Di Trú, Di Dân Và Công Dân
Vơ Thành Văn

- Thượng viện đang tranh luận về đề luật di trú. Nhưng người ta cần nh́n xa hơn…

Hoa Kỳ là quốc gia thành h́nh từ di dân.

Thực ra, quốc gia nào cũng từng gặp hoàn cảnh ấy v́ thế giới hiếm có loại quốc gia thuần chủng, gồm chỉ một sắc dân xưa nay cùng sống trên một lănh thổ từ ngàn xưa cho đến ngày nay.

Những di dân đầu tiên đặt chân lên khu vực ta gọi là nước Mỹ ngày nay là những "thổ dân", nhưng họ có thể xuất phát từ châu Á, vượt qua eo biển Behring rồi từ Alaska đi xuống đă mấy chục ngàn năm về trước.

Những "thổ dân" đầu tiên của Việt Nam có thể là người Malay-Polynesian của Đông Nam Á, ḥa nhập với di dân đổ xuống từ miền Bắc hay Tây Bắc và bị đẩy dần lên vùng trung du, thượng du. Rồi những người Việt Nam đa chủng ấy trở thành di dân khi tiến dần xuống miền Nam, và ḥa nhập -hay đồng hóa- các sắc tộc khác khi Việt Nam thôn tính vương quốc Chàm và một phần lớn của Thủy Chân Lạp -phân nửa nước Cao Miên- và tiếp nhận cả di dân từ Trung Hoa chạy xuống… Sáng lập nhà Lê, vua Lê Lợi có thể là người Mường, và sáng lập nhà Trần là một gia đ́nh di dân từ Trung Hoa…

Vấn đề v́ vậy tùy thuộc vào một yếu tố là thời gian, lâu hay chóng, xa hay gần và mật dộ tập trung nhiều hay ít ở những vùng chiến lược nhất. Suốt khoảng thời gian đằng đẵng ấy, xứ nào cũng có tranh luận về di dân, giữa người đến trước và kẻ đến sau, trong một tiến tŕnh vừa đối kháng vừa hội nhập, ôn ḥa hay không th́ cũng c̣n tùy.

Sau khi di dân từ Hoa Kỳ đến nước Mỹ, cuộc tranh luận có thể nói là đầu tiên đă xảy ra: ngay trước thời "lập quốc" của Hoa Kỳ, di dân gốc Tô Cách Lan và Ái Nhĩ Lan (Scotland và Ireland) đặt chân lên vùng đất này đă khiến những người đến trước từ nước Anh nêu vấn đề. Thành phần "Tô-Ái" là những tay du thủ du thực, khách tứ chiếng, có thể làm thay đổi bản sắc của họ. Nhưng thành phần di dân ấy là cần thiết, v́ Hoa Kỳ khi đó thiếu nhân lực để vượt mở mang lănh thổ về hướng Tây thành một hậu phương. Cứ chết kẹt trên dải đất Bắc Nam cách trở của bờ biển Đông, họ không chặn được những đ̣n tấn công - của nước Anh - đến từ Âu châu.

Hoa Kỳ thành h́nh như vậy, từ những sắc dân đến từ Âu châu rồi Phi châu.

Trong suốt hai trăm năm lập quốc đến nay nước Mỹ đă tiếp nhận nhiều đợt di dân khác từ Đông Âu, Nam Âu hay cả châu Á và lần nào cũng có tranh luận giữa di dân mới và di dân cũ. Người đến trước e là kẻ đến sau sẽ đe dọa quyền lợi, việc làm, lương bổng hoặc "bản sắc văn hóa" của ḿnh. Nhưng mọi cuộc tranh luận đều tiến tới giải pháp hội nhập và Hoa Kỳ trở thành siêu cường công nghiệp hóa, có nền kinh tế và quân lực lớn nhất thế giới.

Cho nên, nếu chúng ta có thấy giới lănh đạo, trong chính quyền và bên Quốc hội, tranh luận về chuyện di dân, th́ cũng đừng nên cho rằng đây là lần đầu.

Nhưng lần này, cuộc tranh luận có thể là nghiêm trọng nhất - và đáng e ngại nhất - v́ giới lănh đạo lại không nh́n thấy tầm quan trọng của nó để giải thích cho công chúng rơ.

Từ Âu châu qua, đa số mọi người đều nghĩ đến quy luật kinh tế bần cùng là "người khôn của khó". Bần cùng v́ tưởng rằng tài nguyên quốc gia là một cái bánh, người này ăn là người kia mất phần, di dân vào là ḿnh mất việc. Dân Á châu lại có một quy luật khác, mơ hồ mà thực sự chính xác hơn, đó là "trời sinh voi trời sinh cỏ". Trời vốn không có mặt để lên tiếng, nhưng con người sẽ t́m ra giải pháp.

