Hồ Sơ 30 Năm: Cuộc Chiến VN
Giữa Cộng Ḥa và Dân Chủ
Nguyễn Xuân Nghĩa
Ba mươi năm sau, người Việt tại Mỹ c̣n tranh luận với nhau là đảng Dân Chủ hay Cộng Ḥa - Richard Nixon - mới "bỏ rơi Việt Nam"? Sự thật nó lại phức tạp hơn thế.
Người ta có nhiều cách định nghĩa thời điểm khởi đầu "Chiến tranh Việt Nam" cho Hoa Kỳ - cho Việt Nam th́ thời điểm ấy có lẽ khởi sự từ 1945…
Hoa Kỳ có gián tiếp can thiệp vào Việt Nam từ sau Thế chiến II nhưng thực sự giành tay lái và chỉ đạo cuộc chiến từ 40 năm trước, khi Thủy quân Lục chiến Mỹ đổ bộ vào Đà Nẵng, tháng Ba năm 1965 trong khi chiến dịch Rolling Thunder oanh tạc Bắc Việt. Vào thời điểm ấy, dư luận Mỹ nức ḷng ủng hộ chính quyền Dân chủ của Tổng thống Lyndon B. Johnson trong việc trực tiếp tham chiến.
Điều mà dư luận Hoa Kỳ - và đương nhiên lănh đạo Việt Nam - không để ư hoặc không biết là đằng sau thái độ cương quyết ấy, chính quyền Johnson đă có một chủ trương khá bất nhất. Ngày 25 tháng Ba 1965, Johnson tuyên bố: "Hoa Kỳ không chịu thua một ai trong việc giải quyết vấn đề Việt Nam là chấm dứt việc Cộng sản xâm lược miền Nam… Tôi sẵn sàng đi bất cứ nơi nào vào bất cứ lúc nào và gặp bất cứ ai khi có triển vọng tiến tới một nền ḥa b́nh trong danh dự". Ḥa b́nh trong danh dự không là một phát minh của Nixon hay Kissinger.
Như đă tŕnh bày trên cột báo này (Thứ Bảy 23 tháng Tư: Nguyên nhân Thất trận của Mỹ) Hoa Kỳ tham chiến tại Việt Nam với một mục tiêu thụ động là ngăn Cộng sản Hà Nội tấn công và lật đổ chính quyền miền Nam. Trong tinh thần ấy, Johnson tuyên bố 10 năm trước khi miền Nam thất thủ, ngày 07 tháng Tư năm 1965, là ông sẵn sàng nói chuyện vô điều kiện với Hà Nội, và c̣n yêu cầu Quốc hội viện trợ một tỷ Mỹ kim (thời giá 1965) để phát triển kinh tế Đông Nam Á, trong đó có cả kinh tế miền Bắc Việt Nam.
Hà Nội không muốn vậy và đó là trách nhiệm của những người lănh đạo đảng Cộng sản, khi Phạm Văn Đồng đưa ra đề nghị bốn điểm chủ yếu dựa trên bản Hiệp định Genève 1954. Chiến tranh từ ấy tiếp tục và leo thang.
Tại Việt Nam, nhiều người không để ư là chưa đầy một năm sau, tháng Giêng 1966, Phụ tá Tổng trưởng Quốc pḥng John McNaughton đă tŕnh lên thượng cấp trong một bản bị vong lục (memorandum) rằng mục tiêu của Hoa Kỳ tại Việt Nam chỉ là tránh bị mang nhục (avoid humiliation)… v́ chỉ để chứng minh uy tín đáng tin cậy của ḿnh khi bảo vệ miền Nam khỏi bị Hà Nội lật đổ. Mục tiêu ấy có nghĩa là "không loại bỏ giải pháp chính phủ liên hiệp bao gồm cả người Cộng sản… một chính quyền trung lập (thậm chí chống Mỹ), tại miền Nam."
