Giới Thiệu Tác Phẩm - Sản Phẩm

 

The Tragedy of the Vietnam War   (4)
 

MỘT SỐ Ư KIẾN ĐÓNG GÓP SAU KHI ĐỌC CUỐN

THE TRAGEDY OF THE VIETNAM WAR CỦA VĂN NGUYỄN DƯỠNG
 

Cung Trầm Tưởng

 

9 - Ta có thể đo lường được sự phủi tay của Mỹ qua mức giảm sút quân viện của họ cho VNCH. Tác giả trích dẫn lời Trung tướng John Murry, cựu Tuỳ viên Quốc pḥng, DAO tại Sàig̣n: “Quan tâm hàng đầu của tôi (lúc đó) là vấn đề tiếp vận và giám sát việc sử dụng cấp khoản quân viện một tỉ đô la của chương tŕnh Trợ Giúp Việt Nam của Bộ Quốc Pḥng. Nhưng việc Quốc Hội Hoa Kỳ chỉ chấp thuận 700.000 triệu đô la trên một tỉ đô la ấy chứng tỏ việc Mỹ yểm trợ cho người bạn đồng minh Nam Việt Nam của ḿnh đang trên đà tàn lụi". (trang 179 – 180). Thật ra, con số 700.000 triệu đô la cuối cùng cũng lại bị Thượng Nghị Viện Mỹ rút xuống c̣n 500.000 triệu đô la. (tài khoá Quốc Pḥng Mỹ năm 1975 bắt đầu từ tháng 7/ 1975). (trang 182)

C̣n một nhân chứng quan trọng khác về sự chuyển hướng chính sách quân viện của H.K., đó là cựu Đại Sứ Graham Martin, được coi như là “niềm hy vọng cuối cùng” của VNCH. Ngoài việc tiết lộ ông ta đă gửi về cho Kissinger nhiều công điện nhắc nhở với một giọng điệu gay gắt
(a bit tart) về tính nghiêm trọng của t́nh h́nh và khuyên Kissinger đừng phụ ḷng tin của VNCH và phải bảo vệ danh dự của nước Mỹ, Đại sứ Martin c̣n cho biết cuộc chiến tranh Trung Đông năm 1973 là một tai hoạ cho miền Nam Việt Nam v́ H.K. phải chuyển phần lớn quân viện của ḿnh sang cho Israel và như vậy phải xếp VNCH xuống hạng ưu tiên thấp. Vậy mức ưu tiên thấp này là bao nhiêu? Cựu Tổng thống Thiệu tiết lộ: “Viện trợ kinh tế bị cắt, viện trợ quân sự bị cắt, và chúng ta không c̣n phương tiện để chiến đấu. Tiềm lực của chúng ta bị giảm 60%.(trang 180) Kể từ năm 1974 trở đi, theo cách nói nôm na của ông Thiệu, “VNCH phải đánh giặc theo kiểu con nhà nghèo.

Trong lúc VNCH bị lâm cảnh túng thiếu th́ Bắc Việt trong hai năm 1973 và 1974 đă nhận được của Liên Xô và Trung Cộng một số quân viện là 8 tỉ đô la.
(6 tỉ của Liên Xô và 2 tỉ của Trung Cộng) Nhờ vào số quân viện khổng lồ này và với việc thực thi kế hoạch tổng động viên các nam nữ thanh niên từ 16 tuổi trở lên, quân đội CSVN trở thành quân đội quy ước đứng hạng tư trên thế giới về quân số, trang bị và kinh nghiệm tác chiến. Khoảng 60% quân số và quân bị của quân đội này được phối trí tại Lào, Căm Bốt và Nam Việt Nam. Theo ước tính của giới t́nh báo VNCH và Hoa Kỳ kể từ đầu năm 1973 đến tháng 3/1975, Hà Nội điều động vào miền Nam Việt Nam khoảng 250.000 quân và 1.349.000 tấn quân bị, thiết bị và đạn dược. C̣n theo ước tinh của đại tá hồi hưu Mỹ Eugene H. Grayson, jr., quân số Bắc Việt ở trong lănh thổ và dọc theo biên giới VNCH cho đến cuối năm 1974 là 550.000 người. Một điểm cần được lưu ư nữa là 70% lực lượng chính quy Việt Cộng (cộng sản miền Nam) là quân Bắc Việt, và như vậy Hà Nội đă trắng trợn và nghiêm trọng vi phạm điều 7 của hoà ước Paris. (trang 181)

