Khi Dong Minh Thao Chay - Nguyen Tien Hung
“Rút cuộc, chúng ta chỉ lo tháo chạy. Ư chí dân tộc Hoa Kỳ đă sụp đổ” (In the
end, we simply cut and ran. The American national will had collapsed). Đó là lời
tuyên bố của vị Đại sứù Mỹ cuối cùng tại Miền Nam (New York Times, 30/4/85).
Mỹ muốn chạy! Nhưng chạy như thế nào? Tác giả cuốn Khi Đồng Minh Tháo Chạy (KĐMTC),
giáo sư Nguyễn Tiến Hưng, là nhân chứng duy nhất trên tuyến liên lạc cấp tối cao
Việt-Mỹ vào những ngày tháng cuối cùng, c̣n lại ngày hôm nay. Từ vị trí đó, ông
đă chứng kiến nhiều thảm kịch cùng nhiều hành động bi hùng bên trong hậu trường
bang giao giữa hai nước. Ngay trước khi con thuyền Miền Nam sắp ch́m đắm, toàn
bộ công hàm tối mật từ Toà Bạch Ốc tới Dinh Độc Lập suốt thời gian bốn năm
(1971-1975) lại được trao phó cho ông. Vô cùng bàng hoàng, ông thấy rơ sự bất
công to lớn và sự đối xử tàn tệ đối với nhân dân Miền Nam. Sau này, Tổng Thống
Thiệu và Đại sứ Martin c̣n kể cho ông nghe và ghi lại nhiều điều tâm huyết trước
khi cả hai tạ thế.
Ngày 30 tháng 4, 1975, đang lúc đi chuyến công tác cuối cùng, trong ḿnh chỉ c̣n
vỏn vẹn 200 đôla, được một thày cũ Warren Nutter cho thêm 50 đôla, ông thuê
pḥng họp báo. Với đầy đủ bằng chứng về những bất công, ông đặt trách nhiệm và
yêu cầu Hoa Kỳ hăy đền bù phần nào bằng cách cứu vớt và chấp nhận cho một triệu
người Việt được tỵ nạn. Dự kiến ban đầu chỉ vỏn vẹn có 50.000 người. Việc này
gây xúc động mạnh tại Quốc Hội, Chính Phủ và truyền thông Hoa Kỳ. Sau đó, đă có
sự thay đổi về thái độ đối với việc chấp nhận và tài trợ cho đoàn người di tản.
Viết cuốn KĐMTC, một hoài băo ấp ủ suốt 30 năm, ông muốn tổng kết lại cho đồng
hương các t́nh tiết ở
hậu trường từ việc Hoa Kỳ tháo gỡ, bỏ chạy, cho tới sự kiện suưt xảy ra cuộc
đụng độ mà hậu quả không
thể lường được giữa quân đội Mỹ-VNCH. Và rồi nếu xảy ra, t́nh trạng sẽ c̣n bi
đát đến chừng nào cho
cuộc di tản sau đó (?). Chung cuộc là sự vươn lên huy hoàng của đoàn người Mỹ
gốc Việt đầy can trường,
quả cảm, đă đến từ phía sau lưng của Nữ Thần Tự Do.
Du học Hoa kỳ từ 1958, Giáo sư Nguyễn Tiến Hưng giảng dạy kinh tế tại các Đại
Học Hoa Kỳ từ 1963, và là
kinh-tế-gia cho Quỹ Tiền Tệ Quốc tế (IMF) 1966-1970. Năm 1971, ông gặp Tổng
Thống Thiệu đề nghị sáng kiến hoà b́nh “Nam-Bắc Hiệp Thương” giống như mô h́nh
thương mại giữa Đông và Tây Đức. Từ những vị trí đặc biệt, ông đă tham gia vào
việc tái thiết nền kinh tế: Phụ Tá Tổng Thống về Tái Thiết 1973, Tổng Trưởng Kế
Hoạch 1973-1975, đồng thời là người điều phối viện trợ về mặt kinh tế toàn quốc.
Ngoài cuốn The Palace File (Hồ Sơ Mật Dinh Độc Lập) viết với Jerold Schecter, GS
Hưng c̣n là tác giả nhiều sách về kinh tế, và viết xă luận cho tờ Washington
Post, New York Times và International Herald Tribune. Trong thập niên 1990, ông
làm Cố vấn cho Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF và Ngân Hàng Thế Giới WB về nhiều dự án
chuyển đổi kinh tế và cứu đói giảm nghèo, kể cả tại Việt Nam sau đổi mới.
Hiện nay, ông là giáo sư Đại Học Howard tại thủ đô Washington của Hoa Kỳ.
CHƯƠNG 17: Một Cố Gắng Cuối Cùng
“Hăy gửi đến cho ta những kẻ mệt nhọc, những người nghèo khó; Những đám nhân
quần co cụm, đang khao khát thở bầu không khí tự do…Hăy gửi họ đến cho ta: những
người vô gia cư, những người bị băo tố dập vùi tơi tả; Ta đang nâng cao ngọn đèn
bên cạnh cánh cửa vàng.”
(Trích đoạn thơ The New Colossus của Emma Lazarus )
Tay Bà giơ bó đuốc cao ngất như ánh đèn hải đăng. Từ năm 1885, Bà đứng phía
ngoài hải cảng New York để đón nhận biết bao nhiêu đoàn người di dân. Nghèo khó,
nhem nhuốc, họ đă tới với Bà sau những cuộc hành tŕnh vượt đại dương khó khăn,
nguy hiểm. Nhà điêu khắc Auguste Bartholdi lấy cảm hứng từ tượng Hy Lạp “Người
Khổng Lồ Đảo Rhodes” (Colossus of Rhodes) đă cùng với kỹ sư Gustave Eiffel (người
thiết kế tháp Eiffel) mất gần chín năm trời đẻâ hoàn thành kỷ vật nước Pháp tặng
cho Hoa Kỳ vào dịp lễ độc lập năm 1884. Pháp đặt tên cho kỳ công này là “Tự Do
Chiếu Sáng Thế Giới.” Con tàu Isère đă phải chở 350 bộ phận cồng kềnh tới để lắp
ráp thành tượng đặt trên đảo Liberty ngoài bờ Manhattan. Người Mỹ gọi kỳ công
này là “Tượng Tự Do.” Việt Nam ta gọi là “Nữ Thần Tự Do,” có lẽ là v́ trông bà
đẹp như thần Hy Lạp, nhưng lại từ bi, bao dung (1).
Nữ thi sĩ Emma Lazarus
(1849-1887) đă làm một bài thơ tưạ đề “Pho Tuợng Vĩ Đại Mới” (The New Colossus).
