Viết về một chuyến đi  (2)

Nguyễn Phi Thọ

(Tiếp theo và hết)

 

Tôi ở lại Sài g̣n hai hôm đă bắt đầu thấy mệt mỏi. Chỉ ghé qua thăm hai đứa em sau 33 năm không gặp. Lúc ra đi, chúng mới 25, 23; nay trở về chúng đă thành “bà già” 58, 56 với con cái đùm đề, nheo nhóc. Cuộc sống của chúng cũng chẳng mấy giàu sang, nó là biểu tượng cho cuộc sống của gần 80 triệu đồng bào trong nước bây giờ.

 

Tôi bắt đầu chuyến xuôi Trung bằng đường bộ. Con đường Sàig̣n/Đà Lạt dài hun hút. Dọc hai bên đường nhà cửa san sát, vô trật tự. Tôi chỉ đi qua con đường nầy cách đây 48 năm trước. Một h́nh ảnh tôi c̣n nhớ tới bây giờ là những tảng đá thật lớn nằm chồng lên nhau, bên liên tỉnh lộ 20, một thắng cảnh khá ngoạn mục ở Định Quán. Viên đá đó không thay đổi, vẫn c̣n đó nhưng có thêm vài hàng chữ nguệch ngoạc, tào lao, vô nghĩa. Tôi dừng chân lại Bảo Lộc, nơi nổi tiếng về trà của Việt Nam. Tại đây có một tiệm bán trà rất nổi tiếng. Khách có thể ghé vào đây uống trà và ăn bánh ngọt “free”, có nhiều cô tiếp viên biểu diễn cách pha trà rất lư thú. Dĩ nhiên bạn không bị bắt buộc phải mua trà ở đây.

 

Trên đoạn đường nầy, khi đi qua một trường Trung học, tôi gặp hàng chục nữ sinh áo trắng đang đi bộ và dẫn theo chiếc xe đạp của ḿnh. Tôi không hiểu tại sao các cô có hành động kỳ lạ như vậy? Sau nầy mới biết, các cô chỉ lên yên xe khi đi trên những con đường bằng phẳng hay đổ dốc. Khúc đường hồi năy đang lên dốc nên các cô không thể chạy được, phải xuống dẫn bộ. Thật là tội nghiệp!

 

Đến Đà Lạt khi hoàng hôn đang xuống. Tôi không biết Đà Lạt có thay đổi nhiều hay không, v́ lần cuối cùng tôi ở đây vài hôm vào năm 1960, khi c̣n đang đi học tại Sàig̣n. Ngôi thánh đường có con gà trên nóc, khu dốc ḅ, chợ Ḥa B́nh và hồ Xuân Hương vẫn c̣n đó, nhưng nhà cửa nhiều hơn xưa. Người Đà Lạt vẫn dễ thương như ngày nào. Điều nầy chứng tỏ dân miền Bắc tràn vào lập nghiệp khá đông ở đây, không thể đồng hóa hay làm thay đổi con người Đà Lạt. Tôi dừng lại một dăy bán mứt, kẹo, bánh Tết trong chợ Ḥa B́nh. Các em bán hàng mời chào rất nồng nhiệt. Mua em nầy mà bỏ em kia cũng không được. Tôi đành lấy mỗi gian hàng một chút để các em vui ḷng. Tôi đến thăm một ngôi chùa mang tên Thiền viện Trúc Lâm. Thực ra, đây không phải là chùa nhưng là một thắng cảnh cho khách du lịch th́ đúng hơn. Một ngôi chùa thuần túy th́ làm sao có tiền để làm hệ thông dây “cáp” mang người từ phố lên tới sân chùa? Do đó, thiền viện Trúc Lâm rơ ràng là có bàn tay chính quyền xía vào. Khi bàn tay nầy xía vào th́ cũng đồng nghĩa với hai chữ “quốc doanh”. Người ta nói mỗi lần thiền sư Thích Nhất Hạnh ở Pháp về, ông cư ngụ tại đây.

 

Tôi rời Đà Lạt sáng hôm sau, dùng đường đèo đi ra Nha Trang. Đây là con đường cũ từ thời Pháp, nhưng v́ chiến tranh nên không ai dùng tới con đường nầy. Có người gọi tên là đèo Ngoạn Mục, nhưng không chắc lắm. Con đường nầy sẽ rút ngắn thời giờ gần hai tiêng đồng hồ về Nha Trang nếu so với con đường cũ (Quốc lộ I). Dốc đèo nguy hiểm, điểm cao nhất là 1500 mét, nhưng khung cảnh thật đẹp. Khi xe đang leo đèo th́ những cụm mây trắng trôi lăng đăng quanh chúng ta hay trên những chỏm núi cao thật thơ mộng. Tôi vô cùng ngạc nhiên khi thấy trên đèo lại có những chỗ rửa xe “Free”. Nước có áp suất rất mạnh đẩy ra từ những ống nước như ở Mỹ. Vậy th́ tiền ở đâu ra để có những hệ thống rửa xe “Free” rất “hiện đại” như thế nầy? Ở Mỹ cũng không có nói chi ở Việt Nam ! Sau nầy tôi mới khám phá ra, những chỗ rửa xe thường nằm cạnh một con thác nhỏ, nước đổ xuống rất mạnh, trắng xóa. Người ta dùng một cái phễu lớn để dưới thác. Phễu được thông với một ống dây băng qua bên kia đường. Do vậy, đă có một chỗ rửa xe mà nước chảy ra thật mạnh nhờ sức ép của nước từ thác cao đổ xuống, không thua ǵ những chỗ rửa xe tại Mỹ.