Nhưng ôi hỡi! Chẳng c̣n Dick ngồi ở Toà Bạch Ốc nữa để ra lệnh trả đũa, như đă mật hứa với ông Thiệu, với sức mạnh long trời lở đất - thứ ngôn ngữ B-52 mà quân thù kính nể- của một chiến dịch Hậu vệ 3. Và con cọp giấy Mỹ đang từ một bức hí hoạ mua vui bước ra và trở thành một hiện thực lố bịch. Và cơn băo đỏ nay được thả buông, sấn tới từ phía chân trời u ám, dưới sự giám sát bất lực của một Uỷ hội Quốc tế và giữa tiếng kêu lẻ loi của một VNCH đang bị dồn vào thế đường cùng.

10 - So với nhịp độ leo thang từng nấc của Mỹ trong sáu năm đầu
(1961-1966) của cuộc chiến, sự tụt thang của họ kể từ năm 1973 trở đi đă xẩy ra dồn dập và tăng tốc đến chóng mặt. Những sự kiện của sự tụt thang nhanh chóng này, như việc ép VNCH kí “đầu hàng thư” Paris ngày 27/1/1973, việc quốc hội Hoa Kỳ thông qua tu chánh án Case – Church ngày 14/6/1973 để trói tay Nixon, việc cắt giảm phũ phàng quân viện cho VNCH kể từ ngày 1/7/1973 trở đi… tất cả đều là những chỉ dấu của “Hội chứng Bỏ rơi” (Abandonment Syndrome) (trang 182) đă thâm nhập vào tâm thức mọi tầng lớp Mỹ, cả giới trí thức thượng lưu lẫn chính khách, tướng lănh và viên chức cao cấp của chính quyền.

Cộng sản hẳn rơ điều trên và cho rằng cờ đă đến tay để phất. Chúng ra quân tại Thượng Đức và Đại Lộc nằm ở phía tây nam Đà Nẵng vào đầu tuần tháng 8/1974. Với một lực lượng cấp quân đoàn gồm Sư 304, Sư 324, 1 trung đoàn pháo và 1 trung đoàn tăng. Mục đích của chúng là khống chế Quốc lộ 14 bằng cách chiếm lấy hai quận lị trên và giang cảng Hội An để cô lập Quân khu I của VNCH. Sau hơn ba tháng quần thảo với cộng sản, lực lượng VNCH gồm Sư đoàn Dù, hai trung đoàn của Sư đoàn 3 Bộ binh và một Liên đoàn Biệt đông quân đă bẻ gẫy được kế hoạch trên của địch. Đây là một chiến thắng vẻ vang của QLVNCH dù họ đă phải tự chiến đấu trong một hoàn cảnh eo hẹp về đạn dược, quân bị và không có sự yểm trợ của Không lực H.K. nữa. Nhưng điều mỉa mai là H.K. làm như không biết đến thành tích này của QLVNCH và không có một phản ứng thích ứng chính thức nào trước sự vi phạm trắng trợn và nghiêm trọng hoà ước Paris của Bắc Việt.

Được thể làm tới, cộng sản mở cuộc tấn công thứ hai tại tỉnh Phước Long vào ngày 12/12/1974. Lần này chúng huy động một lực lượng hùng hậu hơn, gồm Sư 3 và Sư 7 của Quân đoàn 301, 1 trung đoàn pháo, 1 trung đoàn pḥng không
(rất hữu hiệu), 1 trung đoàn tăng và một số đơn vị công binh và quân địa phương. Sau khi chiếm được tất cả những tiền đồn chung quanh tỉnh lị Phước B́nh (cách Sàig̣n 100 kilômét về hướng bắc), chúng tập trung một lực lượng 20.000 quân để tấn công vào tỉnh lị này, được pḥng thủ bởi 3.600 quân VNCH. Sự chênh lệch lớn lao về cán cân lực lượng này cùng với việc QLVNCH không c̣n quân trừ bị để tiếp viện là hai nhân tố dẫn đến sự thất thủ của Phước B́nh sau bốn tuần chống trả anh dũng của quân pḥng thủ.

