Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng Ra Sách “Khi Đồng Minh Tháo Chạy,” Mở Lại “Hồ Sơ 30 Năm” --
“SAO CHÚNG KHÔNG CHẾT PHỨT CHO RỒI?”
(V)
"Sao chúng không chết phứt cho rồi?
Điều tệ hại nhất có thể xảy ra là chúng cứ sống dai dẳng hoài."
Đó là lời Kissinger dành cho Việt Nam Cộng Hoà khi quân Bắc Việt tiến vào Đà Nẵng.
(Trích sách mới của Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng: “Khi Đồng Minh Tháo Chạy”)
Trong ṿng hai tuần lễ kể từ ngày mất Ban Mê Thuột hôm 11 tháng Ba, truyền h́nh Mỹ hằng ngày chiếu cảnh rút lui từ Tây nguyên về Phú Yên trên quốc lộ 7B, cảnh tắc nghẽn thê thảm ở đèo Cheo Reo, tới t́nh trạng hỗn loạn ở Đà Nẵng. Liên tiếp, hết cứ địa này tới cứ địa khác. Washington không có dấu hiệu ǵ tỏ ra lo ngại. Tổng Thống Ford vẫn chỉ thị sắp xếp cho ông đi nghỉ lễă Phục Sinh ở Palm Springs (tiểu bang Nevada ?). Năm nay, v́ chiến sự đang sôi bỏng nhiều nhân viên toà Bạch Ốc đă can ông đừng đi, nhưng ông không nghe. Trước khi đi, ông quyết định gửi tướng Frederick C. Weyand sang Sàig̣n ngày 28 tháng Ba để thẩm định t́nh h́nh. Weyand là Tham Mưu Trưởng Lục Quân và từng là Tư lệnh Quân đội Hoa Kỳ ở Việt Nam trước đây.
Vào thời điểm đó, chỉ một người dân b́nh thường xem tin tức trên đài cũng đủ biết là t́nh h́nh Việt Nam đang đi vào giai đoạn quyết liệt. Thế mà Tổng Thống Hoa Kỳ lại viết trong Hồi Kư của ông (năm 1979) rằng: "Ai cũng biết là vấn đề ở Việt Nam nghiêm trọng, nhưng xem ra chẳng ai hiểu rơ nó nguy ngập đến chừng nào. "
Trên máy bay Air Force One đi Palm Springs, ông Ford từ trên ca-bin xuống gập đoàn tùy tùng, trong đó có ông Rumsfeld, Đổng lư Văn Pḥng Tổng Thống (bây giờ là TổngTrưởng Quốc Pḥng), ông Alan Greenspan, Thống Đốc Ngân Hàng Liên Bang, và ông Ron Nessen, Phụ Tá Báo Chí. Đang khi họ tṛ chuyện, có nhân viên phi hành đoàn tới đưa cho Nessen một phong b́ màu vàng do chuyên viên truyền tin trên máy bay chuyển. Trong phong b́ là một điện tín: "Đà Nẵng đă thất thủ." Nessen đưa cho ông Ford và mấy người kia đọc. Ford lắc đầu! Mọi người không ai nói ǵ, hoàn toàn im lặng (Theo hồi kư của Ron Nessen).
Vào tuần cuối tháng Ba, thành phố Đà Nẵng trở nên hỗn loạn. Từng làn sóng người tràn về từ Quảng Trị, Huế, Quảng Ngăi làm cho dân số từ 600 ngàn vọt lên một triệu rưởi, gần gấp ba lần. Đường phố ứ đọng, tắc nghẽn, cướp giật, súng ống bắn bừa băi.
Lời nguyền rủa
Đà Nẵng thất thủ vào đúng Chủ Nhật Lễ Phục Sinh, ngày30 tháng Ba. Ở nhà thờ tin
lành Lutheran quận Arlington (tiểubang Virginia), Tổng Trưởng Quốc Pḥng James
Schlesinger đă "rơi lệ. " Hôm đó, Phó Giám Đốc CIA, tướng Vernon Walters có nói
với ông rằng Đại sứ Việt Nam ở Washington (ông Trần Kim Phượng) vừa tuyên bố: "Màn
đêm dài đă phủ xuống đầu chúng tôi, và b́nh minh sẽ không c̣n hé rạng nữa!"