 

Khi đến chân đèo là sắp đến Nha Trang. Những khu nhà nghèo nàn xơ xác, những em bé trần truồng chạy chơi gần đường lộ rất nguy hiểm. Tôi lại nhớ đến Sàig̣n hoa lệ. Bây giờ th́ những ai thấy chuyện đại gia đi xe bạc triệu USD, cần phải xét lại cuộc sống nào là tiêu biểu cho 80 triệu dân Việt Nam hiện nay. Trước năm 1975, tôi  không  ở Nha Trang nhiều, chỉ có ghé qua một vài lần rồi lại đi. Nhưng Nha Trang thay đổi khá nhiều, nhất là dọc băi biển. Khách sạn Nha Trang tương đối rẽ. Ghé qua Hải Học Viện Nha Trang trông thật tiêu điều xơ xác. Chẳng có ǵ ra hồn ngoài bộ xương con cá voi. Nha Trang hiện đang có một đường dây “cáp” chạy từ bờ biển ra tới ḥn đảo trước mặt. Nghe đâu sẽ tổ chức Hoa Hậu Thế Giới 2008 trên ḥn đảo nầy.

 

Người Nha Trang vẫn hiền ḥa như ngày nào. Nhưng một anh bạn ở chung cùng khách sạn, anh kể cho tôi nghe anh mất hơn 600 USD cho một dịch vụ Massage tại Nha Trang. Khi vào pḥng massage, dĩ  nhiên cửa không được khóa, và phía dưới chân lên đến đầu gối để trống. Ở trong pḥng massage lại không có chỗ treo áo quần nên cô gái đề nghị anh để ở trên nền nhà, không sao, v́ có cô đang làm việc, không ai lấy được. Sau khi massage xong, anh mặc áo quần rồi lôi chiếc ví ra trả tiền. V́ tiền anh có cả xấp USD, bill 100 có, 20 có, 10 có... nên anh không mấy để ư, tiền vẫn c̣n đầy trong ví. Khi về tới khách sạn, anh mới hoảng hồn là sáu tờ 100 bay mất. Bọn chúng vẫn c̣n nhân đạo và rất khôn, chúng chừa lại cho anh tờ 100 và 5 tờ 20. V́ vậy, khi anh lấy tiền trả, vẫn c̣n thấy tờ 100 và mấy tờ 20 là anh yên chí. Tôi hỏi anh tại sao anh không trở lại cho chúng biết việc nầy. Nếu cần, kêu công an? Anh cho tôi biết: bọn công an cũng là bọn chúng nó cả. Kêu công an lại mất công ḷi ra đủ thứ, phiền phức lắm anh à. Thôi th́ thí cô hồn cho tụi nó để xong chuyện, coi như ḿnh đi Casino thua. Đây cũng là bài học cho các bạn khi về Việt Nam muốn đi tắm hơi hay làm massage.

 

Sáng hôm sau tôi lại tiếp tục lên đường đi Phú Yên. Đoạn đường nầy có nhiều thắng cảnh đẹp mà tôi chưa bao giờ được thấy. Khi rời Nha Trang sẽ qua đèo Cả. Lúc đổ đèo, băi biển Đại Lănh ở trước mặt. Đây là một trong những băi biển đẹp nhất của Việt Nam. Nước trong xanh ngắt. Những ngọn sóng nhỏ trôi lơ lửng vào bờ. có rất nhiều thuyền đánh cá trên biển. Xa xa, dưới chân núi là thị xă Đại Lănh. Đứng ở trên đèo Cả, nếu bạn là người thích chụp ảnh, bạn sẽ có những tấm h́nh về băi biển Đại Lănh rất đẹp. Xuống khỏi đèo, một khách sạn đang xây dang dỡ,  rồi bỏ luôn. Có thể chủ nhân của nó tiên đoán không thể làm ra tiền ở băi biển nầy, v́ thị xă c̣n quá nhỏ, không có ǵ để thu hút du khách ngoài một băi biển đẹp và thơ mộng.

Tiếp tục đi, tôi gặp Vũng Rô. Đây là một di tích khá nổi tiếng trong thời chiến tranh trước năm 1975. Cộng quân đă dùng tàu lớn chuyển vũ khí vào vịnh Vũng Rô, nhưng bị phía quốc gia khám phá và tiêu hủy tại đây. Từ trên núi nh́n xuống, Vũng Rô nằm kín đáo dưới chân núi. Biển lặng, nước xanh. Một vài chiếc thuyền đánh cá đang neo trên biển. Tiếp tục đi nữa, sẽ gặp Đầm Ô Loan. Đây là vùng nổi tiếng về ṣ huyết của nước Việt. Ở trên đèo nh́n xuống, xa xa là một mũi đất xuổi dài ra biển. Chúng ta sẽ thấy giống như một con phượng hoàng khổng lồ đang trải cánh nằm trên mặt biển. Đoạn đường từ Nha Trang ra Phú Yên có nhiều thắng cảnh rất đẹp của quê hương.

 

Đi đường bộ bằng xe hơi phải nói là một chuyện khá nguy  hiểm, không sợ chết v́ công an, cán bộ mà chết v́ mấy ông tài xế lái xe xuyên tỉnh. Họ chạy xe như là con đường riêng của họ, chẳng cần tránh né ai cả. Xe nhỏ phải tránh xe lớn, tai nạn xảy ra, xe lớn phải chịu lỗi, xe nhỏ không có lỗi; đó là lái luật lưu thông kỳ dị ở Việt Nam bây giờ.

 

Tôi ngủ lại đêm trong xóm đạo Bằng Lăng như đă nói trong số báo trước.

