghịch hí trường, đến nay chất ngất trắng tinh xương”. Và, ở một xứ trời nào đó hương hồn ông Diệm nếu c̣n vương víu nợ trần ắt phải đổ lệ ṛng.

Tám giờ sáng ngày 30/4/1975
(giờ Sàig̣n), chiếc trực thăng Mỹ cuối cùng chở Đại Sứ Martin cất cánh từ nóc Toà Đại Sứ Mỹ ở đường Thống Nhất, trực chỉ hướng Hạm Đội 7, để lại đằng sau một thành phố đang quằn quại trong khói lửa và một chế độ cộng hoà đang hấp hối. Sự hạ màn của tấn bi kịch “Ra đi trong hoà b́nh và danh dự” của Nixon và Kissinger là như thế đó. Chín giờ rưỡi sáng cùng ngày, Tổng thống Dương văn Minh tuyên bố trên đài phát thanh về chính sách hoà hợp hoà giải của tân nội các VNCH và ư định muốn chia sẻ quyền hành với chính phủ Việt Cộng để tránh một cuộc đổ máu mà ông cho là không cần thiết nữa.

Chưa đầy hai tiếng sau, lúc 10:25 giờ sáng, ông Minh lại đưa ra một lời tuyên bố thứ hai, ra lệnh cho QLVNCH phải buông súng và các cấp chính quyền từ trung ương xuống địa phương phải chuyển giao quyền hành cho chính phủ Việt Cộng.
(trang 216) Cũng vào thời điểm này, tân Thủ Tướng Vũ văn Mẫu tuyên bố trên đài phát thanh một tối hậu thư yêu cầu Mỹ phải rút ra khỏi Việt Nam trong ṿng 48 tiếng. Về sau, trước khi qua đời, ông Minh có tiết lộ với một thân hữu của ông tại Paris là lời tuyên bố của ông Mẫu là do Toà Đại Sứ Mỹ thảo ra và nhờ ông ta cho người đọc hộ để tạo vẻ “danh chính ngôn thuận” cho việc ra đi của Mỹ, hiểu như khách đi v́ bị chủ nhà đuổi chứ không phải v́ khách muốn bỏ rơi chủ nhà. Tṛ chơi chính trị ấy quả là tuyệt luân về mặt lắt léo và xảo trá!

Nói tóm lại, nếu trước kia ông Thiệu với lệnh rút quân cẩu thả của ḿnh đă tặng không cho cộng sản một nửa đất nước và làm tiêu tùng phân nửa QLVNCH trong ṿng hai tuần lễ, nay ông Minh với sự chấp thuận đầu hàng vô điều kiện trên đă chỉ trong ṿng hai tiếng đồng hồ xoá tan một chế độ cộng hoà đă được dày dựng trong suốt hai mươi năm trời bằng mồ hôi, nước mắt và máu xương của hàng triệu người quân và dân miền Nam Việt Nam. Một chế độ sinh ra và lớn lên trong những điều kiện éo le và gian nguy – hơn một thế lực, kể cả bạn, đă muốn xoá nó – tuy có những thiếu sót khó tránh được v́ hoàn cảnh chiến tranh liên tục nhưng vẫn gắng xây dựng được những cơ sở, cấu trúc và lề lối sinh hoạt tự do, dân chủ đầy hứa hẹn cho tương lai đất nước một khi hoà b́nh trở lại. Một chế độ, theo một nhà văn nữ cộng sản, bị “giải phóng” nhưng lại văn minh và nhân bản hơn rất nhiều cái chế độ đến giải phóng nó. Đại khái bà ta nói:
Đây mới chính là cái cái xă hội lư tưởng mà chúng ta (những người miền Bắc) hằng mong tiến tới.”