Mới, v́ tượng ở Hy Lạp cũ, dựng lên để kính thần Apollo (304 trước Công Nguyên)
là một người khổng lồ, vạm vỡ, cầm bó đuốc đứng gác cửa vào cảng Mandraki, mỗăi
chân đứng trên một ḥn đảo. Tàu bè ra vào đều phải chui qua dưới hai chân pho
tượng. Nhưng Nữ Thần Tự Do th́ khác hẳn. Ngoài cửa biển lúc hoàng hôn, Bà cầm bó
đuốc đứng chiếu sáng. Là “Mẹ của nhữũng người bị đầụy ải” (Mother of Exiles),
con mắt Bà hiền từ như đang mời gọi.
Theo tiếng gọi của Bà, bao nhiêu di dân từ các quốc gia khác đă sang Tân Thế
Giới, thay đổi hẳn thành phần dân số Mỹ. Năm 1790, khi có cuộc kiểm tra đầu tiên,
đa số (75%) dân Mỹ là người gốc Anh Quốc. Từ đầu thế kỷ 19, các sắc tộc khác tới
ngày một đông. Từ 1820 khi chính phủ bắt đầu ghi chép sổ sách di trú cho đến
1975 đă có tới 50 triệu người nhập tịch. Trong thập niên 1840 và 1850, từng trăm
ngàn người Đức quốc đă tới để chạy trốn cảnh nghèo đói và bị truy nă. Gần một
triệu người Irish di tản sau ‘nạn đói khoai tây’. Cuộc di cư lớn nhất là giữa
năm 1901 và 1910: tám triệu người đă tới từ Hungary, Ư, và Nga.
Rồi bà cứ tiếp tục mời gọi, chào đón. Sau khi kết thúc bao cuộc chiến, bà c̣n
tiếp nhận cả những đoàn
người di tản, như từ Hungary (1956), Cuba (1959-1960), hay mới đây, từ một số
nước Đông Âu.
Cuộc chiến Việt Nam kết thúc ngày 23 tháng 4, 1975
Ngày 22 tháng 4, tôi nghe tin TT Thiệu từ chức. Ngay hôm sau, ngày 23 tháng 4
(24/4 giờ Sàig̣n), TT Ford lên chiếc máy bay Air Force One để đi New Orleans
diễn thuyết tại đại học Tulane. Mọi người chờ đợi xem ông sẽ nói ǵ. Chiều hôm
đó, như để lấy thêm can đảm, ông Ford đă uống một ly rượu cocktail, trong một
tiệc chiêu đăi. Thế rồi dơng dạc, ông bước vào nơi tụ hợp. Đây là một sân chơi
banh trong nhà rất rộng răi, đă chật ních với hàng ngàn sinh viên. Cử toạ vỗ tay
chào đón, cũng b́nh thường như đă diễn ra ớ các đại học khác mỗi khi có Tổng
Thống tới thăm.
Thế nhưng, bầu không khí bỗng nhiên đổi hẳn khi Tổng Thống Ford chậm răi nghiêm
nghị, dằn từụng tiếng:
“Đối với Hoa Kỳ, chiến tranh Việt Nam đă kết thúc rồi.”
Giảng đường như muốn vỡ ra v́ tiếng vỗ tay, huưt sáo, la ḥ vui mừng. Câu tuyên
bố lịch sử này đă được
đánh máy thêm vào bài diễn văn lúc chiếc Air Force One c̣n đang bay trên ṿm
trời cao (2):
“Nước Mỹ có thể lấy lại được niềm hănh diện đă có trước (chiến tranh) Việt Nam.
Nhưng niềm hănh diện ấy
sẽ chẳng có thể đạt được bằng cách tham dự trở lại một cuộc chiến mà riêng đối
với Mỹ nó đă chấm dứt rồi.”
Phụ Tá Ron Nessen nhận xét là chỉ mới hai tuần trước đó, ông c̣n ra Quốc Hội đọc
diễn văn xin thêm quân
viện cho VNCH, mà tại Tulane, “chẳng thấy ông nói một lời nào nữa về viện trợ
thêm cho Miền Nam.” TT Ford chỉ nói tới tương lai:
“Theo tôi, bây giờ đă tới lúc chúng ta phải nh́n tới một nghị tŕnh cho tương
lai. Tôi yêu cầu là ta hăy ngừng
hẳn chiến trận, cũng như những lời buộc tội, tố cáo lẫn nhau của quá khứ. Tôi
yêu cầu chúng ta hăy chấp
nhận trách nhiệm của lănh đạo, chúng ta sẽ là hàng xóm tốt đối với mọi người và
không là thù địch của
bất cứ ai.”
Và như vậy, “Ông Ford đă làm một việc mà trong 30 năm, chưa Tổng Thống Mỹ nào
làm nổi.” Mọi người trong đoàn tuỳ tùng của Tổng Thống tại Đại học Tulane đều
hết sức vui vẻ, kích động về lời tuyên bố này (3).
Thế là xong. Ông Hương vừa mới lên chức Tổng Thống được vài ngày, Tổng Thống Mỹ
đă nói ‘toạc móng
heo’ ra là “Đối với Hoa Kỳ, chiến tranh Việt Nam đă kết thúc rồi.” Ở Sàig̣n, khi
được các thuộc cấp cho
hay về bài diễn văn, ông Von Marbod xúc động: “Ông Ford đă giơ cao tấm vải
giường trắng. Tôi đă vô cùng bàng hoàng và hổ thẹn.”
Miền Nam đă đi vào dĩ văng. Nhưng c̣n tàn dư của cuộc chiến, và đối với những
người bại trận th́ sao đây?
Chẳng thấy ông Ford b́nh luận ǵ, hay là muốn lờ đi chăng? Chỉ thấy báo chí nói
tới chính phủ đang cho di
tản gấp rút số người Mỹ và một số người làm cho Mỹ. Nghe tin tức từ hành lang
Quốc Hội là tất cả cũng
chỉ 50,000 người Việt thôi, tôi nhất định hoạt động tối đa để cứu vớt đám người
đang tuôn ra Biển Đông (4).
Về việc Mỹ chỉ định cứu một số người quá giới hạn như vậy, sau này đă được Đại
sứ Martin xác nhận trong một buổi điều trần tại Quốc Hội như đă trích dẫn trong
Chương 14. V́ tính cách lịch sử của tài liệu này (nó chứng minh rơ ràng về số
người và ngày giờ mà Washington định cứu), tôi đă trích một phần của văn
bản ông Martin điều trần trước Quốc Hội ngày 27 tháng 1, 1976 (ngày kỷ niệm năm
thứ ba của Hiệp Định Paris) và in vào Phụ Lục F.
