Mở Hồ Sơ 30 Năm: V́ Sao Mỹ Thất Trận?
Nguyễn Xuân Nghĩa
Ba mươi năm qua, Hoa Kỳ có cả ngàn cuốn sách về cuộc chiến
VN và cả trăm giải thích về nguyên nhân thất trận. Lư luận chung là Mỹ thắng về
quân sự mà thua về chính trị. Chưa chắc.
Hăy đi lại từ đầu.
Khi can thiệp vào Việt Nam, các nhà hoạch định chánh sách của chính quyền Kennedy đă viện dẫn một lư do chiến lược: tầm quan trọng của Việt Nam trên b́nh diện quốc tế để chặn đà bánh trướng của cộng sản.
Thực tế th́ đây là một sự ngụy tín: sau khi thất thế trong cuộc thử lửa tại Cuba - mà vẫn làm dư luận tưởng rằng ḿnh thắng - Tổng thống Kennedy muốn bày ra một cuộc thử lửa khác, an toàn hơn cho nước Mỹ v́ ở xa lănh thổ Mỹ. Việt Nam được chọn làm thí điểm và trở thành "Tiền đồn Thế giới Tự do".
Kennedy có thể chỉ muốn biểu dương quyết tâm để chuẩn bị cho cuộc tranh cử tổng thống năm 1964, và sau đó sẽ rút. Chính quyền ông lật đổ và sát hại Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm v́ ông Diệm cản trở việc biểu dương ấy khi không muốn Mỹ can thiệp quá mạnh vào Việt Nam. Đó là về lư do tham chiến. Như đa số dư luận Mỹ, người Việt ta cũng lầm tưởng rằng Việt Nam ở vào vị trí chiến lược v́ vậy mới tiếp tục lầm tưởng rằng "Mỹ không bao giờ bỏ Việt Nam". Thực ra, trong hoàn cảnh chiến tranh lạnh, bất cứ nơi nào - dù hoang đảo không tài nguyên hay núi cao không người ở - mà có sự tiếp cận giữa hai khối th́ cũng có thể là vùng chiến lược. Không bảo vệ nổi vùng này là chứng tỏ ḿnh yếu thế, không đáng tin đối với các đồng minh, và không đáng sợ đối với các đối thủ.
Điều éo le là ba tuần sau khi ông Diệm bị giết th́ Kennedy bị ám sát và Phó Tổng thống Johnson lên thay. Kế nhiệm trong điều kiện bi thảm một người được cả nước (lầm) tưởng là anh hùng, Johnson phải tiếp tục nỗ lực biểu dương ấy và duy tŕ toàn bộ ban tham mưu của Kennedy: anh em McGeorge và William Bundy, Cố vấn An ninh Walt Rostow (một lư thuyết gia kinh tế) và Tổng trưởng Quốc pḥng McNamara.
Ban tham mưu ấy đă thực sự góp phần đưa tới thất trận v́ ngay từ đầu đă trù hoạch sai - v́ chủ quan duy ư chí (Rostow) và kiêu mạn (McNamara) - việc tiến hành chiến tranh. Người nh́n thấy tầm quan trọng tương đối - và không đáng - của Việt Nam (cho quyền lợi Mỹ) là Richard Nixon. Ông ta chuẩn bị rút và Kissinger thi hành việc triệt thoái ấy một cách gian xảo nhưng dù có hay không có vụ Watergate th́ Hoa Kỳ cũng triệt thoái.
Phản ứng đầy bất ngờ của người Việt là bằng mọi giá thoát khỏi sự hà khắc của chế độ cộng sản đă dẫn tới hiện tượng vượt biên; từ tâm của chính quyền Carter (cứu vớt thuyền nhân) và ư chí của chính quyền Reagan (giải thoát và đón nhận tù cải tạo) đă tạo cơ hội cho sự h́nh thành của một cộng đồng người Việt tự do trên đất Mỹ. Trong khi ấy, người Việt trong nước vẫn là con tin của một chế độ lạc hậu, được người Việt hải ngoại hàng năm chu cấp chính thức là ba bốn tỷ Mỹ kim, thực tế th́ có thể gấp đôi.