T́nh h́nh tại Hoa Kỳ gần với trường hợp thứ nh́ hơn là thứ nhất. Di dân làm giàu thêm cho cả cộng đồng cũ và mới. Lư do chẳng là một sự thật về luân lư hay kinh tế, mà v́ địa dư. Lănh thổ Hoa Kỳ quá rộng nên nước Mỹ vẫn có mật độ dân số thấp. Số người sống trên cùng một diện tích địa dư tại Hoa Kỳ vẫn c̣n quá thấp, khoảng 34 người một cây số vuông, bằng một phần tư mật độ dân số Âu châu (115 người) và một phần mười mật độ dân số Nhật Bản (337 người).

Nếu đất chật người đông th́ càng thêm người năng suất kinh tế có thể càng giảm và di dân trở thành gánh nặng. Hoa Kỳ chưa gặp vấn đề ấy. Nếu có so sánh với mẫu quốc cũ là nước Anh (mật độ khoảng 250 người một cây số vuông), Hoa Kỳ có thể có dân số đến hai tỷ người! C̣n lâu mới tới mức độ ấy!

Nếu vậy, v́ sao cuộc tranh luận lần này lại nghiêm trọng?

Trong các đợt biểu t́nh để tác động vào cuộc tranh luận ở Quốc hội, chúng ta có nghe thấy một số người gốc Mexico nêu nhận xét: họ không vượt qua biên giới mà chính là biên giới đă vượt qua họ. Đảo ngược tương quan nhân quả của cuộc tranh luận, những di dân này không cho là ḿnh đă đe dọa quyền lợi của người đi trước mà chính là nước Mỹ đă cướp đất của họ!

Lư luận ngược ngạo này thực ra không sai.

Sau cuộc cách mạng giành độc lập của Texas năm 1835 và chiến tranh Mỹ-Mễ năm 1846, một phần lănh thổ của Mexico trở thành lănh thổ Mỹ. Nhưng khác với nhiều tiền lệ tàn khốc ở thời khác xứ khác, sau đợt thôn tính (hay phát triển, tùy giác độ), người Mỹ không ra tay diệt chủng mà vẫn sống chung với người Mễ trong vùng biên vực theo kiểu cộng đồng đồng tiến. Và hai quốc gia Hoa Kỳ và Mexico không phàn nàn ǵ về chuyện ấy.

Ngày nay sự thể đă đổi khác, v́ vậy cuộc tranh luận mới nghiêm trọng.

Lư do là di dân gốc Mễ không giống các loại di dân khác của lịch sử Hoa Kỳ.

Khi người Đức, người Ư, người Nga, người Ấn hay cả người Hoa, người Việt, đến nước Mỹ đă phân tán ra nhiều nơi chứ không tập trung hẳn vào một vùng. Họ đem theo thực phẩm, bếp núc, bàn thờ hay nhiều tập quán sinh hoạt riêng và góp phần làm cho nền văn hóa Mỹ thêm đa diện, phong phú và kinh tế thêm phú cường. Họ đem theo những ǵ có thể làm giàu cho nước Mỹ nhưng không đi cùng những ǵ có thể đe dọa nước Mỹ.

Nếu nước Đức, nước Nga hay Trung Hoa, Ấn Độ lại là láng giềng của Hoa Kỳ, t́nh h́nh có khi đă khác!

Các thành phần di dân nói trên đều sống phân tán trong lănh thổ và xă hội Mỹ, và không có một hậu phương tiếp giáp ở ngay bên kia biên giới.

Tại Hoa Kỳ, ta có nào Little Tokyo, Chinatown, Little Italy, Little Saigon, nhưng không có những trung tâm gọi là Little Mexico mà lại có một xứ Mexico rất lớn ở bên kia sông Rio Grande. Và giữa hai quốc gia có rất nhiều trung tâm sinh hoạt đặc thù của người Mễ, từ vùng biên vực nửa Mễ nửa Mỹ lên đến các tiểu bang miền Nam, từ Texas đến California, tới cả miền Tây Bắc Hoa Kỳ.

Nói cho xa mà gần hơn, nếu di dân gốc Vân Nam hay Lưỡng Quảng của Trung Quốc lại cứ tập trung ở các tỉnh miền Bắc Việt Nam và hướng về Bắc Kinh hơn là Hà Nội hay Sài G̣n, th́ người Việt ta có lo ngại không?

Hoặc nh́n vào một loại lịch sử giả định, nếu Quang Trung thôn tính xong Lưỡng Quảng như nhiều người Việt đă mơ ước hay luyến tiếc, ngày nay dân số hai tỉnh ấy (tổng cộng 160 triệu, gần gấp đôi dân số Việt Nam) sẽ bỏ phiếu cho đại biểu ở B́nh Dương, Nghệ An hay cho những đồng hương gần gũi, những người mà ḷng dạ có thể vẫn hướng về Bắc Kinh?