Để nhấn mạnh về thời điểm của ngày 25 tháng 4, 1975,
ông c̣n nói tiếp:
“Vào ngày 25 tháng 4 (1975), sau cùng, Toà Đại sứ mới
nhận được quyền cho phép tạm dung thêm số người thân
nhân (người Mỹ) và một giới hạn là 50.000 nguời Việt
vào thành phần chịu rủi ro cao độ. Đó là chỉ c̣n có 4
ngày trước lúc cuối cùng rời khỏi Việt Nam”(5).
Nh́n vào Nữ Thần Tự Do
Làm ǵ được bây giờ đây? Tôi tự hỏi. Hồi năm 1954,
sau hiệp định Genève, cũng có cuộc di tản. Gần một
triệu người được tàu Mỹ chở vào Nam. Sau đó Mỹ c̣n
giúp tiền bạc cho ngân sách định cư. Thời gian di tản
lại được kéo dài tới 300 ngày. Và lúc đó chấm dứt
chiến tranh căn bản là giữa quân đội Việt Minh và Pháp.
Bây giờ, sau mười năm trời trực tiếp can thiệp với
trên nửa triệu quân, chiến đấu bên cạnh một triệu
quân đội VNCH, thiệt hại bao nhiêu nhân mạng, bao nhiêu
tiền của, chẳng lẽ lại chỉ di tản có 50,000 người
thôi?
Đă 30 năm rồi mà mỗi khi tới ngày 30 tháng 4 (1 tháng 5
giờ Việt Nam), h́nh ảnh pho tuợng Nữ Thần Tự Do lại
hiện ra rơ ràng trong trí óc tôi. Hè 1958, khi lên New York
lần đầu tiên, tôi được ra đảo Liberty để du ngoạn.
Rất là thích thú. “Tượng đẹp và hùng vĩ quá sức”,
tôi nói với anh bạn hướng dẫn. Thế thôi, không có ấn
tượng ǵ sâu xa cho lắm sau chuyến đi. Nhưng ngày 30 tháng
4, 1975 (tại Washington) th́ khác. Buổi sáng hôm ấy, tôi
hết sức mệt mỏi, ră rời, v́ những biến cố, trăn trở
từ mấy tuần trước. Và phải sửa soạn đểâ sắp làm
một công việc mà đối với tôi nó là lịch sử trong
cuộc đời.
Tâm trí tôi lúc đó rối bời. Không biết phải làm ǵ
để cứu vớt thêm đoàn người đang bồng bế nhau túa ra
Biển Đông. Nhưng rồi, như một tia sáng chiếu rọi, tôi
nghĩ đến Nữ Thần Tự Do, và tới đoàn người Cuba di
tản hồi năm 1960, sau khi Fidel Castro lên nắm chính quyền.
Bạn bè và thân nhân của họ là người Mỹ gốc Cuba lúc
đó đă tranh đấu thành công. Tôi c̣n nhớ là hồi đó họ
đă đăng tải rất nhiều lời kêu gọi ḷng từ tâm của
nhân dân Hoa Kỳ trên các báo chí với h́nh pho tượng Nữ
Thần Tự Do. Tôi lại nảy ra ư nghĩ là ḿnh cũng có thể
làm như vậy.
Hiện trong tay, tôi đă mang đi được toàn bộ hồ sơ mật
về những trao đổi giữa hai Tổng Thống Nixon, Ford và
Tổng Thống Thiệu. Như những lá thư t́nh, nếu chỉ là
một vài thư lẻ tẻ th́ người ta có thể cho là nó đă
được viết trong lúc t́nh nhân bốc đồng. Nhưng gộp chung
lại, và đặt nó trên căn bản thương thuyết là bốn năm
trời, th́ tấtù phải cóù ư nghĩa sâu xa. Tôi suy luận:
người Mỹ đặt cao những giá trị xây trên căn bản công
b́nh, ṣng phẳng. Do vậy, họ luôn đặt nặng cái quyền
hạn của ḿnh. Chẳng vậy mà cứ 1.000 người th́ đă có
tới 3.1 luật sư, quá nhiều so với các nước khác như
Pháp (0.4), Đức (0.8), Nhật (0.1). Như thế, tôi nghĩ nếu
ḿnh dựa trên căn bản công b́nh (chính phủ Mỹ đă bội
ước với nhân dân Miền Nam), và kêu gọi tới tinh thần
bao dung, mà biểu tượng là Nữ Thần Tự Do, th́ may ra có
hy vọng phần nào sẽ cứu được một số người đông
hơn.
Tôi muốn in ngay cả một trang cầu cứu “SOS” trên tờ
Washington Post và một trên tờ New York Times. Nhưng lấy tiền
đâu mà in bây giờ? Trường hợp cầu cứu di dân Cuba là
công việc của cả mộât tập đoàn, và với đầy đủ
phương tiện tài chánh. Bây giờ đơn thương độc mă, trong
túi tôi chỉ vỏn vẹn có 300 đôla lúc rời Sàig̣n. Mà
mỗi trang báo cũng phải trả 6.000 đôla.
Ngày 14 tháng 4, khi Tổng Thống Thiệu bảo tôi đi Washington
công tác, tôi cũng đă nghĩ đến việc đăng hai tờ báo
này nhưng mục đích lúc đó là để cầu cứu Quốc Hội
chấp thuận cho VNCH vay tiền, thay v́ bỏ phiếu chống viện
trợ. Một lần duy nhất nói tới tiền bạc, tôi đề nghị
Tổng Thống Thiệu cấp cho tôi một ngân khoản là 20.000â.
Số này sẽ dùng đăng hai trang báo (12.000). Số c̣n lại
8.000 để tôi chi tiêu cho chuyến đi và ngoại giao hành lang
như hội họp, chiêu đăi. Ông Thiệu chấp thuận ngay, nhưng
ông lại không đưa tiền và nói tôi sang Thủ Tướng yêu
cầu cho trích từ Quỹ VINOPO. VINOPO (Vietnam Procurement Office)
là một Cơ Quan Tiếp Vận đặt ở Toà Đại Sứ VNCH,
Washington, D.C. Cơ quan này đấu thầu và mua gạo về Sàig̣n
qua chương tŕnh viện trợ Mỹ. Mỗi một tấn gạo phải
đóng vào quỹ VINOPO là 1 đôla. Đó là cơ quan đă được
lập ra năm 1973 vừa để giúp tiếp vận vừa để có ngân
quỹ lo viêc hoạt động ngoại giao. Hè năm 1973, có lần
tôi hỏi TT Thiệu xem công việc ngoại giao hành lang,
“public relation” của VNCH ra sao? Ông cho biết căn bản
chẳng có ǵ hết, chỉ có cơ quan chính thức là Toà Đại
sứ mà thôi! Làm sao lại có thể như vậy được? Những
quốc gia đồụng minh có quan hệ quan trọng với Mỹ như
Đài Loan, Do Thái, Đại Hàn, đều có vận động hành lang
rất rộng răi. Sau đó VINOPO được thành lập, nhưng VNCH
cũng chưa tổ chức được những vận động hành lang.