Thế c̣n phản ứng của người lính VNCH trưóc lệnh buông súng của thượng cấp là như thế nào? Tựu trung, vốn được hun đúc trong một truyền thống thượng tôn quân kỉ lâu đời, phản ứng của họ là một sự giă từ vũ khí trong điềm tĩnh, cam nhận pha xen tủi nhục, giữa cái im ắng của những ḍng lệ chảy ngược vào bên trong. Súng được để lại vào giá, tài liệu mật bị thiêu huỷ; bộ quân phục bạc màu chính chiến được thay thế bằng một bộ thường phục mới toanh, và họ rời khỏi doanh trại để ra hoà nhập vào niềm đau chúng của dân tộc. Những chứng chỉ quân nhân bị xé nát như một biểu lộ quay lưng lại với chiến tranh chứ không phải để phủ nhận cái chân thân người lính quốc gia dân tộc của ḿnh. Và tuyệt nhiên không có một hành động quay ngược ṇng súng về phía thượng cấp và lẫy c̣ nào. Hành xử này, nghĩ cho cùng, chứng tỏ cung cách của một quân đội không chỉ sáng nét lúc nó thắng trận mà c̣n cả lúc nó sa cơ lỡ vận nữa.

Nhưng đă hơn một người lính VNCH bật khóc trước cảnh quốc gia suy vong, trong đó có tác giả, một người đă hiến dâng trọn tuổi thanh xuân cho cuộc chiến bảo vệ đất nước. Và một số không ít đă tuẫn tử để giữ khí tiết bản thân và thanh danh Tổ quốc. Có những vị tướng chết theo thành, như Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, tư lệnh Quân đoàn IV; Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, tư lệnh Quân đoàn II; Chuẩn tướng Lê Văn Hưng, tư lệnh phó Quân Đoàn IV; Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ, Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh; và Chuẩn Tướng Trần Văn Hai, tư lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh. Và c̣n nhiều sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ đă âm thầm hy sinh, trong đó có hai vị trung tá, ba vị thiếu tá và một vị đại uư thuộc Pḥng Nh́ Bộ Tổng Tham mưu, vốn là những đồng nghiệp thân yêu của tác giả. Tất cả những vị anh hùng này đă lấy chính xương máu ḿnh để tô thắm cho tượng đài Thương Tiếc măi măi hiển linh trong ḷng dân tộc.

13 - Chương sử ba mươi năm chiến tranh đẫm máu chấm dứt với sự trở lại của hoà b́nh trên đôi dép râu của nửa triệu quân phương Bắc thay v́ bằng lá phiếu của một tổng tuyển cử tự do như thoả ước Quốc tế Paris đă qui định. Và lịch sử vẫn chưa đi hết cái chu kỳ vận động biện chứng của nó: nghịch lư trong chiến tranh được nối tiếp bởi những mâu thuẫn trong hoà b́nh. Bởi hoà b́nh này không mang đến hoà hợp tâm tư và hạnh phúc ấm no cho người dân Việt Nam. Một chế độ độc tài đảng trị vẫn tiếp tục khoét sâu thêm vết thương c̣n mở của dân tộc và bị dân tộc chối bỏ. Và ngược lại, người lính cộng hoà tuy thất trận lại đạt được một chiến công vẻ vang: H́nh ảnh thân yêu của họ c̣n đậm nét trong tâm tư dân tộc.

Là như vậy nghịch cảnh Việt Nam do cuộc chiến tranh để lại. Thế c̣n phía Mỹ sau trên 30 năm cuốn gói ra đi có quên được Nam hay không? Hẳn là không nếu ta nghĩ đến cuộc tranh căi gay gắt đă diễn ra quanh vụ những chiến tích Việt Nam của ứng cử viên tổng thống Kerry giữa phe Dân Chủ và phe Cộng Hoà chẳng hạn. Vụ này chưa kết thúc th́ vụ Tổng Thống Bush năm xưa trốn tránh đi tác chiến tại Việt Nam lại được khêu lên và gây tranh luận ồn ào. Tất cả chỉ cho thấy vết thương Mỹ vẫn chưa lành, nó c̣n làm nhức nhối lương tâm quốc gia và ly tán dân tộc. Nhưng trong chiều hướng ngược lại quan điểm phản chiến thuở nào: kẻ trước kia lẩn tránh nghĩa vụ Việt Nam nay cảm thấy xấu hổ; nhưng để lấp liếm mặc cảm, ho cho bộ hạ phản công dữ dội, tố cáo ông Kerry đă nguỵ tạo thành tích và gọi ông là “người của Hà Nội”. Phe Kerry phản kích không kém phần ác liệt với việc họ gọi ông Bush là đồ hèn, đă cậy thế con ông cháu cha để khỏi bị trưng dụng đi Việt Nam và tuyên dương ông Kerry là anh hùng và là người yêu nước thực sự kể cả khi ông ta trở thành một biểu tương của phong trào phản chiến năm xưa.