Khi tranh luận là di dân làm giàu hay gây hại cho nước Mỹ, người ta đặt sai vấn đề.

Chẳng trước th́ sau, di dân nào cũng làm giàu cho nước Mỹ, di dân người Mễ cũng vậy. Chúng ta không nên kỳ thị dân Mễ v́ họ lănh lương thấp hay cướp mất việc của các nhóm thiểu số nghèo túng khác. Về kinh tế - quyền lợi - kỳ thị là sai. Về đạo lư cũng vậy.

Nhưng, về đại thế chính trị, sau cả trăm năm hướng về Âu châu, lănh đạo Hoa Kỳ quên hẳn các bài học lịch sử của ḿnh và của nhân loại: họ không có chánh sách di trú đúng đắn với di dân từ miền Nam, và v́ những lợi ích nhất thời đă để lại cho xă hội từ 11 đến 12 triệu di dân nhập lậu, đa số đến từ Mexico.

Đa số này lại tập trung ở vùng biên vực và dân số gia tăng đă làm thay đổi cục diện chính trị nơi đó. Trong ṿng dăm chục năm nữa, khoảng 2050, những người gốc Latino sẽ hết là thiểu số trong xă hội Mỹ, và sẽ là đa số tại các tiểu bang biên vực. Đấy mới là vấn đề.

Ngày nay, thành phần này trương cờ Mexico và đặt ngược vấn đề về biên cương.

Chính quyền Mexico chẳng những bất lực mà c̣n vô trách nhiệm về kinh tế nên xúi giục thêm nhiều đợt di dân nhập lậu để giảm bớt áp lực chính trị v́ nạn thất nghiệp ở nhà. Hăy xem cách họ đối xử tàn tệ với di dân từ các nước khác ở Nam Mỹ xâm nhập bất hợp pháp vào Mexico th́ ta sẽ thấy ra tính chất đạo đức giả của họ khi họ đả kích Hoa Kỳ. Nước Mỹ rất rộng lượng với di dân, một phần v́ quyền lợi kinh tế, nhưng một phần nữa chính là nhờ bản chất bao dung, vốn là đặc tính chung của di dân. Nhưng t́nh trạng này không thể kéo dài được nữa chẳng phải v́ vấn đề kinh tế hay văn hóa mà v́ an ninh chiến lược của Hoa Kỳ.

Lịch sử thế giới đă có rất nhiều cuộc tranh chấp và cả chiến tranh khi sự chuyển dịch dân số di dân làm lệch tương quan lực lượng trong các vùng biên vực. Gần nhất mà không duy nhất là vụ Kosovo! Chuyện này đang xảy ra tại Hoa Kỳ.

Dân gốc Mễ không chỉ trương cờ Mexico mà c̣n cho rằng năm xưa di dân vào Texas đă cướp đất của họ. Việc họ nhập lậu ngày nay là chính đáng, cũng sẽ chính đáng như việc họ đ̣i lại đất đai đă mất, chẳng vậy mà đến 70% dân Mễ, ở Mexico và tại Hoa Kỳ, vẫn cứ cho là nước Mỹ kỳ thị chủng tộc và bóc lột sức lao động của di dân. Họ thiếu công bằng với xă hội tiếp cư v́ cho rằng ḿnh là nạn nhân của một sự bất công trước: bị Mỹ cướp đất. Một số người hết coi vùng biên vực là lănh thổ Mỹ và Hoa Kỳ là quốc gia của họ, mà con cái rất đông của họ c̣n muốn đ̣i lại đất cũ. Nếu đủ đông, có khi họ sẵn sàng bỏ phiếu đ̣i ly khai, tự trị hay độc lập.

Lịch sử thế giới không thiếu ǵ chuyện ấy.

Bài toàn chiến lược này hoàn toàn không có trong đề luật của Thượng viện và trong cả đề luật Hạ viện đă biểu quyết năm ngoái.

Lănh đạo Hoa Kỳ không phân biệt được ba tầng của vấn đề: trên đại thể, Hoa Kỳ phải có chánh sách di dân đối với những người đến từ mọi nơi; trong đó, phải có chánh sách di dân đối với những người đến từ miền Nam; và trong chánh sách Nam diện này phải có đối sách với di dân định cư tại các vùng biên vực, từ Texas đến New Mexico, qua Arizona đến California.

Cốt lơi của vấn đề nằm tại các vùng biên vực ấy.

Nhưng, vấn đề có khi đă thành quá trễ v́ tại các vùng ấy, nhiều giới đại diện dân cử lại thuộc gốc Latino, họ sẽ quyết định căn cứ trên quyền lợi tối thượng và trường cửu của Hoa Kỳ hay của đồng hương ở bên kia sông?

Nhức đầu!