Schlesinger ngậm ngùi. Ông thuật lại với chúng tôi khi phỏng vấn ông vào hè năm
1985: "Tôi nghĩ đến lời của cố Thủ tướng Anh, Winston Churchill, khi ông mô tả
nước Pháp bại trận trong Đại chiến II. Cả hai đều cùng một thảm cảnh dẫu không
lớn lao như nhau. Tôi không trách người Việt Nam đă đặt hy vọng vào Hoa Kỳ. Tôi
chia xẻ nỗi đau thương với họ. "
Sau khi thị sát chiến trường và họp với phía Việt Nam, tướng Weyand trở về báo cáo cho Tổng Trưởng Quốc Pḥng. Ngày năm tháng Tư, đang khi bay về Washington, th́ ông được lệnh đổi hướng bay thẳng về Palm Springs phúc tŕnh cho Tổng Thống Ford và Ngoại Trưởng Kissinger.
Nghe thuyết tŕnh của Weyand xong, Kissinger đi họp báo, có Ron Nessen, Phụ Tá Báo Chí Tổng Thống cùng đi theo. Trên đường tới Trung Tâm Báo chí, Nessen kể lại (trong hồi kư,trang 98.3) lời Kissinger nguyền rủa: "Sao chúng không chết phứt cho rồi? Ông ta rên lên trong xe, "Điều tệ hại nhất có thể xảy ra là chúng cứ sống dai dẳng hoài." (Why don't these people diefast? " He moaned in the car. "The worst thing that could happen would be for them to linger on. "). Câu nói buột miệng ra, bất chợt, trong những lúc vô ư lại thường phản ảnh sự thật hơn là những lời tuyên bố khôn ngoan về chính sách, những bài diễn văn hùng hồn, những câu trả lời đắn đo với báo chí hay lời văn chải chuốt trong hồâi kư.
Năm 1979, có lần tôi đang nói chuyện với một anh bạn Mỹ
về chiến tranh Do Thái, Iran. Lúc bàn tới Việt Nam, tự nhiên anh ta nói: "Ừ sao
ông Kissinger ông ấy tàn nhẫn quá nhỉ? " "Sao anh nói vậy? " tôi hỏi. "Ủa, anh
chưa đọc sách của Ron Nessen à? " Tôi vội đi t́m cuốn hồi kư tựa đề "Đằøng sau
HậuTrường Th́ Thật Là Khác' (It Sure Looks Different From the Inside). Suy cho
kỹ, ta thấy câu nói mà Nessen đă nghe được nó ùgiải thích nhiều sự việc xảy ra
cho miền Nam. Đặc biệt là nógiúp trả lời phần nào câu hỏi: Tại sao Miền Nam đă
mất lẹ như vậy?
Có ba điểm chiến lược trong tâm trí của Henry Kissinger:
- Chắc chắn là Hoa Kỳ phải dứt khoát rút hết, bỏ rơi Miền Nam;
- Chỉ cần một khoảng thời gian coi cho được, từ lúc My ơrút đi tới lúc sụp đổ;
- Khi sụp đổ th́ nên tiến hành cho lẹ; v́ nếu cứ sống vật vờ măi là kẹt cho Mỹ.
Lập trường Kissinger từ 1967
Sau khi mọi việïc kết thúc, Kissinger quy trách việc mất miền Nam cho vụ
Watergate. Lịch sử sẽ phán xét phân minh những chính sách và lịch tŕnh sắp xếp
của Kissinger. Tuy nhiên, ngay bây giờ ta cũng đă có thể khẳng định được rằng
trước Watergate, trước cả khi ông Nixon lên làm Tổng Thống, Kissinger cũng đă
chẳng tin tưởng ǵ là miền Nam có thể cứu văn được. Vậy chỉ cần rút làm sao mà
không bị mất mặt với quốc tế là xong. Mang nửa triệu quân vào mà lại thua th́
không ổn. Là người ưa viện dẫn lịch sử, có lần ông nói đến kinh nghiệm của Pháp
khi bị sa lầyở thuộc địa Algeria, sau chiến tranh Đông Dương: "Ông de Gaulle đă
làm đượïc cái ǵ cho nước Pháp ở Algeria? Ông ta đă muốn bỏ nước này một cách
nào đó để cuộc triệt thoái được coi như là do một chính sách (chứ không phải là
bắt buộc phải bỏ), giúp cho Pháp c̣n giữ được phần nào phẩm giá của ḿnh…. Đó là
thành quả lớn lao của ông, chư ùkhông phải kết quả thật sự của cuộc chiến như
thế nào…".
