Thư gởi “Thành
phần thứ Ba”
Khánh Hưng
I.
Tôi có một người chú bà con, có học nhất, có tư cách nhất,
và được tôn trọng nhất trong ḍng họ. Trước năm 1975, ông ấy
là một linh mục Công giáo trẻ, là hiệu trưởng của một trường
trung học, và có chân trong nhiều tổ chức xă hội có tiếng.
Có thể nói, thời ấy, ông có đầy đủ, vừa danh dự, vừa quyền
hành, và cả vật chất. Các tổ chức nhân đạo phi chính phủ cấp
cho ông kinh phí một cách hào phóng để xây trường học và các
cơ sở xă hội mà ông muốn. Ông có đủ các loại xe và phương
tiện để phục vụ cho công việc của ông.
Các viên chức chính quyền miền Nam từ quận trưởng, tỉnh
trưởng cho đến những cấp cao hơn luôn tỏ ra kính trọng và cả
sợ hăi chú tôi. Tôi đă từng chứng kiến một tỉnh trưởng nói
với ông: "Xin cha nguôi giận tha cho con", dù ông tỉnh
trưởng này lớn hơn ông trên 10 tuổi. Thế nhưng ông là người
thường xuyên tổ chức những cuộc biểu t́nh chống chính quyền
miền Nam một cách quyết liệt. Tôi luôn nhớ cái khẩu hiệu của
ông, "chính quyền miền Nam là một chính quyền tham nhũng, và
thối nát."
Ngày 30/4/1975, ông tỏ ra vui vẽ khi bộ đội giải phóng đến
mượn trường học và nhà ở của ông làm nơi đóng quân tạm. Sau
ba tháng, bộ đội dọn đi và họ dọn luôn toàn bộ cái tài sản
công lẫn tư của ông. Họ không chỉ tháo tôn, khung gỗ, mà cạy
luôn cả gạch móng của tất cả những trường học và cơ sở của
ông. Tám tháng sau ngày miền Nam giải phóng, ông bị đưa đi "cải
tạo" trong thời gian hai năm. Vậy mà, suốt ba mươi năm qua,
tôi chưa hề thấy ông một lần dám căi lại anh trưởng công an
xă, một học tṛ của ông đă bỏ học từ năm lớp 7 để theo đám
du côn trong vùng, và sau này thường xuyên bắt ông ngối viết
kiểm điểm.
II.
Hôm nay tôi đọc trên báo Tuổi Trẻ bài "Sự Lựa Chọn Của Người
Trí Thức", nói về Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, một trí thức nổi
tiếng ở miền Nam đi theo Cộng sản và đă từng giữ chức Chủ
tịch Mặt Trận Giải phóng Miền Nam Viện nam. Luật sư Thọ là
người gốc Công Giáo và hoàn toàn trưởng thành trong nền giáo
dục Pháp. Ở miền Nam, ông đă có tất cả, từ địa vị, vật chất,
danh dự, và sự kính trọng. Thế nhưng ông đă bỏ tất cả để đi
theo cộng sản.
Sau năm 1975, gần như người ta không c̣n nghe đến tên ông.
Tôi đă từng đến nhà ông trên đường Phạm Ngọc Thạch trong một
dịp lễ đặc biệt, và đúng như lời đồn đăi, từ người gác cửa,
lái xe, cho đến người y tá của ông, đều do cơ quan "bảo vệ
nội bộ" của Đảng cung cấp. Người Sài G̣n kể rằng, trước lúc
chết, ông có nguyện vọng được xưng tội với một linh mục. V́
mục đích nhân đạo, chính quyền đă đồng ư với điều kiện là
người "thư kư" của ông phải đứng bên cạnh cuộc xưng tội giữa
ông với ông linh mục nọ.
III.