Đi sớm hơn thượng cấp là Tổng trưởng Quốc pḥng Robert
McNamara, McNaughton nói thẳng ra cái thế lưỡng nan của Mỹ: "Muốn chủ chiến,
chúng ta phải có cái lực thỏa hiệp, nhưng muốn thỏa hiệp, chúng ta chỉ có cái
lực chiến bại".
Một năm sau, tháng 10 năm 1966, con diều hâu chủ chiến, nhà kiến trúc về binh
pháp Mỹ tại Việt Nam, Robert McNamara đă nói đến điều mà Richard Nixon và Henry
Kissinger tiến hành về sau, trong điều kiện bất lợi hơn nhiều: Tách rời Mặt trận
Giải phóng miền Nam - mà người Mỹ ngây ngô từ chính quyền đến truyền thông báo
chí gọi là Việt cộng - khỏi Hà Nội và tiến hành một kế hoạch thực tiễn là cho
Việt cộng một vai tṛ trong các cuộc thương thuyết, trong sinh hoạt hậu chiến và
trong chính quyền".
McNamara nói đến điều ấy từ cuối năm 1966 và khai triển tiếp tư tưởng này trong các năm sau, mà người Việt Nam có thể không biết, hoặc không hiểu. V́ vậy không hiểu v́ sao Mỹ sẽ nói chuyện thẳng với Hà Nội nhưng đồng ư cho Mặt trận Giải phóng nhập cuộc ḥa đàm… ngang hàng Việt Nam Cộng Hoà. Sau 1975, khi thấy Hà Nội giải quyết số phận của Mặt trận Giải phóng miền Nam, ta phải giật ḿnh v́ sự mù mờ và hồ đồ của chính quyền Hoa Kỳ, một chính quyền Dân chủ. Người Mỹ nói chung th́ chưa và ba mươi năm qua chúng ta vẫn chưa làm cho họ hiểu ra điều hồ đồ ấy.
Nói tóm lại, từ 1965 đến 1967, McNamara đă hoàn toàn
đảo ngược lập trường chủ quan và hiếu thắng của ḿnh khi khẳng định ngày 19
tháng Năm: Sự cam kết của chúng ta không phải là 1) đẩy cán bộ (tập kết) ở trong
Nam ra miền Bắc - họ vốn là người Nam, 2) không phải là bảo đảm cho một cá nhân
hay phe nào đó nắm chính quyền hay có khả năng cầm quyền trên mọi vùng lănh thổ
(của miền Nam), 3) không phải là bảo đảm là chính quyền do người Việt thiết lập
không phải là một chính quyền cộng sản và 4) không phải là đ̣i hỏi rằng một miền
Nam độc lập phải tách rời khỏi miền Bắc.
Chưa đầy một năm sau, Hà Nội mở cuộc tổng tấn công Mậu Thân, hy sinh hết cán bộ
của Mặt trận Giải phóng miền Nam mà chính quyền Johnson chưa đạt nổi mục tiêu đề
ra trước đấy là "tách rời Mặt trận khỏi Hà Nội". Ngược lại, ư chí quyết thắng
của Johnson và cả đảng Dân chủ đă bị bẻ găy, Johnson chỉ c̣n giải pháp đă nói từ
đầu (trong mục tiêu tuyên truyền) là sẵn sàng nói chuyện với bất cứ ai, ở nơi
đâu… trong một mục tiêu nhục nhă hơn.
Những ư kiến của McNamara tất nhiên đă được Henry Kissinger thấu hiểu v́ vào thời ấy, ông ta c̣n chạy hiệu cho đảng Dân chủ. Sau này, khi tiến hành đàm phán với Hà Nội, Kissinger thực tế đă áp dụng lộ tŕnh của McNamara nhưng khéo ngụy trang tinh thần bạc nhược của Johnson bằng thành tích chống cộng của Nixon.
