Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng Ra Sách “Khi Đồng Minh Tháo Chạy,”
Mở Lại “Hồ Sơ 30 Năm”
-- KẾ
“RÚT NHANH, SỤP LẸ” ĐĂ XONG TỪ 1971 (X)
“Sẽ đơn phương rút quân. Rút càng nhanh, nó (VNCH) sẽ bị lật đổ càng lẹ.
Và nếu nó đổ sau khi rút, chúng tôi sẽ không can thiệp nữa.”
(Kissinger nói với Chu Ân Lai từ 1971, về số
phận VNCH)
Trích sách mới của Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng: “Khi Đồng Minh Tháo Chạy”
Ngày 20 tháng Giêng, 1969, ông Nixon nhậm chức TổngThống và dọn vào Toà Bạch Ốc. Kissinger chính thức trở nên Cố Vấn An Ninh. Ngày bốn tháng Tám, 1969, ông bắt đầu đàm phán sau hậu trường với Bắc Việt. Phiên họp đầu tiên giữa Kissinger, XuânThuỷ và Mai Văn Bộ được tổ chức ở căn nhà Jean Sainteny tại phố sang trọng Rue de Rivoli, Paris. Mật đàm kéo dài được trên ba năm.
Đang khi thương thuyết với Bắc Việt về việc rút quân, Mỹ tiếp tục rút, ngày càng
mau. Từ mức cao nhất là 537. 000 người lính vào đúng lúc bắt đầu mật đàm, Mỹ đă
rút 312. 000 chỉ c̣n 225. 000 vào tháng Bảy, 1971. Như vậy là đă rút được trên
nửa số quân rồi, nhưng cũng mất hai năm. Làm sao rút hết số c̣n lại cho nhanh
hơn? Kissinger liền cầu cứu sự giúp đỡ của Trung Cộng.
Hai mươi bảy năm sau ngày Miền Nam sụp đổ, tờ báo NewYork Times ngày 28 tháng
Hai, 2002 vừa tiết lộ chuyện độngtrời: ngay từ cuối hè 1971, Kissinger đă nói
cho Trung Cộng biết lập trường thực sự của Hoa Kỳ về vấn đề rút quân. Trong một
bài tựa đề "Tài Liệu (vừa có) Đă Đối Chọi VớiKissinger về Chuyến Viếng Thăm
Trung Quốc Của Ông Năm1971," Kư giả Elaine Sciolino cho biết nội dung tài liệu
mới được giải mật do National Security Archive đưa ra gồm có biên bản cuộc họp
ngày chín tháng Bảy, 1971 giữa Kissinger và Chu Ân Lai. Trong buổi họp, chính
Kissinger đă cho Chu biết chi tiết về sự thay đổi cơ bản của chính sách Hoa Kỳ
đối với Đài Loan, nhằm đổi lấy sự ủng hộ của Trung Quốc hầu giúp chấm dứt chiến
tranh Việt Nam. Ông ta nói với ông Chu: "Dù có thương thuyết hay không thương
thuyết với Bắc Việt đi nữa, rồi chúng tôi cũng sẽ rút quân - một cách đơn phương.
"
"Rút càng nhanh, bị lật đổ càng lẹ."
Khi Stanley Karnow, nhà sử học về Việt Nam, được hỏi về việc này, ông nói: "Không c̣n nghi ngờ ǵ nữa là từ lúc tuyển chọn ứng cử viên ṿng sơ bộ (cuả đảng Cộng Hoà) hồi tháng Ba, 1968, lập trường (của Nixon) vẫn luôn luôn là 'hoà b́nh và danh dự'.’ Vậy mà khi đến Trung Quốc, Kissinger lại nói 'Kế hoạch của chúng tôi là sẽ rút đơn phương. ' "Đơn phương" là điểm chính, và đây là diều mới lạ đối với tôi," Ông Karnow kết luận.
Rơ hơn nữa, cũng theo tài liệu mới này, Kissinger c̣n nói với Chu Ân Lai:
"Lập trường của chúng tôi là sẽ không duy tŕ bất cứ
chính phủ nào ở miền Nam cả, và nếu như chính phủ miền Nam không được nhiều
người ưa chuộng như Ngài nghĩ, th́ khi quân đội chúng tôi rút đi càng nhanh, nó
sẽ bị lật đổ càng lẹ. Và nếu nó bị lật đổ sau khi chúng tôi rút, chúng tôi cũng
sẽ không can thiệp nữa ".
Một năm sau đó, đến tháng Bảy, 1972, Mỹ đă rút hầu như toàn bộ quân đội ra khỏi
Miền Nam. Số quân c̣n lại chỉ c̣n 45, 000. Sắp xong rồi, chỉ cần làm sao cho
bước cuối cùng được trôi chảy. Đó là làm thế nào để có một hiệp định đ́nh chiến
là tốt đẹp nhất. Tại những cuộc mật đàm, Kissinger đă nhượng bộ hoàn toàn về vấn
đề này: Mỹ sẽ rút đi hết và quân đội Bắc Việt ở lại Miền Nam. Ngày 10 tháng 10,
ông sang Sàig̣n làm áp lực bắt phải chấp nhận giải pháp đ́nh chiến "da beo": ai
ở đâu cứ ở đó. Ngày 26 tháng 10, Kissinger gây chấn động khi tuyên bố "Hoà b́nh
đang trong tầm tay" (Peace is at hand).