Trước sự vi phạm trầm trọng hoà ước Paris như vậy của CSVN, xẩy ra ngay cửa ngơ của Thủ đô Sàig̣n, phản ứng của phiá Hoa Kỳ là như thế nào? Một sư đoàn Thuỷ quân Lục chiến Mỹ ở Okinawa được đặt trong t́nh trạng báo động và hàng không mẫu hạm USS Enterprise cùng với một lực lượng đặc nhiệm trên đó được lệnh rời khỏi Philippines và tiến gần đến hải phận Việt Nam
(trang 184). Mục đích của cuộc điều quân này là để làm ǵ? Là để hậu thuẫn cho lời tuyên bố xanh rờn của Bộ trưởng Quốc pḥng Hoa Kỳ James Schlesinger: sự vi phạm trên của quân Bắc Việt chưa phải là “một cuộc tổng tấn công” (an all-out offensive)! C̣n phản ứng của Tổng thống Ford chỉ giới hạn vào trong khuôn khổ một vài văn thư ngoại giao không hơn không kém.

Bắc Việt hẳn ḷng như mở cờ và coi đó như một thứ đèn xanh Mỹ bật lên cho phép chúng thôn tính toàn miền Nam Việt Nam. Đồng thời, qua chuyến công du Hà Nội của Thứ Trưởng Quốc Pḥng Viktor Kulikov của Liên Xô, nước này cũng hối thúc Bắc Việt làm như vậy để trả đũa lại việc Quốc hội Hoa Kỳ vừa từ chối ban cho Liên Xô qui chế tối ưu huệ quốc về mậu dịch. Nếu quả thật t́nh như vậy th́ Mỹ lại bỏ lỡ thêm một cơ hội nữa để giải quyết thoả đáng cuộc chiến Việt Nam. Hiểu như nếu họ đă thoả măn yêu cầu trên của Liên Xô th́ nước này đă không bật đèn xanh cho Bắc Việt mở những cuộc tấn công trong nửa cuối năm 1974 và quư đầu năm 1975 chăng? Sở dĩ thắc mắc này được nêu ra v́ bản chất cuộc chiến Việt Nam của H.K. chứa hơn một điều phi lư. Mà chỉ có một cuộc chiến phi lư như vậy mới có thể đẻ ra những thứ liên minh mặc thị và quái gở ấy của Hoa Kỳ với kẻ thù Liên Xô để xoá bỏ một tiền đồn chống cộng quan trọng và lâu đời của Thế giới Tự do mà H.K. đă dày công góp phần xây dựng.

Năm ngày sau chiến thắng Phước Long, ngày 19/12/1975, Bộ chính Trị Đảng Lao động
(tiền thân của Đảng CSVN) thông qua nghị quyết phát động một cuộc tổng tấn công để dứt điểm cuộc chiến đă kéo dài trên 20 năm kể từ năm 1954. Trước quyết định quan trọng như vậy của CSVN. Đại tá Mỹ Harry G. Summers, Jr., đă nhận định về khả năng can thiệp của Mỹ như sau: “Sau khi đă rút khỏi miền Nam Việt Nam, Hoa Kỳ khó có thể quay trở lại, và bất cứ một can thiệp nào của Hoa Kỳ cũng không cứu nổi Sàig̣n khỏi sụp đổ.” (trang 185). Một lư do của nhận định bi quan này, theo chúng tôi, là sự có mặt tại miền Nam Việt Nam vào cuối tháng 2/1974 của một lực lượng Bắc Việt rất hùng hậu, gồm 17 sư đoàn bộ binh, 500 xe tăng (tương đương vói 3 sư đoàn), 500 khẩu pháo (tương đương với 4 sư đoàn) và 200 súng pḥng không đủ cỡ, kể cả hoả tiễn đất đối không SAM. Ấy là chưa kể đến 40.000 quân Bắc Việt đang hiệp đồng tác chiến với Khờ Me Đỏ tại Căm Bốt và 50.000 quân Bắc Việt đang có mặt tại Lào để giúp Pathet Lào lật đổ chính quyền hoàng gia ở đó.