 

Dọc theo quốc lộ I, tôi tiến ra vùng đất của xứ Quảng. Từ Quảng Ngăi, đây là vùng đất tôi đă phục vụ trong thời gian quân ngũ cũng khá lâu. Sa Huỳnh cũng là một băi biển đẹp trên đoạn đường ra Quảng ngăi. Sau khi rời thành phố Quảng Ngăi, tôi bắt đầu để ư để t́m căn cứ Chu Lai, nơi bộ tư lệnh của sư đoàn 23 Bộ binh Hoa Kỳ trú đóng. Sau vụ tai tiếng ở Mỹ Lai, sư đoàn được đổi tên thành sư đoàn Americal. Tôi đă làm việc trong căn cứ nầy suốt thời gian phục vụ với 1st Combined Action Group. Đây là một tổ chức giữa quân đội Hoa Kỳ với quân lực VNCH. Cả hai phía cùng hoạt động chung trong những vùng có đông dân chúng và xôi đậu. Quả thực khi đến đây tôi không nh́n ra được ở đâu là căn cứ Chu Lai, ngoại trừ chiếc cổng chính của căn cứ. Chiếc cổng nầy trước đây đồ sộ và rộng lớn biết bao, bây giờ chỉ c̣n như một cổng nhỏ của một trai gia binh. Cả căn cứ không c̣n ǵ ngoài những băi cát đục ngầu, dơ bẩn, xơ xác, tiêu điều. Những ṿng kẽm gai vẫn c̣n đó nhưng nay đă rét sĩ. Vùng đất đă để lại trong tôi thật nhiều kỷ niệm của một thời chinh chiến. Một số bạn bè cũng vĩnh viễn ra đi trong vùng đất nầy.

 

Đến Đà Nẵng, trời đă nhá nhem tối. Đă Nẵng thay đổi quá nhiều sau 36 năm tôi rời nơi đây để vào Nam và không trở lại cho tới lúc mất miền Nam. Những cao ốc mọc lên như nấm, những con đường rộng thênh thang, những chiếc cầu mới bắc qua sông Hàn. Có một chiếc cầu đang làm dang dỡ. Đây là chiếc cầu lớn nhất Đà Nẵng, bắc ngang sông Hàn từ Thanh Bồ qua tới Tiên Sa. Nhưng công tŕnh xây cất nầy bị đ́nh chỉ. Theo người tài xế cho biết, chân cầu được đúc bằng bê tông cốt sắt, nhưng các ông nhà thầu với các ông Việt cộng chơi cha, dùng tre thay thế cốt sắt. Chuyện bị đổ bễ nên các kỹ sư ngoại quốc bắt phải đ́nh chỉ công việc xây cất. Không biết cho tới lúc tôi viết bài nầy, việc xây cất có c̣n tiếp tục hay không.

Tôi đến Thanh B́nh nằm sát bờ biển. Tôi đă sống và đi học hết thời Trung học tại đây. Đứng trước ngôi nhà cũ nhưng vẫn không biết ḿnh đang đứng trước nhà ḿnh năm xưa. Một sư thay đổi phải nói là kinh hoàng. Trường Kỹ Thuật kế nhà tôi, ngày xưa rộng bao nhiêu, nay như một ngôi trường tiểu học. Đất không c̣n, sân không c̣n, nhà cửa bao quanh nên trông chẳng giống ai cả. Đà Nẵng có con đường đẹp, mới làm, ôm sát theo bờ biển Thanh B́nh cho tới Nam Ô trước khi chun vào hầm để đến Lăng Cô, lănh thổ của tỉnh Thừa Thiên. Con đường đèo Hải Vân nay không c̣n ai đi v́ xa hơn, lại nguy hiểm. Nhưng những người muốn thấy lại cảnh hùng tráng của biển cả với đèo Hải Vân, người ta vẫn c̣n sử dụng được con đường đèo nầy. Một xa lộ khác cũng đang c̣n xây dang dở, chạy bọc ra phía sau núi Tiên Sa. Đây là nơi chưa ai đặt chân tới trước năm 1975. Núi Tiên Sa có rất nhiều khỉ. Tôi biết được chuyện nầy v́ thời đi học, thuở c̣n thanh b́nh từ 1954-1958, chúng tôi thường hay đi xe đạp từ Đà Nẵng qua núi Tiên Sa chơi. Leo lên núi là gặp ngay những đoàn khỉ lớn nhỏ đang chơi đùa trên cành cây cao.

 

Tôi đi qua con đường Quang Trung. Con đường ngày xưa đi học. Con đường có nhiều hàng phượng nở đỏ thắm, có hàng cây bàng ngập đầy bóng mát, có những ngôi biệt thự người Pháp rất đẹp. Bây giờ đă biến mất. Chỉ c̣n thấy nhà với nhà. Tôi ghé lại trường Phan Thanh Giản, nơi tôi đă học hết thời trung học đệ nhất cấp, nhưng chẳng c̣n thấy trường đâu nữa. Người ta đă thay thế tên trường. Nó biến thành một trường dạy ngoại ngữ th́ phải. Đi ngược lên trường Phan Chu Trinh, vẫn c̣n đó, nhưng trông như trường bị thu nhỏ hẳn lại. Đến Đà nẵng trời mưa tầm tă. Tôi ghé qua một quán nước giai khát nằm giữa đoạn đường Hùng Vương và Quang Trung, gần trường Phan Chu Trinh. Hầu hết là đám học sinh quanh khu vực các trường học. Mộ cô gái khoảng độ 17 tuổi đứng kế bàn chúng tôi. Cô chẳng nói năng tiếng nào, chỉ đứng với một cây thuốc 555 trên tay. Kẻ vô người ra tấp nập, cô cũng chẳng chào hỏi. Tôi hỏi cô đứng làm ǵ đây:

 

- Em đứng bán thuộc 555.

- Bán thuốc sao không mời người ta mua. Có mời họ mới biết em bán thuốc.

- Em cũng chẳng cần. Ai mua cũng tốt, ai không mua th́ thôi.

- Thuốc nầy ở đâu em có?

- Thuốc trong nhà hàng.

- Mỗi ngày em bán được bao nhiêu gói?

- Không biết chừng.

- Tại sao em không đi học?

- Nhà em nghèo quá, lại c̣n thêm một đám em.