Thế hệ của tôi đă học chữ quốc ngữ qua ḍng nhạc phản chiến
đầy hào khí Lạc Hồng của Trịnh Công Sơn. Khi tôi vào đại học,
được nghe lời truyền tụng về huyền thoại chống chiến tranh,
được cho nh́n những tấm ảnh nhạc sĩ họ Trịnh ốm yếu, với đôi
kiếng cận dày, ôm cây dàn ngạo nghễ hát trên một sân khấu
phản chiến, giữa Trung tâm Sài G̣n với một "lực lượng cảnh
sát và mật thám" dày đặc của một chính quyền Miên Nam "tay
sai, tàn bạo, thối nát"; V́ thế, hơn cả sự ngưỡng mộ tài hoa
của một nhạc sĩ, trong ḷng tôi c̣n dành cho họ Trịnh sự
kính trọng đối với một chí sĩ bất khuất trước cường quyền.
Nhưng sau này, khi đi làm và có cơ hội tiếp xúc với ông, tôi
hoàn toàn thất vọng. Trịnh Công Sơn rất sợ bị công an "thăm
hỏi". Dù là một người xa lánh với những kẻ quyền lực, Trịnh
công Sơn luôn treo tấm h́nh ông chụp chung với nguyên thủ
tướng Vơ Văn Kiệt ở pḥng khách. Ông đă nhiều lần bày tỏ với
bạn bè một ư định ngây thơ và hết sức tội nghiệp là tấm ảnh
đó có thể giúp ông tránh bị công an chụp mũ. Một nhạc sĩ
hàng đầu của một dân tộc, từng hiên ngang công khai thách
thức chính quyền miền Nam, đă trở nên hèn hạ đến mức phải
dùng một tấm ảnh để đánh lừa nổi sợ hăi của chính ḿnh.
Trước khi ông mất vài năm, tôi đă vài lần gặp ông trong các
hội nghị tổng kết của một số cơ quan tổ chức văn hoá tại Sài
G̣n. Trong tất cả các hội nghị đó, những hàng ghế danh dự
được dành cho các cán bộ văn hoá, tuyên huấn kể cả cấp quận
huyện. Những cán bộ này phát biểu, chúc tụng nhau nhưng
không ai để ư đến ông. Ông ngồi lọt thỏm ở các hàng ghế sau
với một vài người bạn. Tôi xin lỗi vong hồn ông để nói điều
này: Cộng sản đă dành cho nhạc sĩ huyền thoại Trịnh Công sơn
vị trí của một trong số hàng ngàn "CÔNG NHÂN SẢN XUẤT NHẠC..."
không hơn không kém. Thân phận của ông trong hai mươi sáu
năm sau 1975, chỉ trừ khi ông chết, c̣n kém hơn một cán bộ
pḥng văn hoá quận 1.
IV.
Tôi đến Mỹ trễ sau khi miền Nam đă được giải phóng hơn 20
năm. Ở Mỹ, tôi có hai người bạn. Gọi là bạn nhưng họ đều lớn
hơn tôi trên 10 tuổi, và cả hai là người miền Nam, đă đến Mỹ
từ trước 30/4/1975. Cả hai đều có bằng tiến sĩ và đều có địa
vị cao trong xă hội Mỹ. Hai người bạn tôi nằm trong số những
người thường hay về Việt Nam và luôn ao ước cơ hội để giúp
đỡ và phụng sự quê hương Việt Nam.
Điều đáng nói là, hai người bạn tôi luôn chỉ trích xă hội Mỹ,
hệ thống chính trị Mỹ, và các chính trị gia Mỹ. Nói về bất
cứ lĩnh vực nào, họ cũng đều t́m ra cái xấu, cái đáng phê
phán của nước Mỹ. Ngược lại, dường như bạn tôi tỏ ra dể dăi
hơn đối với t́nh trạng ở Việt Nam và dường như không có ấn
tượng ǵ lớn đối với t́nh trạng tham nhũng - thối nát trong
xă hội cộng sản Việt Nam hiện nay. Có lần bạn tôi nói rằng,
ông mới đến Mỹ mà sao ông chống cộng hơn tôi?
V́ sao?