Là như vậy sự bộc phát trở lại trên đấu trường chính trị của cái người Mỹ gọi là “hội chứng Việt Nam”. C̣n phe cựu phản chiến chính hiệu th́ đă im hơi lặng tiếng từ lâu v́ sợ nói ra th́ sẽ bị há miệng mắc quai (eat crow) trừ một số ít như nam ca sĩ Bob Dylan và nữ ca sĩ Joan Baez, hai tiếng nói tiêu biểu năm nào cho cao trào phản chiến – riêng Joan đă đích thân đi Hà Nội để tŕnh diễn những bài ca phản chiến trước những tù binh tại nhà giam Hoả Ḷ - nay đă bày tỏ ăn năn hối lỗi bằng cách từ chối lời mời tham dự Liên hoan Quốc tế Âm nhạc v́ Hoà b́nh mới đây của Hà Nội.

Tác giả tiếp tục hoàn chỉnh bức tranh nhất lăm của ḿnh với việc sưu tầm thêm và phân tích những hậu quả cuộc chiến Việt Nam đối với Hoa Kỳ. Ông không những chỉ trích dẫn những nhận định bi quan mà c̣n cả những đánh giá tô hồng về cuộc chiến, như của cựu cố vấn an ninh quốc gia Hoa Kỳ Walt W. Rostow: “
Nếu bạn cho rằng mục tiêu (của chúng ta) là giữ cho Đông Nam Á châu được độc lập th́ có thể nói rằng chúng ta đă đạt được mục tiêu đó. Thái Lan, Malaysia và Singapore – ba nước mà ai cũng muốn chiếm lấy (up for graps) – đă thoát ra với niềm tự tin và một nền kinh tế vững mạnh. Thử hỏi họ có thể giữ được nền độc lập của họ không nếu không có sự trợ giúp của chúng ta?” (trang 221) Theo Rostow, để đánh giá đúng mức, cuộc chiến Việt Nam phải được đặt trong bối cảnh toàn vùng Á Châu.

Cựu Tham Mưu Trưởng Hải Quân Đô Đốc Elmo R. Zumwalt, Jr., cũng có một nhận định tương tự, nhưng rơ ràng hơn:
“Xét về chiến lược, chúng ta đă tạo khả năng cho các nước như Thái Lan, Singapore và Malaysia không rơi vào tay Cộng Sản.” (trang 122).

 

Nhà b́nh luận Marc Leepson đồng quan điểm với một số tướng lănh và đô đốc Mỹ: “Nước Mỹ đă thắng cuộc chiến Việt Nam v́ nỗ lực quân sự trong suốt tám năm tại nơi đó của chúng ta đă giúp cho các nước Á Châu khác có thời gian tăng cường lực lượng chống Cộng Sản của họ. Cộng Sản đă chiến thắng tại Việt Nam vào năm 1975 nhưng các quân cờ domino Á Châu khác, trừ Lào và Căm Bốt, đă không sụp đổ. (trang 122)

Những nhận định gây nhiều tranh luận trên, theo tác giả, chỉ là những tiếng nói trong sa mạc v́ chúng không có tính thuyết phục bằng một chiến thắng cụ thể, rơ ràng. Tuy nhiên, theo một luận điểm khác, việc H.K. bỏ rơi miền Nam Việt Nam đă giúp họ giải quyết trước mắt những khó khăn chính trị và kinh tế nội bộ đang gặp phải, và về lâu về dài sẽ tạo cho họ có khả năng cải biến một nước Việt Nam thống nhất dưới quyền cộng sản thành một thành tŕ chống Trung Cộng vững mạnh và thân Mỹ thông qua một chính sách viện trợ kinh tế, đầu tư, phát triển mậu dịch do Mỹ chủ xướng. Vẫn theo luận điểm này, “chiến thắng bằng diễn biến hoà b́nh vẫn tốt hơn đánh bại chúng bằng quân sự.” (trang 222)