Vừa tới Washington, tôi gọi cho Giám đốc VINOPO, cũng là
một anh bạn tôi, nhưng anh ấy lại không có mặt ở sở
v́ đang trên đường đi công tác mua gạo. Nh́n vào ngân
khoản tiết kiệm của gia đ́nh, thấy c̣n gần ba ngàn đô,
tôi bèn tạm mượn mang ra tiêu vào công tác vận động.
Muốn gặp được bà thơ kư hay anh phụ tá cho một nghị
sĩ hay dân biểu, dù là chỗ quen biết, chiũ có cách là
mời dùng cơm trưa hay cơm chiều để khỏi mất thời giờ
của họ th́ may ra mới mời được. Sáng ngày 25 tháng 4,
anh bạn Giám đốc VINOPO trở về Washington. Anh ấy điện
thoại ngay cho tôi và cho biết là ngân quỹ trong sở đă
bị nhân viên biển thủ hết rồi! Và anh đă khai báo đầy
đủ cho cơ quan FBI. Thế là kế hoạch đăng báo lại phải
bỏ đi. Sau này, v́ không hoàn lại được số tiền vay
của gia đ́nh, tôi cũng đă gặp phải vấn đề khó khăn.
Hăy cứu vớt đoàn người lênh đênh trên biển cả
Bây giờ, tôi muốn đăng hai tờ báo để xin cứu vớt
người tỵ nạn. Không có tiền và chẳng biết làm ǵ
khác, tôi t́m đến ông Warren Nutter, ông thày cũ, trước
làm Phụ Tá Bộ trưởng Quốc Pḥng phụ trách về khía
cạnh kinh tế của chương tŕnh “Việt Nam Hóa” thời
Nixon. Ông đă tậỉn t́nh ủng hộ VNCH trong thời gian qua
và đă sang Sàig̣n gặp riêng ông Thiệu để cố vấn. Mời
ông về nhà dùng cơm trưa, tôi muốn ông cố vấn để cứu
giúp người di tản. Giữa lúc đó th́ máy điện thoại reo,
và ở đầu giây bên kia là Von Marbod, gọi từ Tân Sơn
Nhất:“Tôi đang trông thấy Rick bế mẹ già anh lên chiếc
C-141, và gia đ́nh anh đang bước lên tiếp theo.” Rick
Armitage (Thứ Trưởng Ngoại Giao dưới thời Tổng Thống
George Bush, nhiệm kỳ đầu) đă lái xe tới nhà chị tôi ở
đường Phan Đ́nh Phùng và chở bà cụ cùng gia đ́nh ra phi
trường để bay sang phi cảng Clark ở Phi luật Tân. Hoá ra
thay v́ đợi tôi về, vừa có quyền cho tạm dung vào Mỹ,
Đại sứ Martin đă cấp giấy phép để Von Marbod cùng Rich
Armitage di tản gia đ́nh tôi. Hôm đó là ngày 25 tháng 4.
Yên tâm cho mẹ già rồi, nhưng c̣n bạn bè, đồng bào th́
sao đây? Tôi hỏi ông Nutter xem có nên gặp ông Kissinger
hoặc Schlesinger để kêu nài họ giúp tăng số di tản hay
không? “Ít nhất Mỹ cũng phải cho tỵ nạn một triệu
người, bằng số di tản từ Bắc vào Nam năm 1954,” tôi
muốn đề nghị. “Họ đă phủi sạch tay về Việt Nam
rồi,” ông Nutter nói. “Để tôi nghĩ xem có cách nào khác
không.” Hôm sau, ông gọi lại và cố vấn cho tôi: “Có
lẽ tranh đấu bằng một cuộc họp báo là có hiệu quả
nhất.” V́ các hăng thông tấn sẽ phổ biến rộng răi,
toàn cầu. Ông nói rồi ông sẽ xem lúc nào là thời điểm
tốt nhất để làm việc này. Tôi vội vàng ngồi xuống
làm việc liên tục nhờ mấy ly cà phê thật đậm để
phác thảo một bài diễn văn sẽ đọc khai mạc cuộc họp
báo.
Nhưng bây giờ xong cuộc rồi, tôi có tư cách ǵ mà lại
đ̣i họp báo như các quan chức lớn? “Nếu anh nhất
định tiết lộ mấy cái thư mật th́ tôi chắc các hăng
thông tấn sẽ tới.” Ông Nutter góp ư. Không c̣n đắn đo
ǵ nữa, tôi trả lời: “Vâng tôi đă quyềt định
rồi.”
Quẩn trí, tôi tiếp tục
liên lạc với mọi người quen
biết trên Quốc Hội, cả trong lẫn ngoài chính quyền.
Không nhẽ đối với nhân dân Cuba, dù Mỹ chưa có đổ máu
chiến đấu, mà c̣n tiếp cứu tới 650.000 người khi Fidel
Castro lên nắm quyền, mà lúc này lại chỉ nghĩ đến con
số có 50.000 người Việt thôi, tôi tự hỏi.
Việc thấy phải làm ngay là đối với anh em trong Bộ Kế
Hoạch và Phát Triển của tôi. Tôi liền đến nhà bà Anna
Chennault (ở ngay trong toà nhà Watergate), chủ tịch hăng máy
bay Flying Tigers để yêu cầu bà cố giúp cho một máy bay
vào Sàig̣n di tản ban lănh đạo và nhân viên tại Bộ.
Làụ người có nhiều cảm t́nh với Việt Nam và cũng đă
thu được nhiều lợi lộc vận chuyễn hàng hoá vào Sàig̣n
trong các năm trước, bà đă đồng ư. Thế nhưng, khi máy
bay đáp xuống Phi Luật Tân th́ phải ngưng lại v́ Tân Sơn
Nhất đă bị ném bom, pháo kích!