Sang năm 1973,Kissinger đă thành công trong việc giải quyết vấn đề Việt Nam nội
trong nhiệm kỳ đầu của Tổng Thống Nixon như ông muốn. Chỉ chậm có hai ngày: ngày
20 tháng Giêng năm 1973, Nixon chấp chánh nhiệm kỳ hai, và ngày 23 tháng Giêng,
Kissinger đă cùng Lê Đức Thọ kư tắt vào bản Hiệp Định.
Hiệp định Paris kư xong, ông Nixon lên truyền h́nh tuyênbố: "Với tất cả đồng bào
đang nghe tôi… ḷng kiên tŕ của đồng bào ủng hộ lập trường đ̣i cho bằng được
một hoà b́nh với danh dự đă giúp thực hiện được hoà b́nh với danh dự. "(10).
Báo cáo về thành tựu ngoại giao cho Quốc Hội năm ấy, Nixon viết: "Thật là cần
thiết để ta đi tới giải pháp mang lại một khuôn khổ cho miền Nam VN được thực
thi quyền tự quyết của ḿnh". C̣n Kissinger: "Chúng tôi đă quyết tâm làm hết sức
có thể để giúp cho Sàig̣n được phát triển trong an ninh và thịnh vượng, và để họ
có thể trường tồn trong bất cứ cuộc đấu tranh chính trị nào".
"Một Khoảng Thời Gian Coi Cho Được"
Như trường hợp Charles de Gaulle giải quyết vấn đề Alge-ria, Kissinger cho rằng
ông đă giữ được thể diện cho Mỹ: 'có đủ cả rồi, cả Hoà B́nh, cả Danh Dự'. Thế là
xong, không cần để ư tới kết quả ra sao. Sau ngày miền Nam sụp đổ, nhiều người
đă đặt câu hỏi về vấn đề 'một khoảng thời gian coi cho được' trong lịch tŕnh
của Kissinger. Trong tập hồi kư dài viết năm 1979 với tựa đề "Những Năm tại Toà
Bạch Ốc" (TheWhite House Years), ông đă dành tới hơn một phần ba (492 trang) để
giải thích những khó khăn và thành quả của ông về Việt Nam. Ông viết rằng Việt
Nam đă cho ông một cơ hội để đền ơn cho quốc gia đă cứu gia đ́nh ông (khỏi bàn
tay của Hitler): "Tôi nh́n thấy vai tṛ của tôi là giúp cho quốc gia đă nhận tôi
làm con nuôi. " Về giải pháp hoà b́nh cho Việt Nam do ông mang lại, ông quả
quyết: "Chúng tôi đă đi t́m không phải chỉ một khoảng thời gian trước khi sụp đổ,
nhưng một nền hoà b́nh lâu dài và danh dự".
Đó là luận điệu cho công luận và cho lịch sử. Bên trong hậu trường th́ lại khác.
Ta hăy nghe ông John Ehrlichman, Đổng lư Văn Pḥng của Tổng thống Nixon thuật
lại trong cuốn hồi kư "Nhân Chứng Của Quyền Lực: Những Năm Thời Nixon" (Witness
to Power, The Nixon Years). Ngày 24 tháng Giêng, 1973, chỉ một ngày sau khi
Kissinger kư vào bản Hiệp Định và về tới Washington, Ehrlichman gặp ông ở trước
pḥng Lincoln trong Bạch Cung, có hỏi: "Theo ông, miền Nam VN có thể c̣n tồn tại
được bao lâu nữa? " "Tôi nghĩ rằng nếu họ may mắn th́ được một năm rưỡi,"
Kissinger đáp lại.
Ehrlichman viết thêm: "Sau này, khi xem đoạn phim trực thăng đến bốc những người
Mỹ hoảng hốt trên nóc toà Đại sứ Mỹ ở Sàig̣n lúc quân đội Bắc Việt đang tiến gần,
tôi nhớ lại ước tính có tính cách cay độc (cynical) nhưng chính xác của ông
Kissinger;" Ehrlichman b́nh luận: "Trong hồi kư của ḿnh, Kissinger đă viết là
sau khi kư tắt vào bản Hiệp Định Paris 'Tôi thấy b́nh an trong ḷng, chẳng vui
cũng chẳng buồn; nhưng tôi (Ehrlichman) tự hỏi làm sao ông ta có thể nghĩ như
vậy được? "
Bàn về chiến lược của Kissinger, hai anh em phóng viên nổi tiếng Marvin Kalb và
Bernard Kalb là những người đă theo sát ông bao nhiêu năm, đă tiết lộ: "Ông ta
tin rằng điều tối đa có thể cứu văn được cho việc dính líu cuả Mỹ vào Việt Nam
là 'một khoảng thời gian coi cho được', từ lúc Mỹ rút quân đi và khả năng Cộng
sản thôn tính miền Nam. Dù trong khả năng tốt nhất cho Việt Nam, không ǵ có thể
bảo đảm được quá ba tới bốn năm".