Giải pháp 'Mỹ đơn phương rút ra khỏi miền Nam' là tư
tưởng Kissinger đă nuôi dưỡng từ lâu. Ngay từ 1967 khi mới bắt đầu tiếp cận vấn
đề Việt Nam với tư cách là một tư vấn không chính thức của chính phủ Johnson,
ông đă bí mật liên lạc với Hà Nội qua trung gian của hai người Pháp là ông
Hervert Marcovich và Raymond Aubrac. Hai người là cho ăquen biết với Hồ Chí Minh
từ 1946 lúc ông Hồ đi họp Hội Nghị Fontainebleau (Cũng trong năm này, ông ta đă
cùng đi với hai người Pháp này sang Hà Nội gặp Phạm Văn Đồng). Lập trường của
Kissinger là chiến tranh Vịệt Nam chỉ có thể giải quyết bằng giải pháp 'một thời
gian coi cho được' (a decent interval). Tác giả David Landau, người nghiên cứu
chiến lược củaKissinger đă viết lại trong cuốn "Kissinger: Sử Dụng Quyền Lực"
(Kissinger: The Use of Power), như sau: "Kissinger cho rằng giải pháp duy nhất
của Hoa Ky ønăm 1967 là dùng chính sách 'một khoảng thời gian coi cho được'. Nói
cho đơn giản hơn, chính sách đo ùcó nghĩa là sự sụp đổ của chính phủ miền Nam -điều
ông cho là rất có thể xảy ra nếu không phải làbắt buộc sẽơ xảy ra - phải được
tŕ hoăn trong một thời gian kể từ lúc Hoa Kỳ triệt thoái để Hoa Thịnh Đốn khỏi
bị chỉ trích là đă không bảo vệ đồng minh của ḿnh. "Như vậy, điều quan trọng
chính yếu của cuộc chiến- vấn đề phe nào sẽ cai trị miền Nam - thực ra chỉ là
một điểm không đáng để ư. Điều quan trọng không phải là có nên hay không nên
triệt thoái mà là triệt thoái như thế nào và bao giờ" .
1968
Năm 1968, khi chiến tranh đang leo thang mạnh, Tổng Thống Johnson chán nản, quyết định không ra tranh cử nhiệm kỳ hai. Lúc đó, Kissinger đang làm tư vấn cho ông Rockefeller, Thống Đốc tiểu bang New York, để ông này ra tranh cử với ông Nixon trong chức ứng cử viên tổng thống của đảng Cộng Hoà. Kissinger cho rằng nếu có một giải pháp mới cho chiến tranh Việt Nam th́ chắc Rockefeller sẽ được đảng lựa chọn.
Vài tuần trước khi tháp tùng ông thầy đi họp đảng tại
Miami vào tháng 8, ông đă soạn ra một đề nghị về Việt Nam đăng tải trên cả một
trang quảng cáo của tờ New YorkTimes. Giải pháp đó gồm bốn điểm:
- Mỹ đơn phương rút 75. 000 quân;
- Thiết lập một Lực Lượng Quốc Tế giám sát hoà b́nh;
- Sau đó, Mỹ rút hết; rồi để cho
- Hai phía Việt Nam hoà hợp hoà giải với nhau.
75.000 quân chỉ là bước đầu để tạo ra một hướng đi.
NGUYỄN TIẾN HƯNG
(Trích sách “Khi Đồng Minh Tháo Chạy” sắp phát hành.)