 

Tôi rút ra tờ giấy 100 ngàn giao cho cô bé. Cô giao thuốc cho tôi, tôi từ chối v́ tôi không hút thuốc. Cô đang loay quay t́m tiền thối lại, nhưng tôi bảo cứ giữ đó đi.

- Em có muốn đi ra  nước ngoài sống không?

- Đâu chỉ ḿnh em, mà cả nước muốn.

 

Cô gái vẫn đứng đó để chờ người khách khác mua thuốc. Trời tiếp tục mưa tầm tả, tầm tă như cuộc đời cô bé đáng thương đang đứng bên cạnh tôi. Về Việt Nam, khi lấy tiền cho những người nghèo khổ, những người bất hạnh, tôi cảm thấy vui vui trong ḷng. H́nh như ḿnh đă làm được một điều ǵ đó thực tiễn hơn, mặc dù những lúc cho như thế nầy  chẳng có báo nào đăng tên, đài nào vinh danh...   Về Đànẵng, những miền quê, những người quanh ta, người nào cũng đáng cho. Cái nghèo h́nh như là mẫu số chung cho cả nước.

 

Một điều đáng tiếc, mặc dù thành phố Đà nẵng đang vươn lên nhanh chóng, nhưng cũng như Sàig̣n, nhà cửa xây cất nhiều quá, không ngăn nắp, trật tự, nên mất đi vẻ đẹp của một thành phố êm đềm, rất Tây, từ những ngày tôi c̣n sống ở đây.

 

Tôi đi vào Hội An qua con đường mới làm. Nó chạy dọc theo bờ biển, bọc qua phía sau Ngũ Hoành Sơn rồi đến phố Hội. Hội An cũng thay đổi không kém. Những ngày ở đây trước năm 1975, có một tiệm mỳ hoành thánh rất nổi tiếng, nhưng không biết bây giờ nó ở nơi đâu, t́m không ra. Hội An cũng nổi tiếng về thịt bê thui. Hỏi một người chạy xe ôm, anh ta nói cho anh ta 5000 đồng, anh sẽ chỉ cho. Chúng tôi đi theo anh và đến đúng một tiệm bán bê thui. Tôi đưa cho anh 10,000 và mời anh cùng vào ăn với chúng tôi. Anh cảm ơn nhưng không muốn vào.

 

Trực chỉ quốc lộ I để ra Huế. Sau khi chun qua khỏi đường hầm Hẫi Vân khoảng 20 phút, tôi ghé lại Lăng Lô ăn cơm tối. Lăng cô, từ một thôn xóm nghèo nàn, nay đă có những nhà hàng sang trọng, những khách sạn ba sao. Hầu hết những người làm việc ở đây là những cư dân sinh sống tại đây từ lâu đời.

 

Huế là nơi tôi dừng lại nhiều ngày nhất trên đoạn đường ra Trung. Tôi ít ở Huế, ngoại trừ thời gian làm việc trong bộ tư lệnh tiền phương của Quân Đ̣an I đặt trong  Mang Cá, thời gian đang tái chiếm cổ thành Quảng Trị.

 

Tôi cư ngụ trong một khách sạn gần sông Hương và có thể đi bộ ra cầu Tràng Tiền chỉ vài phút. Các cô gái Huế, những tiếp viên trong khách sạn rất có ḷng với những người Việt ở nước ngoài về. Các cô hầu hết là những người có tŕnh độ về học vấn và được xuất thân từ trường dạy học để trở thành những tiếp viên trong những khách sạn có tầm cỡ. Tiếp xúc lịch sự và đứng đắn là căn bản hàng đầu của các cô. Cho nên các cô thường được những khách sạn lớn nhận vào một cách dễ dàng.  Ngày nào tôi cũng thả bộ trên cầu Tràng Tiền để qua bên kia là chợ Đông Ba. Những cô bác bán hàng trong chợ rất dễ thương, vui vẽ, và đôi khi họ nài nĩ  mua đến  tội nghiệp. Điều nầy đă đánh tan những câu chuyện kể lại tôi được nghe, ra Huế phải coi chừng các bà các cô bán hàng, họ bán hàng mà như là họ “làm cố nội” người mua hàng. Cô gái Huế đă mất đi nét đẹp thướt tha ngày cũ. Vẫn áo dài trắng, nhưng xe đạp đă được thay thế bằng gắn máy Honda hay của Trung quốc. Mái tóc thề vẫn c̣n đó nhưng không được che bằng chiếc non bài thơ để “cá sông Hương phải ngẩn ngơ nh́n” mà bị trùm lên bằng “cái nồi cơm điện” (mũ an toàn mà dân trong nước  gọi là nón bảo hiểm).      

 

Trong thời gian ở Huế, tôi được tiếp xúc với hai giới lao động, nghèo rách mùng tơi. Trước khách sạn tôi ở có một  người trạc 40 tuổi. Anh đang làm nghề sửa giày bên lề đường. Tôi ghé lại để nhờ anh đóng lại gót giày quá ṃn. Anh tâm sự:

 

- Tôi trụ tŕ cái tiệm không tên, không nhà nầy đă gần bốn năm. Lúc ban đầu, ngày nào công an cũng đuổi, không cho tôi hành nghề ở đây. Tôi cuốn gói bỏ đi, hôm sau vẫn trở lại. Công an lại đến đuổi. Họ nói: “bây giờ đất nước văn minh rồi, dân chúng tiến bộ rồi, không có cái cảnh sửa giày ngoài đường như thế nầy, trước khách sạn, du khách họ cười cho”. V́ thuộc thành phần trên răng, dưới lựu đạn, tôi c̣n sợ ai nữa, nên cự lại với công an: “Du khách họ đâu có cười, họ c̣n cho tôi tiền nữa là khác. Chính các anh mới là đám trong rừng về, thấy tui hành nghề lạ nên cười, phải không? Anh thấy thân tôi như thế nầy mà bảo đất nước văn minh, người dân tiến bộ cái chỗ nào? ”. Đuổi lui đuổi tới, tôi vẫn không bỏ chỗ tôi sống. Cuối cùng công an cũng chịu thua để tôi ở đây.