Sự hàn gắn giữa cộng đồng hải ngoại và chế độ cộng sản trong nước - "ḥa hợp ḥa giải" - không thể có v́ - và vẫn v́ - những lầm lẫn của Hà Nội. Lănh đạo Việt Nam không thấy có nhu cầu ḥa giải v́ tưởng rằng có thể trực tiếp vận động với chính quyền Hoa Kỳ, chẳng hạn như để trở thành một nguồn lợi kinh tế hay một thành lũy - lại một tiền đồn - ngăn ngừa đà bành trướng Trung Quốc. Và sẽ lại tái phạm sai lầm cũ của miền Nam sau khi đă sai lầm đứng làm mũi xung kích cho chủ nghĩa cộng sản để gây ra chiến tranh kéo dài và tàn phá đất nước lẫn con người.
Tổng kết về hơn nửa thế kỷ bi đát của Việt Nam rồi, ta hăy thử nh́n lại về những nguyên nhân thất trận của Hoa Kỳ, trong đó có một nguyên nhân ít ai nói tới: quân sự.
*
Hoa Kỳ ở vào thế tất bại v́ can thiệp vào Việt Nam với một mục đích tiêu cực:
miễn rằng không thua th́ đă là thắng. Đánh toàn cầu ḥa là nhường vai tṛ chủ
động cho đối phương. Đây là nguyên nhân thứ nhất và căn bản nhất.
Đối phương ở đây là bộ máy chiến tranh và các trung tâm kỹ nghệ của khối cộng sản - của Liên Xô và Trung Quốc và các đường tiếp vận nằm ngoài lănh thổ Việt Nam - chứ không là xă hội nông nghiệp của miền Bắc hay cả đường ṃn Hồ Chí Minh. Đă đánh toàn cầu ḥa mà không triệt hạ được nguồn tiếp vận ấy, Hoa Kỳ chỉ gây tổn thất ngoài da cho đối thủ - mà thể thảm cho người Việt ở cả hai miền. Và, quan trọng hơn cả, gây phản tác dụng cho dư luận thế giới v́ ấn tượng là một siêu cường công nghiệp lại tàn phá một nước nhỏ bé chỉ khát khao độc lập. Đây là nguyên nhân thứ hai: chọn sai mục tiêu, lầm lẫn giữa điểm và diện.
Nh́n trên toàn cuộc, Hoa Kỳ có vơ khí nguyên tử và tài nguyên dồi dào khả dĩ "trả mọi giá, chấp nhận mọi phí tổn" để bảo vệ miền Nam, như lư luận tuyên truyền của Kennedy. Thực tế th́ Mỹ không thể dùng vơ khí nguyên tử tại Việt Nam hoặc trong khối cộng sản và cũng có nhiều cam kết c̣n chiến lược hơn trên thế giới - Tây Âu hay Trung Đông chẳng hạn - nên không thể bảo vệ miền Nam bằng mọi giá và trong lâu dài. Trong một cuộc chiến mang tính chất biểu dương ư chí, Hoa Kỳ không thể có ư chí trường kỳ - bầu cử bốn năm một lần là một giới hạn - và sẽ thua nếu đối thủ có ư chí mạnh hơn và chấp nhận mọi giá để thủ thắng, khi cái giá đó lại do người dân phải trả. Đây là nguyên nhân thứ ba.
Ba nguyên nhân căn bản trên đây dẫn tới một sự thể là
hai chính quyền Kennedy và Johnson nhường cho khối cộng sản - và Hà Nội - sáng
kiến chiến ḥa và quyết định về cường độ giao tranh mạnh yếu, trong khi lại là
con tin của chính trường và bầu cử trong nước.