Riêng chúng tôi thiển nghĩ cách lư giải của các giới chức quân sự và b́nh luận gia Mỹ trên là một suy diễn quá rộng, để đừng nói là lạc đề, lấy cái chung phủ lấp cái riêng và có hơi hướm của một nguỵ biện để tự bào chữa và lẩn trách nhiệm. C̣n ư định của H.K. muốn nộp miền Nam Việt Nam cho cộng sản Bắc Việt với hi vọng chúng sẽ đủ mạnh để chống người khổng lồ phương bắc, nếu có, th́ quả là một khổ nhục kế quá lắt léo, để đừng nói là bệnh hoạn, phiêu lưu và phản logic. Bởi v́ một nước Việt Nam thống nhất, không cộng sản và là bạn của Mỹ như Thái Lan hay Đại Hàn sẽ đáp ứng lợi ích của Mỹ tốt hơn một nước Cộng hoà Xă hội Chủ nghĩa Việt Nam như hiện tại chỉ cho thấy. Ấy là chưa kể đến cái giá xương máu quá đắt phải trả cho quỷ kế ấy: Hàng chục ngàn người tù chính tri VNCH ngă gục trong lao tù cộng sản, một triệu thuyền nhân Việt Nam chết trên đường vượt thoát t́m tự do, hai triệu người Căm Bốt bị Khờ Me Đỏ thủ tiêu và hàng trăm ngàn người Lào và Hmông bị Pathet Lào giết hại.

Sau đây là là bản liệt kê số tổn thất trong cuộc chiến
(phía VNCH và Mỹ):

+ Tử trận: Trên 200.000 VNCH + 58.000 Mỹ
+ Thương binh: Khoảng 600.000 VNCH + 150.000 Mỹ
+ Tù binh: 1 triệu VNCH + 766 Mỹ
+ Mất tích khi lâm chiến (MIA: Missing in Action): Trên 1.900 người Mỹ


Mức tổn thất và chiến phí được ước tính như sau
(phía Mỹ):

+ 8.612 phi cơ đủ loại bị tiêu huỷ, gồm 3.744 có cánh và.4.868 trực thăng, tính theo đô la là $12 tỉ
+ Tổn phí về đạn dược: $35 tỉ
+ Tổn phí về bom
(7,35 triệu tấn, tức gấp đôi khối lượng sử dụng trong thế chiến 2): $7 tỉ
+ Tổn phí về vũ khí nặng như tăng, pháo howitzers: Nhiều tỉ đô la
+ Số nhiên liệu sử dụng mỗi ngày là 1 triệu tấn, như vậy làm trầm trọng thêm cơn khủng hoảng nhiên liệu năm 1973 Mỹ đang gặp phải
(trang 223)
 

Tóm lại, theo ước tinh của James A. Donovan, tổng số chiến phí là $108,6 tỉ, gồm $97,7 tỉ cho Việt Nam và $10.7 tỉ cho Lào và Căm Bốt. Nhưng theo cựu Bộ trưởng Quốc pḥng Melvin Laird, tổng chiến phí là $236 tỉ, tức $100 tỉ lớn hơn ước tính của chính phủ và gấp đôi ước tính của Donovan (trang 223). Như vậy nếu so sánh với các cuộc chiến tranh trước đó của Mỹ, chiến tranh Việt Nam là cuộc chiến tranh tốn kém nhất.

Hậu quả về kinh tế của cuộc chiến được Donovan phân tích như sau: “
…Chính phủ phải hoăn chi tiêu cho những dự án tối cần thiết về bệnh viện, trường học, đường xá, hệ thống chuyển vận và các nhà máy xử lư chất thải…Hơn nữa, v́ phải tập trung tài nguyên, kĩ xảo và năng lực vào cuộc chiến, nước Mỹ đă phải trải qua một cuộc cạnh tranh gắt gao với các nước khác và năng xuất của nó bắt đầu giảm sút. Nhưng hậu quả kinh tế lớn nhất của cuộc chiến là làm nhụt ư chí muốn đóng góp của cải và sức mạnh quân sự của chúng ta vào việc bảo vệ hoà b́nh và sự ổn định thế giới.” (trang 223)

Hậu quả về tinh thần của cuộc chiến không kém nặng nề, trước hết là Hội Chứng Việt Nam, đă và đang giày ṿ lương tri Mỹ, đặc biệt là giới cựu quân nhân đă tham chiến ở Việt Nam. Đây là chấn thương tâm thần lớn nhất và lâu nhất trong lịch sử quân đội Hoa Kỳ, một quân đội tự hào là chưa thua một cuộc chiến nào trước cuộc chiến Việt Nam của họ. Ngoài ra c̣n phải kể đến sự khinh miệt và bất tín nhiệm của quân dân Mỹ đối với các nhà chính trị của họ mà họ cho là bất tài và đă lừa dối họ khi đẩy họ vào một cuộc chiến họ cho là vô lư, vô ích và vô vọng.