Tôi hỏi anh:

- Mỗi ngày anh kiếm được bao nhiêu tiền?

- Nếu may mắn th́ khoảng  gần 50000 (hơn 3 USD), b́nh thường th́ khoảng 30,000 (trên dưới 2 USD).

- Gia đ́nh anh ra sao?

- Một vợ và ba con. Vợ đi làm công ngày có ngày không. Mấy đứa nhỏ không được đi học, ngoại trừ đứa đầu c̣n lui tới nhà trường nhưng vất vả lắm.

 

Tôi đưa cho anh tờ giấy bạc 100000. Anh cảm ơn rối rít. Anh nắm tay tôi và chúc tôi trở về Mỹ bằng an. Bỗng dưng ḷng tôi chùng xuống, thật quá buồn! Trên đất nước bây giờ có bao nhiêu người như anh sửa giày nầy? Chắc là nhiều lắm.

 

Trong một lần ghé qua nhà một người bạn. Con hẻm vào nhà có một thanh niên c̣n trẻ làm nghề hớt tóc. Tôi thấy bảng ghi: hớt tóc và ráy tai 7000 đồng. Sao rẽ quá vậy? Chỉ tương đương chưa tới 50 cent. Tôi dừng lại và muốn anh chỉ ráy tai thôi, không hớt tóc. Anh c̣n quá trẻ nhưng lại không có cơ hội đi học như những bạn trẻ khác. Chắc gia đ́nh cũng lâm vào t́nh trạng thiếu thốn. Anh ráy tai rất chuyên nghiệp. Đây là cái thú của tôi trước năm 1975. Tôi đă để mất nó gần 33 năm, nay được làm lại, sướng vô cùng. Sau khi xong, tôi đưa cho anh 70,000. Anh lẹ làng bỏ tờ giấy bạc vào túi. Anh nói với tôi:

- Chú cho em thế nầy, em khỏi đi làm được hai ngày.

 

Nói xong anh thu dọn đồ đạc để về nhà sớm hơn thường lệ.

 

Mặc dù ở lại Huế gần bốn ngày nhưng chẳng đi thăm được đền đài vua chúa, ghe thuyền cung đ́nh cũng chẳng thấy nằm ở đâu. Chỉ lui tới khu phố bên nầy và bên kia cầu Trường Tiền  đă hết ngày. Tôi rời Huế để ra vùng hỏa tuyến (DMZ).

 

Con đường ra Đông Hà/Quảng Trị khá tốt. Khi đi ngang qua “đại lộ kinh hoàng”, nhờ người tài xế cho biết nên mới biết đó là “đại lộ kinh hoàng” năm xưa. Chính quyền rất khôn ngoan khi họ cho làm lại con đường nầy tươm tất, sach sẽ và không c̣n để lại một vết tích ǵ về tội ác họ gây ra trên con đường nầy. Người tài xế gọi khoảng đường nầy là “đường thảm”. Khi gọi như vậy, tôi nảy sinh ra hai ư nghĩa khác nhau. Một là con đường đầy “bi thảm” của người dân trong những ngày chạy giặc từ Quảng Trị vào Huế. Hai là con đường quá êm nên người dân địa phương gọi là “đường thảm”. Đúng thế, người tài xế nói rằng ư nghĩa thứ hai là đúng. Anh cũng cho tôi biết, đoạn đường nầy cũng lắm ma vào ban đêm. C̣n rất nhiều người tan xác, không tim ra thi thể khi cộng quân pháo kích vào thời di tản. Cho nên, những  oan hồn nầy đêm đêm thường hay ra đón xe trên đường lộ. Khi th́ cô gái bận áo quần trắng tinh, khi th́ bác nông phu quần áo rách tă tơi. Đôi lúc có những em bé lểu thểu lạc lơng bên lề đường hay những anh lính Việt Nam Cộng Ḥa cầm súng ngồi đợi đoàn “công voa” bên bờ đê, ruộng lúa. Câu chuyện làm cho tôi rùng ḿnh nghĩ đến những ngày tang tóc đă qua.

 

Tôi ghé qua ngôi thánh đường La Vang. Ngày xưa, trước mặt thánh đường là một con đường lớn, thẳng tắp, chạy từ quốc lộ I vào. Bây giờ không c̣n nữa. Cây cối mọc um tùm, chỉ c̣n lại một con đường nhỏ đủ cho một chiếc xe hơi đi vào, nằm ở phía tay phải. Ngôi thánh đường La Vang sụp đổ hoàn toàn, ngoại trừ chiếc tháp cao. Khung cảnh trở nên huyền bí và thinh lặng, không c̣n như ngày xưa. V́ con đường chính trước mặt không c̣n nữa nên một tượng đài Đức Mẹ được dựng lên ngay trước Thánh đường . Tôi đă đến đây để cầu nguyện, cầu nguyện cho quê hương đất nước, cầu nguyên cho gia đ́nh và cầu nguyện cho cả những  oan  hồn đă chết  tan xá“đại lộ kinh hoàng” tôi vừa đi qua sáng nay. Nơi đây cũng có rất nhiều người dân đi ăn xin. Họ biết đa sô người đến đây là từ nước ngoài về. Nếu bạn cho một em bé vài ngàn đồng, chỉ một hai phút sau, một đoàn người già, trẻ, lớn,  bé sẽ bao quanh bạn. Thôi th́ cũng đành. Làm việc thiện có chi hay bằng là cho trực tiếp đến người hoạn nạn.