Với lực lượng hùng hậu như vậy, và sau khi chiếm được Phước Long mà không thấy Mỹ có phản ứng ǵ, cộng sản tung ra trận đánh Tây Nguyên vào ngày 4/3/1975. Chúng chiếm được đoạn đường Mang Yang – An Khê của quốc lộ 19 nối liền Kontum và Pleiku với tỉnh B́nh Định. Ngày 6/3/1975, chúng cắt đứt quốc lộ 14 nối liền Pleiku với Ban Mê Thuột, và quốc lộ 21 nối liền Ban Mê Thuột với vùng duyên hải, và như vậy chúng đă cô lập được cả vùng Tây Nguyên. Ngày 10/3/1975, hai Sư đoàn 316 và 320 cùng với một số lớn xe tăng và pháo của Bắc Việt mở trận tấn công vào Ban Mê Thuột, được pḥng thủ bởi 4.000 quân VNCH. Tương quan lực lượng tại chiến trường này giữa quân Bắc Việt và quân VNCH là 5,5 trên 1 về quân số, 2,5 trên 1 về chiến xa và 5 trên 1 về pháo. V́ vậy việc Ban Mê Thuột rơi vào tay địch ngày 11/3/1975 là một điều khó có thể tránh được.
(trang 188)

Có thể coi sự thất thủ Ban Mê Thuột như tiếng gióng đầu của hồi chuông báo tử VNCH giữa sự biệt vô âm tín của một Washington im ắng đến lạ lùng. Và quyết mệnh lịch sử muốn rằng thế nhân dù sáng suốt đến mấy đôi khi cũng phạm phải những sai lầm ngớ ngẩn đến chết người. Chẳng hạn như quyết định đưa ra vào giờ chót của ông Thiệu bắt vị tư lệnh Quân Đoàn II phải rút toàn bộ quân sĩ dưới quyền ông ra khỏi vùng Tây Nguyên mà không cho ông ta có đủ thời gian để chuẩn bị và không xét đến tính khả thi của lệnh ban. Trên thực tế, Thiếu Tướng Phú đă chỉ có 48 tiếng đồng hồ để lập kế hoạch triệt thoái khổng lồ này.
(trang 193)

Quyết định trên của ông Thiệu thật là ngớ ngẩn, thách thức mọi quy luật điều binh v́ hai lư do đơn giản là không có đường an toàn để triệt thoái và v́ Không lực VNCH không có khả năng vận chuyển một sớm một chiều cả một quân đoàn khổng lồ gồm 55.000 quân sĩ nên bắt buộc phải dùng đường bộ để rút lui; nhưng v́ con đường 14 nối liền Pleiku với Ban Mê Thuột đă bị cắt đứt nên phải dùng đường số 7 nối liền Pleiku với Phú Bổn và Tuy Hoà. Nhưng khốn nỗi v́ phải xuyên qua một địa h́nh hiểm trở và v́ bị bỏ hoang lâu ngày, với lại hai Sư đoàn 10 và 320 của địch đang gờm sẵn, thoái lộ 7 đích thực là một tử lộ. Không chỉ riêng đối với người lính chiến Quân Đoàn II mà c̣n đối với cả những thường dân và thê tróc tử phọc đi theo họ
(khoảng 450.000 người).

Con số khổng lồ này nói lên một thực trạng tâm lư Việt Nam có từ ngàn đời, đó là t́nh cảm đại gia đ́nh sống chết với nhau ở trong bất cứ một t́nh huống nào, hiểu nôm na ở đây là “chàng đi đâu, thiếp th́ theo đó”. Nếu đây là một điểm son trong việc củng cố hạnh phúc gia đ́nh trong thời b́nh, nó lại là một vật cản tinh thần khó vượt nổi cho những cuộc điều binh trong chiến tranh. Hơn nữa, cái mà các nhà tâm lư học gọi là “hội chứng gia đ́nh” này
(trang 191) lại bị tăng cao bởi một nỗi hoảng sợ bị cộng sản trả thù – h́nh ảnh nấm mồ tập thể tại Huế năm 1968 chưa phai nét trong tâm tư người dân Nam Việt Nam - cả hai hoà nhập vào nhau làm nên một phức cảm mănh liệt, nổ bung, hoá cuộc rút quân thành một cuộc di tản lếch thếch thê nhi, lanh canh soong chảo, lê đi giữa những tiếng khóc trẻ em xen lẫn tiếng kêu của mẹ chúng, một thứ hỗn mang chu chéo năo nùng, Kỳ dị, tác động mạnh đến tinh thần chiến đấu của người lính kiêm chủ gia đ́nh VNCH.