Về những liên lạc riêng tư, chúng tôi cũng đă liên lạc
với nhiều nghị sĩ và dân biểu để yêu cầu họ viện
trợ, và nếu không được th́ cứu giúp đoàn người di
tản. Chúng tôi có nhận được tất cả là 31 thư trả
lời (xem Danh Sách). Hầu hết là họ đă duỗi ra. Có ông
nghị tên là Bennett Johnston, tiểu bang Louisiana c̣n viết
mỉa mai về việc xin cứu trợ cho công cuộc di tản:
“Đạo luật (về giúp di cư) đang được Quốc Hội xem
xét đă có điều khoản rơ ràng cấm chỉ không được
giúp một nước cộng sản hoặc trực tiếp hay gián tiếp
qua một cơ quan như Liên Hiệp Quốc. Theo tôi, Miền Nam
Việt Nam giờ đây đă nằm dưới quyền kiểm soát của
cộng sản rồi, bởi vậy viện trợ hay cứu trợ phải
được cung cấp từ các nước đă viện trợ quân sự cho
Bắc Việt – Nga Xô và Trung Cộng.”
Tôi lại t́m đến vị Tuyên Uư Thượng Viện, Mục sư
Edward Elson. Nói tới h́nh ảnh người xứ Samaritan đầy
ḷng nhân ái trong Kinh Thánh, tôi nhờ ông tác động những
phần tử tương đối c̣n chút hảo tâm: “hăy cứu vớt
đoàn người chúng tôi đang trốn chạy ra biển cả,” tôi
cầu cứu.
Mục sư Elson đă hợp tác chặt chẽ. Ông liền gọi cho
một số nghị sĩ để đánh động lương tâm của họ
đừng chống đối việc tỵ nạn của người Việt Nam
nữa.
Sáng ngày 29 tháng 4, radio vẫn nói tới con số di tản giới
hạn. Nhưng vào khoảng trưa, tôi nghe loáng thoáng là người
ta đă bắt đầu nói tới con số kế hoạch 120.000 người
Việt bây giờ được liệt vào thành phần có “nguy hiểm
cao độ.” Lại thêm chút hy vọng. Biết đâu, biết đâu
đấy, chính phủ Hoa Kỳ đă thay ḷng đổi dạ được đôi
phần. Dù chỉ là một tia hy vọng nhỏ nhoi, nó cũng đă
giúp nâng đỡ tinh thần sa sút của tôi lúc đó. Tiếp tục
hoạt động và theo rơi tin tức từng giờ từng phút, tôi
gọi ông Nutter vào buổi chiều, khi ông c̣n đang ở văn
pḥng tại Viện Kinh Doanh Mỹ (American Enterprise Institute)
trên Phố 17th, Washington D.C. để hỏi ư ông xem đă tới
lúc họp báo chưa? Viện này được gọi là Bộ Óc (Think
Tank) của Đảng Cộng Hoà. Tuy nhiên, ở đó cũng có nhiều
người không đồng ư với chính phủ Ford lúc đó. “Giờ
chót sắp tới rồi; bất cứ lúc nào. Người ta đang ùa ra
biển để chờ được cứu vớt,” ông bảo tôi đến gặp
ông ngay. Tôi đưa ông xem bài diễn văn tôi vừa soạn xong.
Ông góp thêm ư cho tôi là phải nói việc cứu vớt việc
người di tản không những là một bổn phận mà về lâu
về dài, c̣n có lợi cho Mỹ. Ông có ư kiến là tôi sẽ
chỉ tiết lộ ra độ hai, ba bức thư thôi, c̣n giữ lại
làm đ̣n bẩy (leverage). Ư ông muốn nói là cứ thử để
xem kết quả ra sao. “Nếu họ cứ nhất định chỉ cho di
tản có 50.000 th́ ḿnh sẽ tính bước tới.”
Chúng tôi ra đường đi bộ tới khách sạn May Flower nằm
gần ngay bên cạnh, trên đường Connecticut Avenue, để thuê
một pḥng làm địa điểm họp báo. Giá pḥng họp là
250 đôla. Trương mục tiết kiệm của gia đ́nh th́ tôi
đă tiêu hết. Tôi lại không muốn hỏi ông Đại sứ VNCH
tại Washingon v́ e ngại là ông sẽ cản cuộc họp báo
lại. Chỉ c̣n đúng 200! Ông Nutter mủi ḷng bèn xuất tiền
riêng giúp thêm 50 đôla, đủ để thuê pḥng lớn họp báo.
Buổi trưa ngày 30 tháng 4, (mồng 1 tháng 5 giờ Sàig̣n), ông
Nutter dùng phương tiệỉn của Viện gửi một bản thông
cáo cho các phóng viên và kư giả qua hăng thông tấn
Associated Press:
“Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng, Cựu Tổng Trưởng Kế Hoạch
và Cựu Phụ Tá Đặc Biệt của Tổng Thống VNCH Nguyễn
Văn Thiệu, sẽ tổ chức một buổi họp báo lúc 4 giờ
chiều hôm nay tại Khách Sạn May Flower, Pḥng Pan American,
để nói về bản chất những thoả thuận bí mật giữa
cựu Tổng Thống Nixon và Tổng Thống Thiệu. Sẽ tiết lộ
hai lá thư của ông Nixon gửi ông Thiệu.”
Đúng giờ, các kư giả báo chí và truyền h́nh ào ào kéo
đến. Mọi người ai cũng nhao nhao, nóng ruột. Không muốn
mất th́ giờ, họ chỉ muốn đến để lấy mấy bức thư
chứ không muốn nghe tŕnh bày dài ḍng văn tự. Thái độ
quá khích của báo chí làm tôi thêm phần bực tức. v́ đă
nghe họ b́nh luận quá nhiều về miền Nam trong bao nhiêu
năm qua, tôi lên giọng, nói oang oang vào micro:
“Thưa quư vị, đây là chỗ của tôi. Quư vị phải cho
tôi cơ hội giải thích cái bối cảnh của các lá thư đó
trước khi tôi trao cho quư vị. Nếu vị nào không muốn nghe
tôi giải thích th́ xin mời ra .”
Có tiếng lao xao càu nhàu, la ó. Nhưng tôi cứ tiếp tục:
“Thưa Quư vị,
“Cảm ơn qúy vị đă tới đây khi mới chỉ vừa được
thông báo;
“ Mục đích cuộc họp mặt hôm nay là để tôi mang ra ánh
sáng cho công luận biết dến một số sự việc liên hệ
tới trách nhiệm của Hoa Kỳ đối với nhân dân miền Nam
Việt Nam. Cụ thể hơn, tôi muốn nói tới những cam kết
mật của Hoa Kỳ đối với Việt Nam vào thời điểm
thương thuyết hiệp định Paris…”
Đề cập qua tới việc ông Thiệu và chính phủ ông đă
từ chức, tôi nói tiếp:
“Giờ đây, tôi đang nói chuyệân với qúy vị với tư
cách cá nhân. Tôi làm công việc này nhất mực theo lương
tâm của tôi, và Tổng Thống Thiệu hoàn toàn không biết
trước.”