Chưa bao giờ xă hội Mỹ lại bị phân cực, rối loạn và sa sút như vậy. Theo gót những đoàn biểu t́nh tuần hành phản chiến giương cao biểu ngữ “make love but not make war” là sự bùng nổ của một cuộc cách mạng văn hoá, cách mạng t́nh dục và nạn hút sách ma tuư do những người lính GI trẻ mang về từ Việt Nam và bắt đầu tràn lan ra khắp hè phố và trong khuôn viên những trường đại học. Nước Hoa Kỳ đă đánh mất tính trong trắng ngây thơ của nó. Chỉ v́ Việt Nam.

Và bức tường Tưởng niệm Việt Nam vẫn c̣n ở đó như một trang sử buồn tủi, nỗi ám ảnh mung lung nhức nhối chỉ có thể được giải toả, theo thiển ư chúng tôi, với việc Hoa Kỳ ráng đi thêm một dặm đường nữa
(an extra mile) là giúp dân tộc Việt Nam giải thể cái chế độ Cộng Sản quái gở mà H.K. đă v́ lư do này hay lư do khác để nó áp đặt ách thống trị lên một cựu quốc gia đồng minh khăng khít của ḿnh. Thiết tưởng chỉ có một kết thúc thuận lư và thuận t́nh như vậy mới có khả năng hoá giải tất cả những nghịch lư H.K. đă tự tạo nên cho ḿnh trong suốt mấy chục năm trời can dự vào Việt Nam. Nói cách khác, cái chu kỳ vận động biện chứng của lịch sử hơn nửa thế kỷ qua của Việt Nam chỉ thực sự chấm dứt với sự ra đời của một Tin Mừng tương xứng với sự hy sinh của hàng triệu quân dân Việt Mỹ: Một chế độ tự do và dân chủ ở Việt Nam.

Trên đây chúng tôi vừa tŕnh bày một số ư kiến đóng góp khiêm tốn về một công tŕnh khảo cứu công phu, đồ sô và có hệ thống là cuốn “The Tragedy of the Vietnam War” của Văn Nguyễn Dương. Một công tŕnh mà theo chúng tôi, v́ cách kiến dựng một cái nh́n tổng hợp ba chiều chính trị, quân sự và tâm lư về cuộc chiến Việt Nam của nó, sẽ có một chỗ đứng riêng biệt trong rừng sách viết về đề tài này. Mà nghĩ cho cùng, cần phải có một cách tiếp cận tổng trạng
(holistic) như vậy th́ mới có thể bao quát được hết những góc cạnh phức tạp của vấn đề, rồi từ đó t́m ra bản chất nó. Và đây cũng là một lư do tại sao chúng tôi muốn thành khẩn giới thiệu tác phẩm của Văn Nguyễn Dưỡng với độc giả, đặc biệt là các độc giả Việt Nam và qua đó giải oan cho người lưnh VNCH về những điều mà cả thù lẫn bạn cho đến bây giờ, 33 năm sau cuộc chiến chấm dứt, vẫn tiếp tục bóp méo để vu oan và bôi nhọ họ.

Minnesota cuối năm 2008
 


Cung Trầm Tưởng

Ghi chú: Tác phẩm “The Tragedy of the Vietnam War” - ISBN 978-0-7864-3285-1 by Văn Nguyễn Dưỡng do nhà xuất bản McFarland& Company, Inc., Publisher, 2008 xuất bản và phát hành, $39.95. Xin độc giả đặt mua sách tại: Tel. 800-253-2187, www.mcfarlandpub.com, Email: info@mcfarlandpub.com. Sách cũng có thể đặt mua tại Barnes&Noble bookstore tại địa phương.