Người Tiên Tri
"Một khoảng thời gian coi cho được" đă bắt đầu từ khi Mỹ rút hết quân ra khỏi
Miền Nam. Quân đội Mỹ gọi ngày 29 tháng Ba, 1973 là ngày "X cộng 60" (X plus
60), nghĩa là ngày thứ 60 kể từ khi đ́nh chiến. Đó là hạn chót để Nixon rút hết
quân ra khỏi Việt Nam.
Tại phi trường Tân Sơn Nhấât, một toán lính Mỹ khoảng 50 người đứng nghiêm chỉnh
làm lễ chào cờ. Từ ống loa, một sĩ quan đọc nhật lệnh: "Bộ Tư lệnh Yểm Trợ Quân
Sự-Việt Nam (MACV) từ giờ phút này đă hết hoạt động, và sứ mệnh cũng như chức
năng đă được chỉ định lại ." Một vệ binh tiến lên, mang lá cờ MACV với huy hiệu
một thanh gươm quay ngược lên. Nh́n vào Đại sứ Bunker và tướng Weyand, tư lệnh
cuối cùng của MACV, anh ta cẩn thận cuốn lá cờ lại, để gọn vào một cái bao giống
như bao đựng đồ đánh gôn, đưa lên máy bay. Phi cơ cất cánh bay vút ra Biển Đông.
Toán lính đó là những người cuốicùng của đoàn quân trên một nửa triệu tham chiến
ở ViệtNam. Số c̣n lại, 159 người chỉ là để gác toà Đại sứ và 50 nhân viên văn
pḥng Tùy Viên Quốc Pḥng DAO. Cùng ngày đó, 67 tù binh Mỹ, nhóm cuối cùng của
tổng số 595 người, được chở từ sân bay Nội Bài, Hà Nội tới phi trườngquân sự Mỹ
Clark Field ở Phi Luật Tân.
"Một khoảng thời gian coi được" đă bắt đầu từ hôm đó, ngày 29 tháng Ba, 1973.
Và đúng hai năm sau, cũng ngày 29 tháng Ba, 1975, quân đội Bắc Việt tiến vào Đà
Nẵng. Trên thực tế một khoảng thời gian coi được đă kết thúc. Như vậy ngoài tài
ba lỗi lạc, Kissinger c̣n là một nhà tiên tri! Đổ hết cho Watergate "Nếu không
có sự sụp đổ của quyền hành pháp v́ vụ Watergate, tôi tin rằng chúng ta có thể
thành công." Kissinger bào chữa. Trong cuốn "Kết Thúc Chiến Tranh Việt Nam"
(Ending the Vietnam War). Kissinger tiếp tục cho rằng Watergate đă làm ông Nixon
suy yếu, không c̣n sức mạnh để ép buộc việc thực thi Hiệp Định Paris nữa. Hơn
nữa v́ quyền lực hành pháp không c̣n mạnh nên Quốc Hội đă cắt giảm viện trợ cho
Miền Nam. Hai lư do Watergate và Quốc Hội cắt viện trợ chắc chắn đă là hai yếu
tố quyết định. Tuy nhiên, rơ ràng là lập trường bỏ rơi Miền Nam th́ ông đă có
trước cả Watergate. Rồi sau Watergate, tại sao khi thấy Quốc Hội bắt đầu cắt
viện trợ, cả ông lẫn Nixon đă không biện hộ cho Miền Nam trên căn bản những cam
kết? Tới lúc gần sụp đổ, Kissinger lại c̣n chối đi là chẳng có cam kết bí mật
nào cả. Ngoài ra, Kissinger c̣n đem một lư do khác để giải thích việc Quốc Hội
Mỹ cắt quân viện. Đó là v́ họ đă bị "ảo tưởng về hoà b́nh" (illusion of peace).
Có hoà b́nh và danh dự rồi đâu có cần thêm quân viện. Nhưng ai là người mang lại
ảo tưởng của "hoà b́nh và danh dự? "Chắc chắn rằng dù Kissinger có giải thích
kiểu nào đi nữa, các sử gia sẽ c̣n nghiên cứu về lâu về dài tiến tŕnh của giải
pháp Việt Nam. Cho đến nay, có những vấn đề về đệ nhất, đệ nhị thế chiến cũng
c̣n đang được mổ xẻ. Chiến tranh ViệtNam là một mảng đen tối trong lịch sử nước
Mỹ.
NGUYỄN TIẾN HƯNG
(Trích sách “Khi Đồng Minh Tháo Chạy” sắp phát hành.)