*
Trên trận thế kỳ cục ấy, Hoa Kỳ c̣n phạm nhiều sai lầm tai hại khác.
Không thể tiêu diệt cái gốc của chiến tranh - tại Liên Xô và Trung Quốc - Mỹ
cũng không thể gieo chiến tranh vào miền Bắc trong khi không quyết định nổi mức
độ ưu tiên của việc bảo vệ miền Nam. Đă vậy, sau khi ngang ngược tiến vào Việt
Nam, dù với cái giá quái đản là lật đổ chính quyền Ngô Đ́nh Diệm để chuyển từ
vai tṛ cố vấn yểm trợ qua vai tṛ chủ chốt, chính quyền Kennedy c̣n phát minh
một sáng kiến "tiền hiện đại" là giúp miền Nam xây dựng định chế tự do dân chủ.
Ư niệm "xây dựng dân chủ" không là một phát minh của George W. Bush, nó xuất phát từ bộ óc uyên bác của kinh tế gia Walt Rostow. Hệ quả của nó là miền Nam lâm chiến trong khi vẫn phải tiến hành một cuộc "cách mạng xă hội", theo tiêu chuẩn Mỹ, dưới sự phán đoán nông cạn của dư luận Mỹ. Đây là nguyên nhân tất bại thứ tư: "cách mạng xă hội" vốn là chủ trương và khẩu hiệu của Cộng sản Bắc Việt, với nội dung hoàn toàn khác biệt về "cách mạng" mà dư luận và truyền thông Mỹ không thể biết và không thèm biết.
Hoa Kỳ đă nhường thế chủ động cho đối phương lại c̣n bày ra trận thế cải cách xă hội mà không minh định tiêu chuẩn thẩm xét rơ ràng cho cả hai chế độ! Chính quyền Ngô Đ́nh Diệm bị hậu phương Mỹ phê phán trong khi chính quyền Hồ Chí Minh được hậu phương Nga Tầu xoa đầu khen giỏi.
Ông Diệm bị đả kích về những tội thực ra không đáng kể nếu so sánh với những ǵ đă và đang xảy ra tại miền Bắc khi đó. Nhưng không ai làm công việc so sánh ấy, kể cả những người miền Nam chống Diệm. Cái thước đo lường thành quả cách mạng là cái thước co giăn v́ nhân thức thiên lệch.
Khi quyết định là không gây chiến với Liên Xô và láng
giềng cộng sản gần nhất của miền Bắc là Trung Quốc, Hoa Kỳ dưới thời Kennedy và
Johnson chỉ c̣n một chọn lựa tiêu cực là thi đua ư chí với Hà Nội. Chọn lựa ấy
dẫn tới chiến lược oanh tạc miền Bắc và truy lùng để tiêu diệt cán binh cộng sản
ở trong Nam.
*
Các bộ óc phi thường của chính quyền Johnson - kể cả Westmoreland - đi vào việc
truy lùng để tiêu diệt, thực chất là cuộc thi đua đếm xác, với hy vọng là cán
binh cộng sản bị giết tới một số nào đó th́ Hà Nội sẽ thua. Hy vọng hăo huyền,
v́ Hà Nội không coi mạng sống con người là trọng mà dư luận Mỹ th́ chỉ biết đếm
xác lính Mỹ, với sự tiếp tay tích cực của truyền thông và nhất là truyền h́nh.
Việt Nam là cuộc chiến đầu tiên được trực tiếp truyền h́nh và ống kính truyền h́nh Mỹ lại chỉ chiếu vào các đơn vị Mỹ. Kết quả là Washington mất ư chí trước Hà Nội. Đây là nguyên nhân của lư luận "Mỹ thắng tại tiền tuyến mà thua tại hậu phương". Nguyên nhân này có thể vuốt ve tự ái của quân đội Mỹ nhưng vẫn không là nguyên nhân chính. V́ thực ra vẫn thua ngay tại tiền tuyến. Nguyên nhân chính là sai lầm của chính quyền Johnson và nhất là của McNamara khi tưởng rằng oanh tạc miền Bắc đến một cường độ nào đó th́ sẽ đủ bẻ găy ư chí của Hà Nội.