Tôi đă bỏ Việt Nam ra đi khi tôi ở lứa tuổi đă quá trễ để
học một ngôn ngữ mới, để tạo lập một nghề nghiệp mới, để có
một mối quan hệ xă hội mới, và để có thể làm quen với khí
hậu ôn đới. Thế nhưng tôi đă phải ra đi v́ tâm trí tôi không
thể chịu đựng nỗi sự hành hạ của những điều bất công, thối
nát, lừa dối, và tàn bạo đang xảy ra từng ngày xung quanh
tôi. Một buổi sáng, tôi thấy anh xe ôm đầu ngỏ nhà tôi trên
đường Lê Văn Sĩ, quận 3 dường như đang khóc. Tôi hỏi anh, và
anh nói rằng chiếc xe honda cũ của anh đă bị công an thu giữ,
không biết làm cách nào để xin lại. Lư do là v́ xe honda ôm
chỉ đựợc chở 1 người khách nhưng hôm qua, anh đă chở một
người khách - môt phụ nữ có đứa con 5 tuổi. Tất nhiên, đứa
bé 5 tuổi không thể ngồi một ḿnh sau xe ôm được. Nhưng "luật
pháp" không phân biệt lớn nhỏ. Anh xe ôm nói, v́ đó là
chuyến xe đầu tiên trong ngày, nên anh không có đủ 50 ngàn
để "dúi" cho anh cảnh sát giao thông, và v́ thế, chiếc xe
của anh đă bị tạm giữ. Anh xe ôm này có ba đứa con. Chỉ
riêng phải đóng "sổ vàng" để được giữ chổ tại trường công
lập gần nhà, mỗi đứa cần có 2 triệu, chưa kể tiền học thêm
hàng tháng... Trung b́nh mỗi ngày anh kiếm được 100 ngàn
đồng bằng nghề xe ôm. Vợ anh bán bánh canh trong hẽm mỗi
ngày kiếm được khoảng 50 ngàn. Thu nhập của hai vợ chông
cộng lại tính ra chưa đủ tiền trường cho ba đứa con, chưa
nói đến những bất trắc thường xuyên xảy ra như vụ chiếc xe
bị tạm giữ.
Ở Việt Nam, cứ 10 người bạn gặp, sẽ có 7 người có hoàn cảnh
như anh xe ôm nói trên.
C̣n anh bạn tôi th́ luôn chỉ trích nước Mỹ...
Tôi đă sống ở Mỹ hơn 5 năm, đă có ít nhất hai mươi lần liên
hệ với các cơ quan chính quyền. Tôi chưa hề bắt gặp một công
chức nào thiếu nhă nhặn và lịch sự với tôi ngay cả khi tôi
đến để xin các khoản trợ cấp. Không ai trong số hàng chục
gia đ́nh bà con và quen biết của tôi đă sống tại Mỹ hơn 20
năm phàn nàn về một lần phải bị làm khó dể hay phải lo lót
cho công chức Mỹ.
Ở Mỹ, không nói đến chương tŕnh phổ thông hoàn toàn miển
phí, mà bất cứ ai cũng có đủ cơ hội để đi học đại học. Gần
như 100% người Việt Nam di cư đến Mỹ đều đủ tiêu chuẩn hưởng
trợ cấp giáo dục (financial aid). Do đó mà đă có tới hơn 45%
người Việt đến Mỹ dưới 20 tuổi học xong đại học hoặc trên
đại học. (California, Department of Education, 2004-Survey).
Ở Việt Nam hiện nay, không dám nói đến bậc đại học, ngay cả
vào lớp một thôi, chỉ riêng tiền đóng "sổ vàng" trung b́nh
là 1 triệu đồng cho một học sinh, khoản tiền này không được
qui định bởi luật pháp nhưng không phi pháp... Khoản tiền
đóng "sổ vàng" này, như báo Tuổi Trẻ từng đưa tin, có trường
lên tới 5 triệu đồng cho một quốc gia có mức thu nhập trên
đầu người vào khoảng 7 triệu rưởi. Nhưng đó chỉ mới là khoản
nhập môn. Tổng các khoản chi học thêm, qùa cáp thầy cô giáo,
và phương tiện học hành của mỗi học sinh chiếm tương đương
với ít nhất là 1/3 số thu nhập của anh xe ôm kia.