“Tôi chắc chắn rằng việc tôi nói với quư vị hôm nay
không những nó có liên quan tới quyền lợi của người
Việt Nam, nhưng về lâu dài, nó c̣n liên quan trực tiếp
tới quyền lợi của nhân dân Hoa Kỳ.”
Bằng một cách nhắc khéo tới lời tuyên bố cạn tầu ráo
máng của Tổng Thống Ford mấy hôm trước đó là “hăy
quên đi quá khứ và nh́n tới một nghị tŕnh tương lai’,
tôi tiếp:
“Không thể có tương lai, nếu không có dĩ văng và hiện
tại. Làm sao mà có được một nghị tŕnh tốt cho tương
lai nếu không hiểu biết thấu đáo và làm kết toán đày
đủ về hiệu quả của những ǵ ḿnh đă làm trong quá
khứ?
“Chữ tín của nước Mỹ, một yếu tố nhiều khi là
quyết định giữa hoà b́nh hay chiến tranh, cần phải
được các quốc gia coi trọng nếu chính sách ngọai giao Hoa
Kỳ muốn được thành công.”
Sau đó tôi tóm tắt diễn tiến của cuộc hoà đàm Paris,
nhấn mạnh việc Mỹ đă bội ước. Tổng Thống Nixon và
Cố vấn Kissinger đă ép ông Thiệu phải kư kết, trên căn
bản là củ cà rốt và cái gậy. Củ cà rốt là Hoa Kỳ
đă cam kết rất rơ ràng là sẽ tiếp tục viện trợ đầy
đủũ cho VNCH và bảo đảm thực thi hiệp định đ́nh
chiến. Tôi chỉ trưng vài đoạn quan trọng trong hai bức
thư của Tổng Thống Nixon (thư ngày 14 tháng 11, 1972, và
ngày 5 tháng 1, 1973). Để kích thích sự ṭ ṃ, tôi nói
thêm là tôi chỉ cho họ xem hai lá thư này, nhưng c̣n giữ
nhiều thư khác. Rồi trưng một vài đoạn từ một bức
thư đề ngày 17 tháng 1, 1973 trong đó, Nixon c̣n nói rơ hơn
vềà những mật ước đối với Miền Nam.
Nhấn mạnh là với những cam kết
vững vàng đó, VNCH đă
chấp nhận kư vào bản Hiệp định ngày 27 tháng 3, 1973
giúp Hoa Kỳ thu lượm được bốn kết quả rơ ràng:
- thứ nhất, rút được hết quân đội Mỹ về;
- thứ hai, toàn bộ 519 tù binh Mỹ được thả;
- thứ ba, được tuyên bố là đă mang lại “Hoà b́nh và
Danh Dự” và giữ được uy tín cho Nước Mỹ; và
- thứ tư, tiết kiệm được 20 tỷ một năm.
“C̣n Miền Nam đă được ǵ? Kéo dài được hai năm. Bây
giờ th́ phải gánh chịu bao nhiêu hậu quả, và gánh chịu
một ḿnh!”
Trong bài diễn văn, v́ nghe theo lời cố vấn của Warren
Nutter, tôi đă hoàn toàn tránh né, không đả động ǵ tới
những mật thư do chính TT Ford gửi. Như vậy để xem ông
Ford đối xử ra sao với việc di tản.
Tôi chỉ dùng vài lá thư của TT Nixon để lập luận xin
cứu vớt đoàn người đang đổ xô ra Biển Đông:
“Thưa quư vị,
“Tôi xin kết thúc buổi trinh bày ngày hôm nay với chỉ
một lời cầu khẩn tới nhân dân Hoa Kỳ. Chắc chắn rằng
nhân dân tôi đang muốn cùng tôi khiếu nại là CÔNG B̀NH
và S̉NG PHẲNG phải được đưa ra để đối xử với họ,
dù là điều kiện chính trị nội bộ Hoa Kỳ ra sao đi
nữa;
“Tôi tin tưởng rằng với quyền lực lớn mạnh về kinh
tế và ngoại giao, trong giờ phút này đây, nuớc Mỹ vẫn
c̣n có thể làm được một công việc hoàn toàn nhân
đạo, đó là cứu vớt mạng sống đoàn người đang di
tản.” “Nếu những cam kết này đă không được tôn
trọng, th́ Hoa Kỳ có thể đền bù vào đó bằng cách dàn
xếp và cứu vớt ít nhất là một triệu người dân Việt
Nam;”
“Năm 1954, Hoa Kỳ đă giúp di chuyển gần một triệu
người từ miền Bắc vào Nam. Giờ đây, sau khi trực tiếp
tham gia vào một cuộc chiến kéo dài, giúp tị nạn một
số người ít nhất cũng bằng như vậy th́ không phải là
một việc quá đáng. Tối thiểu, vào giờ phút này, Hoa Kỳ
cũng vẫn c̣n có thể xắùp xếp để có được một
khoảng thời gian ra đi tự do, hầu giúp cho một số đông
hơn được di tản.
“Nhân danh luơng tri của nhân dân Hoa Kỳ, qúi vị hăy nghĩ
tới những người đă trông cậy và tin tưởng vào bao
nhiêu hứa hẹn của đồng minh trong hai mươi năm trời.”
Trong thâm tâm, tôi nghĩ rằng nếu như năm 1954, thời gian ra
đi tự do được quy định là 10 tháng, th́ ít nhất bây
giờ cũng phải được một tháng!
Bà quay mặt về đâu?
Khi nói xong, tôi có phát bản sao hai lá thư trên. Một số
kư giả và người quay phim vây chung quanh, đi theo tôi ra
hành lang khách sạn. Murray Marder, kư giả tờ Washington Post
ngỏ lời an ủi là nghe xong, ông có nhiều thiện cảm với
dân tộc Việt Nam hơn. Ông nói “tôi sẽ cố giúp.”
Nhiều nhà báo tiếp tục đặt thêm những câu hỏi này
nọ, như về tham nhũng, độc tài, quân đội bỏ chạy,
tại sao di tản, v.v. Tôi lờ đi. Một nhà báo có bộ râu
hàm đen rậm cứ nằng nặc xin bản sao lá thư thứ ba mà
tôi có trích dẫn nhưng đă không phổ biến. Sau khi tham
khảo ư kiến với ông Nutter, tôi đă từ chối. Anh ta tỏ
ra rất bực tức.
Đến khi khi có phóng viên hỏi thêm:
“Thưa ông, cứ cho là Hoa Kỳ đă bội ước, nhưng c̣n lư
do ǵ khác khiến chúng tôi phải đưa người Việt vào Mỹ
không?” Tôâi nói ngay tới cái lư do mạnh mẽ nhất:
“Tượng Nữ Thần Tự Do đang nhắc nhở cho chúng ta rằng
nước Mỹ là đất của những kẻ bị truy nă, của di
dân.”