Rồi hàng ngàn chiếc quân xa, thiết vận xa, xe đ̣ chở khách bị dồn cục trên suốt một đoạn đuờng dài 8 kilômét trước một chiếc cầu rêu phong, gẫy đổ, nằm ở cửa ngơ phía tây thị xă Hậu Bổn. Rồi hàng chục ngàn họng súng cộng sản gườm sẵn trên những điểm cao hai bên đường xối xả nhả đạn xuống mục tiêu là nửa triệu sinh linh mắc nạn, không phân biệt quân dân, nam nữ, già trẻ, biến đoàn xe thành một “công voa của máu và nước mắt.” (trang 195). Bản kết toán nấm mồ tập thể Đường Số 7 như sau: 75% của 45.000 quân rút lui bị tử trận hay mất tích; 60% của 450.000 thường dân di tản bị sát hại. Số tổn thất bên lề
(collateral damage) lớn lao này nói lên tính căm thù khát máu và mù quáng của quân cộng sản Bắc Việt.

11 - Một nghi vấn được đặt ra là tại sao một tướng lănh dày dạn kinh nghiệm chiến trường như ông Thiệu lại phạm phải một lỗi lầm sơ đẳng về binh pháp như trên. Phải chăng khi ra lệnh cuộc triệt thoái khỏi vùng Tây Nguyên, ông ta đă có một lư do khác ngoài lư do quân sự, lư do chính trị chẳng hạn? Theo tác giả, có một dư luận cho rằng lư do Ông Thiệu đưa ra quyết định chết người trên là để trả thù việc Mỹ phản bội VNCH. Vẫn theo dư luận ấy, “ông ta biết thừa nếu bị Mỹ bỏ rơi, miền Nam Việt Nam chắc chắn sẽ thua trận. Vậy ông ta không muốn để Mỹ rút ra mà không bị vạ lây. Cách “ăn miếng trả miếng” của ông ta rất là đơn giản: nếu Mỹ muốn giao miền Nam Việt Nam cho cộng sản, ông ta sẽ đẩy quá tŕnh này nhanh hơn người ta dự tưởng.”
(trang 193) Trên thưc tế, ông ta đă làm điều này với cung cách “không ăn th́ đạp đổ” của một đứa con hờn rỗi v́ bị cha mẹ ruồng rẫy. Luận cứ này không phải không có cơ sở nếu ta xét đến phản ứng phẫn nộ, để khỏi nói là ghét cay ghét đắng, trước việc Mỹ phủi tay mà ông ta biểu lộ trong buổi loan tin ông ta từ chức trên Vô tuyến Truyền h́nh đêm 21/4/1975.

Có một dư luận khác cho rằng việc QLVNCH bỏ Tây Nguyên
(và sau đó là quân khu I) một cách một cách hấp tấp và cẩu thả như vậy là do ư đồ của Trung tướng Đặng Văn Quang, Cố vấn An ninh Quốc gia của Tổng thống Thiệu. Theo dư luận này, Tướng Quang nhận chỉ thị của một giới chức Mỹ là phải hối thúc ông Thiệu đẩy nhanh tiến tŕnh triệt thoái QLVNCH ra khỏi Quân khu I và Quân khu II; (trang 193) và nếu họ làm được điều này th́ H.K.sẽ bảo đảm cho bộ ba Thiệu – Khiêm – Quang và gia đ́nh họ một đời sống an toàn và sung túc tại nước ngoài.

Sở dĩ những tin như trên được nêu lên ở đây là v́ cuộc chiến Việt Nam, lần đầu và lần thứ hai, có một nét đặc thù là, ngoài là một cuộc chạm súng nẩy lửa ngoài mặt trận, nó c̣n là một cuộc chiến của những tin đồn được phóng đi từ những nguồn gốc mờ ám, vô danh, rồi tràn lan ra mọi nẻo, trên hè phố những đô thị, đặc biệt là đường Catinat, sau đổi tên thành đường Tự do dưới thời VNCH. Tại những tụ điểm đông người ở đây, trong những vũ trường, quán rượu, các quân sư, kí giả, chính khách, chuyên gia “đấm bóp thời cuộc” được thả giàn tung tin, bàn tán về đủ mọi vấn đề, từ chiến t́nh Quảng Trị đến chính t́nh Dinh Độc lập và Toà Đại Sứ H.K. hay Pháp, kể cả hối xuất đông đô la hay đồng phật lăng, vân vân và vân vân. Điều lư thú là một số tin đồn này ngay sau đó được phát thanh trên đài BBC của Anh Quốc, không những phản ánh đúng t́nh h́nh ngoài mặt trận mà c̣n tiên đoán khá chính sác về tương lai cuộc chiến và sự tồn vong của miền Nam Việt Nam.