 

Quảng Trị không mấy thay đổi, và hầu như không thay đổi ǵ cả. Nhưng ngược lại Đông Hà thay đổi hoàn toàn. Năm 1968 tôi trú đóng trong Bộ tư lệnh Sư đoàn I TQLC/Hoa Kỳ, Đông Hà được gọi là “khu phố buồn hiu”. Quả đúng như tên gọi. Nó buồn thảm thiết, buồn da giết. Đông Hà chẳng có ǵ cả ngoài một bến xe với những căn nhà lụp sụp, nghèo nàn. Những anh lính chiến của sư đoàn I đi lang thang trên đường trong những ngày dưỡng quân từ các mặt trận về. Đêm đêm, tiếng đại bác vọng về từ các căn cứ Việt/ Mỹ, tiếng pháo kích của Cộng quân từ Do Linh, Côn Thiên, Cửa Việt vang dội Đông Hà. Nhưng bây giờ, Đông Hà đă có một bộ mặt hoàn toàn đổi mới. Nó như một thành phố đang vươn lên nhanh chóng. Điều nầy cũng dễ hiểu, v́ Đông Hà là con đường huyết mạch từ Lào qua, nơi tập trung của những đám buôn lậu biên giới.  Quốc lộ 9 đă trở thành một con đường đầy sức sống. Căn cứ Camp Carroll nằm ở hướng Tây Đông Hà, một địa danh nổi tiếng cho cả quân lực Mỹ lẫn Việt trước năm 1975. Tôi đă ở trên ngọn đồi nầy gần ba tháng để “đón nhận” hàng loạt đại bác 122 mm của cộng quân phóng tới từ Côn Thiên, vào ban ngày. Ngọn đồi nầy cũng là nơi một trung đoàn Việt Nam CH đă bị cộng quân bao vây. Cuối cùng đành phải đầu hàng địch v́ Quân đoàn từ chối yểm trợ, cố vấn Mỹ cũng bỏ chạy.

 

Đoạn đường cuối cùng mà tôi hằng mong ước suốt 53 năm qua: vượt sông Bến Hải, qua cầu Hiền Lương để đi vào quê tôi, tỉnh Quảng B́nh. Giấc mơ đă biến thành sự thực “Dream comes true”.

 

Đường từ Đông Hà ra Quảng B́nh thật là tốt, không thua ǵ những con đường bên Mỹ. Một phần, đây là vùng đất bị tàn phá nặng nhất nước trong thời chiến tranh; do đó, chính quyền kiến thiết lại để bù đắp những thiệt tḥi cho tỉnh Quảng B́nh. Phần khác, xe cộ lưu thông không nhiều, đường vắng hoe nên ít hư hại. Thật là hồi hộp khi sửa soạn đến cầu Hiền Lương. Nơi đây đúng là một di tích lịch sử đă chia cắt đất nước tôi làm hai miền Nam Bắc suốt 21 năm dài. Chiếc cầu cũ nay không c̣n dùng, chỉ cho người đi bộ. Chiếc cầu mới được xây thêm, rộng răi và có tầm vóc hơn. Đây là lần đầu tiên tôi thấy chiếc cầu Hiền Lương. Khi xe băng qua cầu, nghe ca khúc “Chuyến Đ̣ Vỹ Tuyến” của Lam Phương.  Buồn vui lẫn lộn.

                               

Càng đi sâu vào tỉnh Quảng B́nh, quang cảnh vùng quê thật yên b́nh và tĩnh mịch. Hai bên đường vắng bóng người, không như trong Nam, xe với người như mắc cửi. Lâu lâu mới thấy một ngôi nhà ẩn hiện trong xóm làng xa xa. Dọc theo quốc lộ cũng có một số nhà được xây theo kiểu Đông Âu, trông rất xa lạ với dân miền Nam. Những quán bên ăn bên đường xơ xác và chẳng thấy khách đâu cả. Những sông ng̣i băng qua quốc lộ, nước trong xanh và phẳng lỳ như tấm thảm nhung. Lâu lâu có gặp một hai tiệc cưới. Cũng chăng đèn kết hoa, nhưg chẳng thấy một ai mặc vest mà chỉ có áo dài, nón lá.

 

Tôi rất vui khi bắt đầu thấy những bảng tên như Lệ Thủy, Vơ Xá, Quán Hàu xuất hiện đàng trước mặt, v́ biết rằng ḿnh sắp đến Đồng Hới, thủ phủ của tỉnh Quảng B́nh. Đoạn đầu của sông Nhật Lệ đă hiện ra bên tay phải. Từ đây biến thành một ngả rẽ đề ḍng sông chảy ra Thái B́nh Dương. Phong cảnh thật đẹp, như một bức tranh. Xa xa là ngọn núi Đầu Mâu đâm thọc lên bầu trời xanh ngắt. Khi vào thành phố Đồng Hới, tôi không c̣n biết đâu vào. Đă 53 năm vật đổ sao dời, hơn nữa thành phố cũng như tỉnh Quảng B́nh bị san bằng từ năm 1966. Không một viên đá nào trên viên đá nào. Quảng B́nh trở thành một băi tha ma. Nhưng bây giờ Quảng B́nh nói chung và tỉnh Đồng Hới nói riêng, đă vực dậy như một con phượng hoàng bay lên sau một giấc ngủ hơn nữa thế kỷ.                  

 

Tôi cho tài xế băng qua chiếc cầu mới xây trên sông Nhật Lệ để đến bên kia gọi là Sao Cát. Sao Cát là một chuổi đất dài chạy từ phía Nam của sông Nhật Lệ ra tới cửa sông, nơi tiếp giáp với Thái B́nh Dương. Nếu bạn đi về tiểu bang Florida, khi qua thành phố nghỉ mát Fort Walton Beach, bên tay phải, một cồn đất trắng chạy dài từ Tây sang Đông, đó là h́nh ảnh một Sao Cát của tỉnh Quảng B́nh ngày nay. Hiên nay, tại Sao Cát, một đề án Resort đang được xây cất rất lớn. Khách sạn ở đây lên tới 150 USD một ngày. Xe quay đầu trở lại thành phố Đồng Hới, tôi đă nh́n ra ngôi thánh đường Tam Ṭa xa xa. Đi hết cầu là đến làng tôi, Tam Ṭa nằm bên tay trái.