Đến khi nghe thấy nói tới “Nữ Thần Tự Do” để yêu
cầu cứu vớt tỵ nạn, anh chàng ta vội xen vào một câu
xỏ xiên:
“Tôi xin nhắc nhở cho ông là Nữ Thần Tự Do quay mặt
về phía Đại Tây Dương.”
Ư nói là bà quay lưng về phía Thái B́nh Dương, phía Việt
Nam chúng ta!
Vô cùng đau đớn, tôi đă không cầm được nước mắt.
Ông Nutter sửng sốt và phẫn nộ. Kéo tôi sang một bên,
ông an ủi: “Anh đă làm một việc ích lợi cho xứ sở
anh. Rồi đây nó sẽ tạo được nhiều thiện cảm, và tôi
hy vọng rằng số người Việt được cứu sẽ tăng lên
nhiều.”
Niềm yên ủi vô biên
Sau đây là những sự việc liên hệ
tới cuộc họp báo và
việc tiết lộ một số những bức thư mật:
Cùng ngày đó, ông Von Marbod mời tôi ăn tối tại một quán
nhỏ ở McLean. Tuy là một bữa ăn đạm bạc theo tiêu
chuẩn Mỹ, nhưng đối với tôi nó là bữa ăn nhớ đời.
Cho đến bây giờ nó vẫn ghi dấu ấn đậm vào trí óc tôi
bởi câu nói của ông Marbod: “Tốt, tốt. Nhưng tôi nghĩ
bấy nhiêu là đủ rồi, anh khỏi cần tiết lộ thêm nữa.
Tôi được biết là trong ṿng mấy ngày tới, tàu Mỹ sẽ
vớt hết tất cả những ai ra được ngoài biển.”
Ăn cơm tối xong, tôi bắt đầu lo về chuyện ḿnh đă
tiết lộ ra là c̣n giữ nhiều mật thư khác (dĩ nhiên là
trong đó có cả thư của TT Ford), tôi vội tới nhà một
người bạn ở vùng Maryland để ẩn trốn gần một tuần
lễ.
Ngày mồng 2 tháng 5, nhiều báo chí Mỹ và quốc tế, đặc
biệt là hai tờ uy tín nhất, Washington Post và New York Times
đă đăng tải cuộc họp báo và đặt rất nhiều câu hỏi
chung quanh vấn đề mật thư. Tờ Washington Post đăng một
h́nh hí hoạ của đại tài Herblock với đầy ư nghĩa thích
hợp. H́nh vẽ Quốc Hội Mỹ đang cho hai ông Ford, Kissinger
xem và hỏi về những thư cam kết trong các lá thư của
Nixon (xem h́nh). Báo chí c̣n t́m xem có phải thư thật hay
thư giả, và có phải chữ kư của Nixon hay không? Rất
nhanh, Toà Bạch Ốc đă phải chứng nhận về tính cách xác
thực của nó.
Đối với TT Ford, lúc đó th́ ông đă biết thực sự là
có những mật thư này v́ ngày 5 tháng 4 (như đă thuật
lại trong Chương 10), tôi đă nhờ được tướng Weyand (qua
Von Marbod) đưa tận tay cho ông vài bức thư. Và theo lời Von
Marbod, ông đă xúc động. Sau đó ông ra phi trường đón
tiếp lớp trẻ mồ côi Việt Nam vừa được chở tới San
Francisco. Tay bồng một em bé, ông bước xuống máy bay, có
chiều âu yếm. Và từ giây phút này, có thể là ông đă
thay đổi thái độ đối với vấn đề tị nạn.
Trước đó, dù sau cuộc rút lui đầy trắc trở của Quân
Đoàn II và cuộc di tản kinh hoàng từ Đà Nẵng, ông Ford
vẫn b́nh chân như vại, đi Palm Springs đánh gôn. Và Ngoại
Trưởng Kissinger c̣n mời ông bà Tổng Thống tới nhà dùng
cơm với Frank Sinatra. “Chúng ta không thể để Tổng Thống
đi như vậy được”, Robert Hartmann, một nhân viên của
ông Ford phải than lên. “Nếu lại đi ăn với Sinatra vào
cuối của tuần lễ mà tổng thống đă bị chỉ trích
hằng ngày là chỉ vui chơi trong khuôn viên những nhà triệu
phú đang khi Việt Nam bốc cháy, th́ h́nh ảnh của ông Ford
sẽ c̣n bị ê chề hơn nữa,” Phụ tá Ron Nessen kể lại
(6). Năm 1985 khi chúng tôi phỏng vấn TT Ford và đưa cho ông
đọc lại mấy bức thư của TT Nixon, ông vẫn c̣n tỏ vẻ
ngậm ngùi: “Không c̣n một nghi ngờ nào hết, đây là
những lời cam kết vô cùng quyết liệt” (“Well, there is
no doubt these were very categorical commitments”).
Như đă thuật lại, Tổng trưởng Quốc Pḥng Schlesinger,
người đă rất thờ ơ lúc con thuyền Miền Nam sắp ch́m
đắm, cũng đă phàn nàn rằng:
- “Tôi tin rằng TT Ford đă bị lừa bịp về những lá thư
này”;
- “Quốc Hội không hề hay biết chút ǵ về mấy lá thư
đó khi họ bắt đầu chạy làng khỏi Việt Nam vào mùa hè
1973ù”;
- “Tôi c̣n nhớ tôi đă vô cùng sửng sốt khi đọc một
số lá thư ấy, v́ chúng có nghĩa là Hoa Kỳ đă chạy làng
những nghĩa vụ mà chính Tổng Thống đă cam kết. Tuy
nhiên, nếu ta không biết đuợc là có những nghĩa vụ
đuợc cam kết th́ ta đâu biết đuợc là Hoa Kỳ đă chạy
làng.”
(“I believe Ford was being bamboozled on the letters;“Congress knew nothing of these letters, when it started bugging out
of Vietnam in the summer of 1973;
“I remember how surprised I was when the letters surfaced, because I
felt that they meant a welching by the United States on commitments that
had been entered into by the President. However, if you don’t know the
commitments have been entered into, you don’t know the country has
welched.”)
Đúng ba ngày sau cuộc họp báo, mồng 3 tháng 5, Kissinger thay
đổi thái độ. Như Ủy Ban Liên Bộ Định Cư Đông Dương
(Indochina Interagency Task Force) đă báo cáo: “Ngoại trưởng
Kissinger đă yêu cầu Tổng Thống Ford cho phép cấp quyền
“tạm dung” cho 150.000 người Việt và Kampuchia tỵ nạn,
với điều kiện là chính phủ phải cố gắng tái định
cư 20.000 người tại các quốc gia khác. TT Ford đă chấp
thuận và thông báo cho Tổng Trưởng Tư Pháp” (6).