Như t́nh h́nh những ngày tháng cuối cùng của cuộc chiến chỉ cho thấy, những tin đồn trên đă làm lung lạc rất nhiều tinh thần của quân dân VNCH và tạo nên cái khí hậu hoảng loạn tại Sàig̣n trong tuần lễ chót của tháng 4/1975. Một nguyên nhân tính chính sác của những tin đồn ấy là cả địch lẫn bạn đă gài được vào những cơ quan đầu năo của chính quyền quốc gia những “mắt thấy tai nghe” của họ. Nhưng với tiến bộ vượt bực của kĩ thuật nghe lén nh́n trộm, cuộc chiến Việt Nam thứ hai là sự nhân lên gấp bội của cuộc chiến Việt Nam lần đầu như đă được mô tả trong cuốn “Người Mỹ Thầm lặng” của Graham Green về mặt mưu phản lắt léo của những điệp viên nhị trùng, tam trùng, với những hư chiêu, đ̣n nguội, thủ tiêu ch́m, phủ liệm dưới màn đêm của những bí sử có lẽ không bao giờ được phát giác: ai có thể làm cho xác chết nói lên được.

Trường hợp VNCH cho thấy quy luật “hoạ vô đơn chí” không chỉ áp dụng riêng cho phận người mà c̣n cho cả vận nước nữa. Trong lúc quân dân miền Nam c̣n đang bàng hoàng v́ cú sốc Tây Nguyên th́ chín ngày sau, ngày 24/3/1975, ông Thiệu lại ra lệnh rút quân ra khỏi Huế và Quảng Trị mặc dù có sự phản đối của Trung tướng Tư lệnh Quân đoàn I. Giống như hiệu ứng domino, nhưng với một tốc độ nhanh đến chóng mặt, phản ứng dây truyền xẩy ra tức thời. Cùng trong ngày này, Sư đoàn 2 Bộ binh VNCH rút ra khỏi Quảng Tín và Quảng Ngăi; ngày 25/3/1975, Chu Lai rơi vào tay địch; ngày 27/3/1075, tuyến pḥng thủ phía tây và tây nam Đà Nẵng bị bỏ trống và Toà Lănh sự H.K di tản khỏi nơi đây; trong cùng ngày ấy, cộng sản bắt đầu nă pháo vào thành phố và phi trường Đà Nẵng; ba ngày sau, Đà Nẵng thất thủ. Như vậy chỉ trong chưa đầy hai tuần cộng sản đă chiếm được năm tỉnh của Quân khu I mà không mất một phần nhỏ nhoi nào của quân lực của chúng.
(trang 198)

Một nguyên nhân của sư sụp đổ toàn diện này là hội chứng bầu đoàn thê tử nói trên, lại bị tăng kích bởi “hội chứng bị bỏ rơi” khi nghe Toà Lănh sự H.K. rút khỏi Đà Nẵng. Thảm hoạ Tây Nguyên tái diễn với kích thước một đại hồng thuỷ. Tác giả viết:
“Hết lớp người này đến lớp người khác ùn ùn đổ vào Quốc lộ 1, trên bất cứ một phương tiện chuyên chở nào mà họ có thể sử dụng được, mang theo một số trữ lương cần thiết để sống sót qua ngày; và vô t́nh họ đă họp thành một cuộc di tản khổng lồ của hơn một triệu người chạy nạn xuống phưong nam. Một số khác chạy bằng đường biển, trên đủ loại tầu bè theo duyên hải về những phương trời vô định…(trang 196) Đây là một cuộc bỏ phiếu vĩ đại bằng chân và bằng thuyền đầu tiên của người dân miền Nam Việt Nam để phủ nhận một chế độ độc tài đảng trị độc ác đang giăng nanh vuốt của nó lên nửa phần c̣n lại của tổ quốc.

Trước một t́nh trạng suy sụp tinh thần như vậy và với sự tan ră trong chốc lát của hai quân đoàn tinh nhuệ của VNCH – do chính tay ḿnh gây ra – làm sao ông Thiệu có thể lập được tuyến pḥng thủ ở vĩ tuyến 12 bắc khả dĩ chặn được cuộc tiến công từ phía bắc của cộng sản như ông ta đă dự trù? Việc QLVNCH bỏ ngỏ hai Quân Khu I và II đă cho phép cộng sản chuyển hai quân đoàn nguyên vẹn của chúng ở đó đến tăng cường cho cánh quân phương nam của Văn Tiến Dũng, với một quân số nay lên đến 300.000 người.