 

Cầu Mụ Kề, trước mặt trường Chơn Phước Phượng không c̣n nữa. Nó chỉ c̣n lại một lỗ nhỏ như ống cống, cách xa chân cầu khoảng 100 thước. Từ chân cầu đi về hướng Bắc cũng khoảng 200 thước, tôi đang h́nh dung ra căn nhà của tôi, mặt hướng về ḍng sông Nhật Lệ. Nơi đây, 65 năm trước tôi được sinh ra và lớn lên qua thời ấu thơ bên ḍng sông nầy. Rồi tuổi 12 tới, cùng gia đ́nh di cư vào Nam, sống miết ở miền Nam cho đến ngày bỏ nước ra đi năm 1975.

Đứng trước nhà thờ Tam Ṭa, nước mắt tôi đă chảy ra. Những kỷ niệm thời thơ ấu trở về như mới ngày nào. Trường tiểu học của các bà phước ḍng Mến Thánh Giá, sân banh bên cạnh nhà thờ, hàng phượng vỹ đỏ thắm sau lưng nhà thờ, bên sông Nhật Lê, con đường Truyền Giáo nằm trước mặt nhà thờ, hướng Tây đi lên nhà tôi, hướng về Nam là cử biển Nhật Lệ, c̣n gọi là Xóm Đúc... tất cả không c̣n nữa. Tôi chỉ đứng trước nhà thờ rồi h́nh dung ra mà thôi. Tất cả đă thay đổi. Từ nhà thờ đi ra cửa biển thật gần, thật mát, có thể tản bộ dọc ḍng sông khoảng 10 phút là đến cửa biển. Nhưng 53 năm về trước, chúng tôi đi sao mà thấy xa xôi quá chừng. Sông, núi, biển đă tạo cho quê tôi một khung cảnh thật đẹp như trong tranh. Chiều đến, chúng tôi đi dùng cơm tối tại một nhà hàng nổi tiếng ở Đồng Hới. Nổi tiếng về món ăn chứ không phải nổi tiếng về sự sang trọng của nhà hàng. Cô chủ quán là người Quảng B́nh ra tiếp chúng tôi. Tôi cho cô biết tôi là người địa phương của 53 năm về trước. Cô rất thành thật khi chúng tôi muốn gọi món ếch. Cô nói:

- Các anh đừng ăn ếch ở đây, v́ ếch được nuôi nên không ngon. Các anh ăn lươn ngon hơn, v́ lươn được bắt từ những hang động của chúng nó.

 

Chúng tôi thưởng thức món lẩu lươn thật tuyệt vời, đúng nghĩa món ăn của quê hương. Ồ! C̣n nước mắm. Tôi chưa thấy nước mắm nào ngon bằng nước mắm Quảng B́nh, người ta gọi là nước mắm nhỉ. Rất trong và rất thơm, không có đen thui như nước mắm Thái Lan chúng ta đang dùng ở Mỹ.

 

Tôi ngủ lại trong khách sạn trước mặt nhà thờ. Một khách sạn không mấy sang trọng, hơi kém tiêu chuẩn. Nhưng đă lỡ vào rồi th́ thôi cũng đành chịu vậy. Buổi chiều, một ḿnh đi dọc theo bờ sông để được sống lại tuổi thơ. Làng tôi rất nhỏ, phải nói là rất nhỏ. Từ đầu làng tới cuối làng không xa hơn một cây số. Bây giờ phần trên của làng (xóm trên) cũng là nơi nhà tôi sống và trường học Chơn Phước Phương, nay bị trùm lên một công viên khá đẹp, dọc bờ sông. Tôi t́nh cờ gặp một cụ già khoảng trên 70 tuổi. Tôi và cụ ngồi trên ghế đá, trong công viên chuyện tṛ. Cụ kể:

- Vào năm 1966, Tam Ṭa cùng chung số phận với tỉnh Quảng B́nh, bị cày nát và xóa tên. C̣n chăng là chiếc tháp của nhà thờ Tam Ṭa đang đứng ngạo nghễ đàng kia. Tất cả bây giờ chú thấy là được kiến tạo lại sau năm 1975.

 

Tôi hỏi cụ:

- Nếu bom đạn san bằng như vậy th́ dân chúng chắc chết hết?

- Không. Có chết là chết những anh bộ đội đang tập trung quân nơi đây để vào giải phóng miền Nam. Người dân trốn hết vô núi, trong dăy Trường Sơn ở phía Tây của làng. À! Mà chú bỏ làng ra đi đă hơn nữa thế kỷ, nhưng mà ta thấy giọng nói Quảng B́nh của chú không thay đổi. Tốt lắm!

 

Tôi lại hỏi cụ:

- Người dân Quảng B́nh sống bằng nghề ǵ?

- Như chú biết, đất Quảng B́nh khá rộng nhưng họ không biết khai thác. Đảng th́ cứ lo thân của đảng, có lo ǵ cho dân đâu. Cho nên dân Quảng B́nh làm đủ thứ nghề. Nhưng bây giờ, người gốc Quảng B́nh đă tản mác khắp nơi. Kẻ vào Nam, người vào Huế, Đa Nẵng...Đa số dân hiện sinh sống ở đây từ các nơi đến. Chú về đây, có gặp lại ai bà con làng nước không?

Tôi ngập ngừng rồi trả lời cụ:

- Gia đ́nh cháu rời Tam Ṭa khi cháu mới 12 tuổi. Cả làng cùng đi hết vào Nam năm 1954. Bây giờ chắc không c̣n ai là người thân ở đây. Nhưng nếu có, cũng không biết họ ở đâu.