Cả Johnson và Nixon đều mệt mỏi và muốn rút khỏi Việt Nam, ngay từ 1967, từ trước 1968. Trong hai cuộc tranh cử tổng thống, phe Dân chủ thất bại năm 1968 v́ thành tích quá tệ tại Việt Nam và năm 1972 v́ chủ trương phản chiến nhuốm mùi tháo chạy của McGovern. Đảng Cộng hoà thắng cử năm 1968 v́ Nixon khéo đ̣n phép chính trị (với sự tiếp sức của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu) để chứng tỏ là chính quyền Johnson không có giải pháp cho Việt Nam, rồi đại thắng năm 1973 v́ hoàn thành mục tiêu triệt thoái khỏi Việt Nam như đa số dư luận Mỹ mong muốn. Cả hai đảng đều đồng thuận trên một điểm sinh tử cho miền Nam là Hoa Kỳ phải rút lui.
Lănh đạo miền Nam đă lầm mà c̣n làm dư luận người Việt lầm lẫn cho đến ngày nay, rằng chính quyền Cộng ḥa của Richard Nixon mới bán đứng đồng minh.
Và bên lề cuộc tranh cử 2004 tại Hoa Kỳ, người Việt tại Mỹ c̣n tranh căi với nhau về cái công - hay cái tội - của hai đảng Dân chủ và Cộng ḥa đối với cuộc chiến Việt Nam và sự thảm bại của Hoa Kỳ. Ba mươi năm qua, chúng ta chưa hiểu ǵ cả?
Đáng lẽ, miền Nam đă bị đảng Dân chủ bị bỏ rơi từ 1968 - năm năm sau khi Kennedy xăn tay áo nhập cuộc, ba năm sau khi Johnson đổ quân vào Đà Nẵng trước sự ngỡ ngàng của lănh đạo miền Nam thời chính phủ Phan Huy Quát và nhất là sự mừng rỡ dại dột của các tướng lănh.
Và đáng lẽ miền Nam đă bị đảng Cộng ḥa hy sinh từ 1972
khi Hà Nội hồi phục sau thất bại Mậu Thân và ngang nhiên đẩy chiến xa vào Nam.
Phép lạ ở đây là khả năng chiến đấu bền bỉ và dũng cảm của Quân lực Việt Nam
Cộng Ḥa, điều mà chính các chính quyền Hà Nội và Hoa Kỳ cũng không ngờ. Và cho
đến nay dư luận Mỹ cũng không biết, kể cả Tổng thống George W. Bush.
*
Chúng ta nói về chuyện cũ chính là để nh́n ra tương lai.
Từ nhiều thập niên, Hoa Kỳ thiếu hiểu biết về cộng sản, nhất là cộng sản Á châu.
Dư luận và lănh đạo của họ - kể cả tầng lớp trí thức ưu tú - quá tập trung vào
quá khứ Âu châu của nước Mỹ. Măi cho đến gần đây, từ hai chục năm nay, nước Mỹ
mới ư thức được cái nghiệp Á châu của ḿnh khi buôn bán và giao kết với Á châu
nhiều hơn Âu châu nên nghiên cứu nhiều hơn, sâu hơn về châu Á. Nhưng cùng lúc ấy,
Việt Nam hết là ưu tiên và họ thiếu dần chuyên gia về Việt Nam. Cộng đồng người
Việt tại Mỹ - thế hệ di dân thứ nh́ - có thể bù đắp ǵ cho sự thiếu sót ấy -
ngoài một việc chính đáng nhưng không duy nhất là nhắc nhở đến những nhược điểm
của lănh đạo Việt Nam ngày nay?