Từ một lợi thế quân sự áp đảo như vậy, Hà Nội tự cho phép chơi lá bài chính trị. Ngày 31/3/1975, với một giọng kẻ cả, chúng tuyên bố sẵn sàng nói chuyện với “chính quyền Sàig̣n” để t́m một giải pháp chính trị cho miền Nam với điều kiện không có ông Thiệu. Rơ ràng đây là một động tác giả để che dấu quyết định của chúng là dùng vũ lực để thôn tính trọn miền Nam trong một thời gian tối thiểu. Tác giả trích dẫn một bản phúc tŕnh lên thượng cấp của Trưởng Phân Tích Gia CIA Frank Snepp. Theo ông này, Bộ Chính Trị ở Hà Nội đă “họp bàn và đưa ra một quyết định mới là phải đoạt toàn thắng trong năm 1975” thay v́ hai năm như đă hoạch định, bởi v́ “họ đă t́nh cờ có được một chiến thắng ngoài dự kiến.
(stumbled on an unforeseen victory) (trang 198) Nói cách khác, chiến thắng này là do ông Thiệu tặng không cho cộng sản chứ không phải do chính chúng tự tạo nên. Về sau, cựu Đại sứ của Hà Nội tại Liên Hiệp Quốc Hà Văn Lâu cũng xác nhận một điều tương tự như Snepp: “Sau khi Đà Nẵng và Huế thất thủ, ban lănh đạo chúng tôi đă quyết định đẩy mạnh việc chuẩn bị để chấm dứt cuộc chiến trước mùa mưa, nghĩa là nội trong tháng 4/1975.” (trang 198)

Đối với VNCH, cuộc chiến bước vào giai đoạn chót như một mùa gặt đắng cay của những lỗi lầm chồng chất từ những năm xưa, do chính ḿnh và người bạn đồng minh H.K. khổng lồ tự gây nên. Một cuộc chiến năm nào c̣n ngang ngửa, nay trở thành bất cân xứng v́ nhiều nguyên nhân khách quan hơn là chủ quan (sẽ nói ở phần sau).

Trước hết, về phía cộng sản, để thực thi nghị quyết ngày 31/3/1975 của Bộ Chính trị
(chủ trương dốc toàn lực để dứt điểm cuộc chiến), công cuộc chuẩn bị cấp tấp, đôn đáo. Tất cả các sư đoàn Bắc Việt, Việt Cộng, các trung đoàn biệt lập và các đơn vị chuyên môn đang có mặt tại miền Nam được tập hợp thành những đại đơn vị cấp quân đoàn, đặt dưới quyền chỉ huy của Quân uỷ Trung ương, với Văn Tiến Dũng là Tư lệnh Chiến trường. (trang 199 và 202)

Thứ nữa, hầu hết các đơn vị tác chiến và trừ bị, cùng với những quân khí, trang bị mới được bổ sung, được Hà Nội chuyển gấp vào Nam để tăng cường cho bộ đội của Dũng. Hàng chục ngàn chiếc quân xa đủ kiểu cỡ chở đầy quân lương, súng đạn ngày đêm di chuyển trên đường ṃn Hồ Chí Minh và Quốc lộ 1 một cách công khai mà không c̣n sợ oanh tạc bởi những B-52 của Hậu vệ 1 và Hậu vệ 2 nữa.

Kết quả là chỉ trong chốc lát Hà Nội đă huy động được một lực lượng xâm lược gồm năm quân đoàn chia ra như sau:

- Quân Đoàn I, gồm 3 Sư Đoàn 312, 320,338, uy hiếp Sư Đoàn 5 Bộ Binh của VNCH đang trấn giữ tỉnh B́nh Dương, cách Sàig̣n 50 kilômét về phía bắc;

- Quân Đoàn II gồm 4 Sư Đoàn Sao Vàng, 304, 324B, 325, bắt đầu tấn công vào pḥng tuyến Ninh Thuận, được bảo vệ bởi Lữ Đoàn 2 Dù, Liên Đoàn 3 Biệt Động Quân, và một số tàn quân của Sư Đoàn 2 Bộ Binh VNCH;