Từ sai lầm chiến lược ấy, bộ Quốc pḥng và nhiều giới chức dân sự trong chính quyền Johnson mơ rằng nếu các cơ sở công nghiệp và kinh tế miền Bắc bị oanh tạc nặng th́ có khi Hà Nội sẽ bị khuất phục và thay v́ làm chư hầu của Trung Quốc th́ sẽ làm đồng minh của Mỹ (lối nguy nghĩ này dường như đang tái diễn, nhưng có "đổi mới": thay v́ là đạn bom th́ sức ép lần này sẽ là quyền lợi kinh tế.)
Có một người do dự với chiến lược ấy chính là McNamara: nếu tấn công miền Bắc quá nặng th́ có khi phải đối đầu với Trung Quốc.
Kết quả là thay v́ đánh phủ đầu bằng các đợt oanh tạc vũ băo - là điều Nixon sẽ làm qua 12 ngày oanh tạc mùa Giáng sinh 1972, không để thắng mà để rút lui "trong danh dự" - Hoa Kỳ chọn cách "leo thang chiến tranh", trong chừng mực không gây hấn với Moscow hay Bắc Kinh và cũng chẳng tiêu diệt chế độ cộng sản Hà Nội. Tức là đ̣i trường kỳ kháng chiến với một đối thủ có khả năng trường kỳ trong khi chính ḿnh lại bị giới hạn bởi sự phán xét của dư luận và tấm lịch bầu cử. Hà Nội có cơ hội thích ứng với mức độ tàn phá cầm chừng ấy và chủ động leo thang chiến tranh, từ chiến tranh phá hoại qua du kích chiến lên tới trận địa chiến.
Một chiến thắng rơ rệt nhất về quân sự - do sức kháng cự bất ngờ của quân lực Việt Nam Cộng Ḥa - là vụ tổng tấn công Mậu Thân, chiến thắng quân sự ấy lại bị hậu phương Hoa Kỳ coi là một thất bại chính trị, và mất ư chí chiến đấu.
*Theo lối đánh này, Mỹ chỉ đạt kết quả nếu đánh ít mà gây tổn thất nhiều, là điều chưa thể có với tŕnh độ kỹ thuật chiến tranh thời ấy: oanh tạc thiếu chính xác nên phải dùng lượng thay phẩm và gây phí tổn kinh tế quá lợi ích của việc tham chiến. Đây là nguyên nhân thất bại chính yếu, một nguyên nhân thuộc lănh vực quân sự.
Nếu dùng lối oanh tạc chiến lược - như đă áp dụng hai lần tại Iraq sau này - th́ Hoa Kỳ có thể sẽ đụng độ với Liên Xô và Trung Quốc, là điều chính quyền không muốn v́ cho là không đáng và đi ngược mục tiêu thụ động từ ban đầu, là đánh toàn cầu ḥa. Bị bó tay trong chọn lựa ấy, Không quân Mỹ không biết làm sao tiêu diệt bộ máy chiến tranh của Hà Nội mà chỉ biết gieo tổn thất kinh tế cho xă hội miền Bắc, với cái giá phải trả là mất dần chính nghĩa.
Phân vân với giải pháp oanh tạc Hà Nội hay Hải Pḥng, các hải cảng hay tàu
bè tiếp vận ngoài khơi và các đường vận chuyển Hoa-Việt, với rủi ro gây hấn
với khối cộng sản, Hoa Kỳ chọn giải pháp thích hợp với địa dư Việt Nam: làm
cạn kiệt đường ṃn Hồ Chí Minh và không mang tiếng là tấn công một nước láng
giềng "trung lập" là Lào, bằng cánh đánh cầu Long Biên tại Hà Nội và cầu Hàm
Rồng tại Thanh Hóa. Vừa an toàn về mặt ngoại giao vừa có thể chặn đường tiếp
vận vào Nam.