Ở bất cứ phương diện nào, bạn cũng có thể thấy một khoảng
cách rơ ràng giữa hai xă hội.
D́ của tôi, năm nay trên 60 tuổi đang nhận chăm sóc một cháu
bé 1 tuổi tại Santa Cruze (CA) cho vợ chồng một kỹ sư người
Việt. Hàng tuần d́ lái cũng một chiếc Toyota 2004 đi làm 5
ngày, mỗi tháng d́ lănh 1000 dollars tiền lương, chưa kể ăn
uống và quà cáp trong các dịp lễ. Mức thu nhập của d́ tôi
tương đương với mức lương trung b́nh của 4 kỹ sư điện toán
giỏi tại Sài g̣n hiện nay.
Truyền thông Mỹ hôm nay (18/12/2005) xôn xao đưa những chỉ
trích và đánh giá gay gắt về việc Tổng thống Bush đă có lần
cho phép cơ quan an ninh quốc gia theo dơi điện thoại và
email của nghi phạm khủng bố trong nước Mỹ. Cũng trong thời
gian này, ở Việt Nam xảy ra một chuyện ngược lại: Công an
tống giam biệt tích hai anh em nhà ở đường Nguyễn Kiệm v́
tội tham gia diễn đàn Paltalk nhưng không có một ḍng tin
nào xuất hiện trên 500 tờ báo hiện có tại Việt Nam.
Chỉ cần nh́n sơ qua, bạn cũng có thể thấy, những điều mà bạn
chưa hài ḷng ở nước Mỹ là những điều mà đồng bào của bạn dù
nằm mơ cũng không thấy được. Chỉ cần lướt qua vài h́nh ảnh
và số liệu, bạn cũng có thể thấy cái bất công trong xă hội
Mỹ này chỉ bằng một viên bi trong một giỏ bi bất công dưới
chế độ cộng sản. Ở trên trái đất này, không hề có thiên
đường. Điều mà anh và tôi t́m kiếm không phải là một xă hội
ḥan hảo, mà là một xă hội có ít sự bất công hơn, có ít sự
lừa dối hơn, và có ít cái xấu hơn. Trong ư nghĩa này, th́
nuớc Mỹ là một mô h́nh tốt hơn vạn lần so với cái xă hội
Việt Nam cộng sản, nơi mà sự ác, sự bất công, và sự lừa dối
đang thống trị xă hội.
Quí vị "Thành phần thứ ba" giống như những đứa bé nhà giàu
đang sống êm ấm trong một lâu đài nhưng luôn nh́n qua cửa sổ,
mơ tưởng được làm một chú bé ṃ cua trên cánh đồng đàng xa,
dưới bầu trời đầy nắng, và bên cạnh một khu rừng nhiệt đới
bí ẩn... Nhưng khi nào quí vị trở thành chú bé nhà nghèo kia,
th́ quí vị sẽ thấy công việc ṃ cua hoàn toàn không có mảy
may của sự lăng mạn, nhưng là một sự khốn khó đến cùng cực
v́ lạnh, v́ đói, v́ nắng, và những những cơn sốt nghiệt ngă
do cánh rừng kia mang lại.
Tóm lại, "Thành phần thứ ba" là những người có thừa nhiệt
huyết và dũng khí để đấu tranh quyết liệt chống những chính
quyền của những xă hội dân chủ nhưng thiếu sự can đăm tối
thiểu để bảo vệ một sự công bằng căn bản nhất dưới những chế
độ độc tài. Và như thế, dù không chủ ư, "thành phần thứ ba"
đă bắc một nhịp cầu cho các chế độ độc tài như cộng sản Việt
Nam.