Hoa Kỳ là một quốc gia đích thực đa nguyên với rất nhiều trung tâm quyền lực phân tán trong xă hội và chính trị và chỉ có chánh sách đồng thuận nhất thời, qua rất nhiều bán chác trao đổi với nhau. Sự đồng thuận ấy tất nhiên không bền và thay đổi theo quyền lợi kinh tế chính trị lẫn nhận thức về an ninh của Mỹ. Căn cứ trên sự đồng thuận nhất thời và có điều kiện ấy, một quốc gia - như Việt Nam - mà trù hoạch vấn đề sinh tử của ḿnh tất nhiên sẽ thất vọng. Có đả kích sự lật lọng của chính quyền Mỹ th́ cũng bằng thừa. Khác với ngày xưa - 1956 hay 1966 - ngày nay ta đă có một cộng đồng người Việt tại Mỹ. Cộng đồng ấy có thể trở thành một trong các trung tâm quyền lực để tham gia vào chuyện bán chác trao đổi trong chính trường Mỹ hay không? Hy vọng ấy có thể c̣n xa vời, nhưng trước mắt, cộng đồng này có tác động nổi vào nhận thức của dư luận và lănh đạo Mỹ không?
Làm sao tác động khi ta vẫn bị hiểu lầm là một cộng đồng hoài cổ, luyến tiếc miền Nam và chưa nguôi mối hận với chính quyền cộng sản?
Trong nhiều trường hợp, "chống cộng" thực ra là đồng nghĩa với việc chống lại những chọn lựa của chính quyền Hoa Kỳ đối với Hà Nội có hậu quả tai hại cho người Việt Nam ở trong nước. Chúng ta có hiểu được hậu quả của những chọn lựa ấy không và có thuyết phục nổi điều ấy chăng?
Trong nhiều thập niên, đây là lần đầu và hiếm hoi mà chính quyền Hoa Kỳ có một chủ trương dứt khoát là quyền lợi và an ninh của Mỹ có liên hệ đến cơ chế dân chủ của các nước khác. Khác với các tiền nhiệm, chính quyền Bush dám can thiệp theo lối chủ động dứt khoát chứ không "đánh toàn cầu ḥa" và c̣n phát huy dân chủ v́ quyền lợi của chính ḿnh. Đây là cơ hội hiếm hoi mà an ninh của Mỹ và quyền tự do của người dân xứ khác lại là mục tiêu đồng quy. Cơ hội này sẽ không bền.
Nếu ta khéo khai thác th́ v́ mục tiêu ổn định và an ninh của ḿnh tại Đông Á, Hoa Kỳ có thể yểm trợ cho việc dân chủ hóa tại Việt Nam với những giải pháp chuyển hóa có lợi cho người Việt, là điều Hà Nội không muốn mà nhiều người Việt vẫn ước mơ mà chưa biết thi hành thế nào. Nếu không, trong một tương lai không xa, khi hữu sự với Trung Quốc, Việt Nam có thể lại bị hy sinh, dân chủ chưa có mà chủ quyền cũng không.
Chúng ta có thể tổng kết lại kinh nghiệm 30 năm ấy với một vấn đề nóng bỏng: chủ trương mơ hồ "một Trung Quốc" của nhiều chính quyền Mỹ đang bị thách đố và số phận của Đài Loan - một cường quốc kinh tế và một quốc gia dân chủ đích thực - có thể được quyết định. Ta không thấy người Hoa thuộc phe Đài Loan rầm rộ biểu t́nh phản đối việc Mỹ bỏ rơi Đài Loan ba mươi năm về trước sau chuyến Hoa du của Nixon mà chỉ thấy Quốc hội Mỹ tác động vào chính quyền để bảo vệ Đài Loan.
Cộng đồng người Hoa theo Đài Loan ủng hộ cả hai đảng
Dân chủ và Cộng ḥa và không hề nặng lời đả kích những đại diện dân cử đă bỏ
phiếu bất lợi cho họ. Đấy là một cộng đồng trưởng thành và hiểu Mỹ không thua
kém ǵ cộng đồng Do Thái.
Bao giờ đến lượt chúng ta?