- Quân Đoàn III gồm 4 Sư Đoàn 320, 316, 70, 968, khởi sự đánh phá pḥng tuyến dọc theo Quốc lộ 1 ở phía tây Sài G̣n của Sư Đoàn 5 Bộ Binh VNCH;

- Quân đoàn IV, gồm 3 Sư 341, 6, 7, tấn công vào Sư Đoàn 18 VNCH đang bảo vệ tỉnh Long Khánh và thị xă Xuân Lộc cách Sài G̣n 70 kilô mét về phía đông bắc; và cuối cùng là một lực lương chiến thuật cấp quân đoàn cộng, gồm 5 Sư Đoàn 3, 5, 8, 9 và 27, được huy động để cắt đứt Quốc Lộ 4 và cô lập Sài G̣n với Quân Khu IV của VNCH.
 

Như vậy, để thực hiện Chiến Dịch Xuân 1975 của chúng, trước mang tên Chiến Dịch Nguyễn Huệ, sau đổi thành Chiến dịch Hồ Chí Minh, cộng sản đă tung vào trận địa một lực lượng là 20 sư đoàn (kể cả Sư Đoàn 1 ở biên giới Việt Nam - Căm Bốt) gồm 280.000 quân tác chiến, 4000 xe tăng và 420 khẩu pháo. Nhưng tính gộp cả quân số yểm trợ hậu cần (tỉ lệ 1 hậu cần/ 1 tác chiến) th́ tổng số quân cộng sản sử dụng trong Chiến Dịch Hồ Chí Minh là 560.000 người. (trang 203)

Để đương đầu với đội quân cộng sản khổng lồ ấy, phiá VNCH chỉ c̣n khả năng huy động 4 sư đoàn ở phía bắc Tiền Giang, tức 1 chọi 5 về quân số và 1 chọi 4 về hoả lực. Chính sự chênh lệch lớn lao về cán cân lực lượng này mới là yếu tố quyết định ai thắng ai chứ không phải những yếu tố linh tinh khác mà cộng sản đă huyênh hoang bịa đặt hay H.K. đă viện ra để đổ lỗi cho QLVNCH.

Cơn băo đỏ sấn về thủ đô Sài G̣n, ngày càng tăng tốc. Tuần đầu tháng 4/1975, Phú Yên, Khánh Hoà và Cam Ranh thất thủ; tuần thứ hai, ngày 15/4/1975, tuyến Ninh Thuận đổ vỡ; ngay sau đó, 40.000 quân địch mở trận tấn công vào Xuân Lộc thuộc tỉnh Long Khánh, được trấn giữ bởi 8.000 quân VNCH. Đây là trận đánh lớn cuối cùng của QLVNCH trong đó người chiến sĩ quốc gia đă tỏ ra ngoan cường và dũng cảm. Một trận tỉ thí đẫm máu với địch kéo dài 12 ngày đêm, bám lấy từng góc phố, từng căn nhà, tuy bất cân xứng về quân số nhưng đă gây cho địch tổn thất nặng nề là trên 5.000 tử trận và 40 chiến xa bị phá huỷ.
(trang 206)

Ngày 20/4/1975, theo lệnh của Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH, Sư Đoàn 18 Bộ Binh phải bỏ ngỏ Xuân Lộc, khiến địch được hanh thông tiến về Sàig̣n. Sau lời tuyên bố từ chức trên Vô tuyến Truyền h́nh đêm 21/4/1975 của Tổng Thống Thiệu, một số yếu điểm ở phía bắc Sàig̣n như Trảng Bom, Long B́nh, Biên Hoà, Thủ Đức, Hóc Môn bị bỏ ngỏ, và chiều ngày 28/4/1975, ba chiếc khu trục cơ A-37 mà cộng sản mới đoạt được của KLVNCH tại Phan Rang đến oanh tạc phi trường Tân Sơn Nhất, gây hoang mang tột độ cho quân dân thủ đô VNCH. Sau những trận đánh cầm cự ngày 29/4/1975 với địch tại cầu xa lộ Sài G̣n-Biên Hoà, B́nh Thạnh, G̣ Vấp, Bà Điểm, Hạnh Thông Tây, thủ đô Sài G̣n rơi vào tay địch trưa ngày 30/4/1975. Một màn đêm âm u bắt đầu phủ xuống nửa phần tự do của tổ quốc kể từ đó.