*
Giải pháp ấy gây tổn thất nặng cho phi cơ và phi công Mỹ mà lại không hữu
hiệu.
Lư do là Mỹ tốn rất nhiều bom trong nhiều phi vụ mà không đạt kết quả. Một
phần v́ kiến trúc kiên cố của hai cây cầu này, phần nữa v́ khả năng huy động
dân chúng sửa chữa lại những nhịp cầu gẫy, phần sau cùng - đối với cầu Hàm
Rồng - là vị trí eo hẹp rất khó tấn công. Chẳng hạn, tháng Tư 1965, hơn một
trăm phi vụ Mỹ đă dội hơn năm trăm trái bom loại 750 cân Anh (pound) và Mỹ
bị mất năm phi cơ mà không phá nổi cầu Hàm Rồng. Lần đầu tiên Hoa Kỳ đạt kết
quả quyết định là đánh xập cả hai cây cầu ấy là vào mùa Xuân 1972, mà không
mất một phi cơ nào nhờ thế hệ đầu tiên của "bom khôn"… th́ mọi chuyện đă quá
trễ.
Tám tháng sau, Hiệp định Paris được kư kết để cột tay miền Nam trao cho Hà
Nội.
Tổng kết lại, Hoa Kỳ thất trận tại Việt Nam v́ rất nhiều lư do, nhưng ngược
với sự suy luận của dư luận, một trong những lư do ấy chính là quân sự, là
điều mà bộ Quốc pḥng Mỹ ngày nay không mắc phải. Điều đó không có nghĩa là
Hoa Kỳ ngày nay không sai lầm trong nhiều lănh vực khác.
Hoa Kỳ chủ quan nhập cuộc và Mỹ hóa cuộc chiến với những lầm lẫn tai hại,
khi Johnson và nhất là Nixon khởi sự Việt hóa cuộc chiến th́ dư luận đă xoay
chiều. Quân lực miền Nam không được đánh trận theo lề lối của ḿnh, đến khi
Mỹ đ̣i Việt hóa chiến tranh và miền Nam quyết chí đánh th́ quân đội bị bó
tay, cúp đạn, v́ Mỹ muốn rút lui trong danh dự.
Hoa Kỳ thất trận v́ những sai lầm của ḿnh, miền Nam thất trận v́ tiếp tay
lật đổ chính quyền Diệm, lănh đạo d́u nhau vào luân vũ chính trị (đảo chính)
và kèn cựa về quyền lực nên không cản được sự can thiệp của Mỹ, mà sau đó
c̣n lạc quan trông cậy vào Mỹ như một nguồn yển trợ vô tận và vĩnh viễn.
Cuộc chiến mang tính chất toàn diện mà lănh đạo miền Nam lại chỉ nh́n thấy
một khía cạnh quân sự và vai tṛ của Mỹ. Miền Bắc thắng trận và kiêu hănh về
sự chiến thắng ấy mà không thấy ra tổn thất lâu dài cho cả dân tộc: chiến
tranh giải phóng miền Nam là một sai lầm mở đầu cho nhiều sai lầm kế tiếp về
đường lối tái thiết và phát triển trong ḥa b́nh.
Chưa hết, trong tương lai đă cận kề, sai lầm nặng nhất là tưởng rằng sẽ ăn tiền của Mỹ để bảo vệ một chế độ độc tài thực ra đă rụm ră và hết khả năng bảo vệ chủ quyền. Nếu lại nghĩ rằng nhờ sức yểm trợ của Hoa Kỳ th́ sẽ tồn tại và yên thân với Bắc Kinh th́ lại càng không hiểu ǵ cả.
Ba mươi năm sau, có nhắc lại những điều ấy có lẽ cũng không thừa.