C̣n về phía lập pháp của Mỹ? Sau đây là những lời
tuyên bố của một số những bàn tay đao phủ đă đưa dao
lên cắt đứt viện trợ cho Miền Nam:
Phản ứng tức thời tại Quốc Hội là có nhiều nghị sĩ,
dân biểu đă rất ngạc nhiên về những tiết lộ trong
cuộc họp báo. Tờ New York Times (2 tháng 5, 1975) đăng tin
nghị sĩ Henry Jackson tuyên bố:
- “Thật là lố bịch và nguy hiểm khi Quốc Hội và nhân
dân Hoa Kỳ phải nhờ vào quan chức ngoại quốc (ông Hưng)
để mới biết được những văn kiện tối quan trọng”;
ông c̣n thêm rằng: “Khi không chịu tiết lộ rơ ràng bản
chất và văn bản của những thoả thuận sơ bộ với Miền
Nam, phía Hành Pháp đă lừa dối một chính phủ ngoại
quốc cũng như Quốc Hội Mỹ về bản chất và quy mô
những điều do Hoa Kỳ cam kết với quốc gia đó.” (7)
- Nghị sĩ Mike Mansfield tiếp theo: “ Thật là chuyện bất
ngờ (“It looks like the jacks are coming out of the box…”), tôi
nghĩ rằng sự việc này càng được sớm làm sáng tỏ ra
th́ càng tốt cho tất cả mọi người chúng ta.” (8)
- Cùng một ngày, Ủy Ban Ngoại Giao Thượng Viện, một ủy
ban lănh đạo việc cắt viện trợ, đă yêu cầu Tổng
Thống Ford cho xem bản sao những trao đổi mật giữa hai
Tổng Thống Nixon-Thiệu. Nhưng ông Ford đă từ chối phắt
đi. Trong một bức thư gửi nghị sĩ John Sparkman, chủ tịch
của Ủy Ban, ông đă nại tới “quyền hành đặc biệt
của Hành Pháp” để làm căn bản cho việc từ chối, và
khuyên rằng “chúng ta nên xếp lại vào quá khứ những
cuộc tranh luận có tính cách chia rẽ về vấn đề Việt
Nam.” (9)
- Nghị sĩ Henry Jackson, Uỷ Ban Quốc Pḥng Thượng Viện:- “Những tiết lộ mới đây đă cho hay rằng ngành hành
pháp đă lừa dối một chính phủ nước ngoài và Quốc
Hội về những cam kết của Hoa Kỳ đối với Miền Nam
Việt Nam từ 1972 tới 1973;”
- “Chính phủ (Ford) đă tố cáo Quốc Hội là đă vi phạm
những cam kết và những ràng buộc đối với Miềân Nam,
những điều mà Quốc Hội chưa bao giờ được nghe tới,
chứ đừng nói đến là đă chấp thuận;”
- “Thật là một trạng thái kỳ cục và nguy hiểm khi
Quốc Hội và nhân dân Hoa Kỳ phải dựa vào quan chức
ngoại quốc mới biết được những trao đổi quan trọng,
nó được tung ra bất cứ lúc nào, do một chính phủ ngoại
quốc, giống như mấy con thỏ nhẩy ra khỏi cái mũ của
nhà ảo thuật;” (10)
- Nghị sĩ Frank Church, người chống đối cả viện trợ,
cả việc giúp di tản:“ Hồi đó chẳng ai nói ǵ với
chúng tôi về những cam đoan mà Hoa Kỳ sẽ phải gánh vác.
Tôi không nhớ là đă có người nào thông báo cho Ủũy Ban
tôi biết là đă có một cam đoan nào, dù được viết
xuống, hay minh thị, hoặc bằng cách nào khác. Cảm tưởng
rơ rệt lúc ấy của chúng tôi là không có điều ǵ dấu
diếm chúng tôi cả;” (11)
- Nghị sĩ Jacob Javits, Chủ tịch Uỹ Ban Quốc Pḥng Thượng
Viện, người khởi xướng cắt quân viện hè 1974 (đă
tuyên bố sau khi phía hành pháp căi là những bức thư này
chỉ là cam kết về tinh thần, không có giá trị pháp lư):
“Muốn gọi mấy tài liệu đó là ǵ đi chăng nữa, đáng
lư chúng đă phải được đưa ra cho Uỷ Ban Ngoại Giao
Thượng Viện cùng với những tài liệu khác liên quan đến
Hiệp Định Paris.” (12)
Ngày 4 tháng 5, tôi gọi điện thoại cho vị Tuyên Uư
Thượng Viện, Mục sư Elson. Ông vui mừng cho hay là phản
ứng tại Quốc Hội có chiều hướng tốt. Sau khi hay biết
những chuyện này, nhiều nghị sĩ nhận thấy là Hoa Kỳ
đă bất công với nhân dân Miền Nam, và bắt đầu có
thiện cảm hơn đối với vấn đề tỵ nạn. Mục sư Elson
nói : “chắc chắn Quốc Hội sẽ thay đổi thái độ.”
Và Quốc Hội đă thay đổi thái độ: chỉ trên ba tuần sau
khi bỏ phiếu bác đi số tiền 327 triệu để tài trợ cho
di tản, ngày 23 tháng 5, 1975 Quốc Hội đă biểu quyết
“Đạo luật về Di Trú và Tỵ Nạn Đông Dương”
(“Indochina Migration and Refugee Act” - IRAP; 89 stat. 87), trợ
cấp 455 triệu cho tỵ nạn từ Việt Nam và Kampuchia) (13).
Tôi cảm thấy một niềm an ủi vô biên, v́ nghĩ rằng ít
ra Hoa Kỳ cũng đồng ư chấp nhận một số nhiều người
Việt, chứ không phải chỉ vỏn vẹn có 50.000 người như
Toà Bạch Ốc đă cho phép Đại sứ Martin di tản vào ngày
25 tháng 4, tức là năm ngày trước giờ hấp hối của VNCH.
Câu nói của Von Marbod đă đánh dấu một bước ngoặt trong
lịch sử tỵ nạn, v́ nó khởi đầu cho một cuộc di cư
vĩ đại kéo dài tới 25 năm. Ngày nay, sau 30 năm từ lúc
bắt đầu, số người Việt di tản được tiếp nhận và
đang sinh sống tại Hoa Kỳ cũng đă lên trên một triệu
người, xấp xỉ bằng con số tôi mang ra để cầu cứu
trong cuộc họp báo ngày 30 tháng 4, 1975.