Tôi ngủ một giấc ngủ thật êm đềm trên làng tôi sau hơn nữa thế kỷ bỏ nó ra đi. Tâm trạng của người xa quê khi trở về đều giống nhau, không phân biệt tuổi tác, chính kiến, tôn giáo... là ḍng lệ chảy ra trên khóe mắt khi t́m thấy trong vùng đất thân yêu đó, một trời kỷ niệm của tuổi thơ trở lại.

 

Sáng hôm sau, tôi dậy thật sớm. Sương mai c̣n đọng trên những cành phượng. Gió buổi sáng thổi nhè nhè từ bờ sông Nhật Lệ bay lên làm mát bờ sông. Tôi và người bạn đi t́m một quán cà phê để uống. Cách khách sạn không xa, một quán cà phê lộ thiên đang được ông chủ mang bàn ghế ra để trước sân nhà.  Ông chủ biết  tôi là người nước ngoài, lại là gốc Quảng B́nh, nên ông thao thao bất tuyệt về chính trị, kinh tế, văn hóa v.v. Tôi chỉ biết lắng nghe mà không chút ư kiến nào cả. Ông cho biết động Phong Nha là một thắng cảnh của thế giới, nhưng bọn chính quyền ngu dốt ở đây tham ô, tiền bạc xai bừa băi nên động Phong Nha vẫn c̣n là một nơi chẳng ra đâu vào đâu. Nếu thắng cảnh nầy của nước ngoài, chắc chắn không thể như bây giờ.

 

Đang nói chuyện thời sự, tôi có nhắc đến mùi vị nước mắm Quảng B́nh hôm qua tôi được dùng ở nhà hàng. Ông chủ vội mang ra cho tôi thử một chút nước mắm trong nhà ông. Quả thưc thơm ngon không thua ǵ nước mắm ở nhà hàng. Tôi hỏi ông có thể mua cho tôi vài lít để mang về được không? Ông trả lời đó là chuyện nhỏ. Mười lăm phút sau, một người mang đến cho chúng tôi 4 lít đă được đóng kín trong chai. Tôi hỏi ông:

- Tại sao nước mắm không có nhăn hiệu? Ông có thể cho tôi biết nơi sản xuất để lần sau trở về, tôi có thể mua thêm cho bạn bè.

Ông phân trần:

- Đây là loại nước mắm rất đặc biệt, người ta chỉ sản xuất rất hạn chế, để cho các “quan chức” lớn trong tỉnh dùng mà thôi, cho nên không có nhăn hiệu.

 

Th́ cứ tin như vậy. Tôi trả tiền và cáo từ v́ trời cũng bắt đầu sáng. Thực ra, chuyến đi nầy, chúng tôi sẽ tiếp tục ra tới Hà Nội rồi dùng phương tiện phi cơ bay thẳng về Sàig̣n. Nhưng đến Quảng B́nh, trời chuyển mưa to gió lớn nên chúng tôi phải hủy bỏ để trở về Huế. Trên đường về, dọc đường gặp một chiếc xe tăng T 54 nằm chúi đầu xuống hố. Tôi nói với anh tài xế: “đảng cũng hay đấy chứ, vẫn c̣n để lại những di tích chiến tranh để câu khách, chụp h́nh, quay phim”. Anh trả lời: “Đâu phải vậy chú. V́ xe tăng nặng quá, không ai mua. Nếu cón người mua, chúng đă bán rồi. Chú thấy không, ở Huế  sau năm 1975, người ta gọi những đồ cổ trong các lăng tẩm vua chúa là đồ “thiên sứ”. Lư do v́ những thứ nầy mọc cánh thiên thần bay về nhà mấy quan chức lớn hết rồi”.

 

Về đến Huế, mở một chai nước mắm dùng thử xem sao. Trời đất quỷ thần ơi! Chúng tôi bị ông chủ Quảng B́nh gạt. Đó chỉ là bốn chai nước muối không hơn không kém. Nếu nước mắm như thế nầy th́ cần ǵ phải mua từ Quảng B́nh, vô Sàig̣n, qua Mỹ thiếu ǵ. Tối hôm trước chúng tôi gặp cô gái Quảng B́nh trong nhà hàng thành thực bao nhiêu, th́ hôm nay gặp anh chàng Quảng B́nh “ma giáo” bấy nhiêu.

 

Về lại Sàig̣n để ăn một cái Tết Việt Nam đầu tiên sau 33 năm xa cách. Sau Tết, v́ c̣n nhiều thời giờ, tôi mướn xe đi  Mỹ Tho để t́m lại nơi tôi đă làm việc từ năm 1972 cho đến khi mất nước ra đi. Khi c̣n cách xa Trung Lương khoảng ba cây số, chúng tôi dừng lại một nơi nghĩ mang tên Mekong Resort. Có rất nhiều cô gái miền Nam bận áo bà ba đang làm việc trong nhà hàng nầy.

 

Đến Mỹ Tho, việc đầu tiên là đi t́m quận Sầm Giang. Sầm Giang là một trong 7 quận thuộc tỉnh Định Tường, và là quận nguy hiểm nhất của vùng bốn Chiến thuật. Quận nầy được CSViệt Nam tuyên bố phải giải phóng đầu tiên v́ là quê vợ của ông Tôn Đức Thắng. Tôi đă ở nơi nầy từ năm (1973-1975). Khi qua khỏi cầu Long Định, hỏi những người quanh  vùng để t́m đường vào quận Sầm Giang, nhưng chẳng một ai biết Sầm Giang là nơi đâu. Cuối cùng đành phải trở về Mỹ Tho. Lư do v́ khi CSViệt Nam chiếm miền Nam, họ đă sát nhập hai tỉnh Định Tường và G̣ Công thành tỉnh Tiền Giang nên quận Sầm Giang cũng bị “mất tích” từ đó. Trên đường về tôi mới nghĩ ḿnh ngu thật: tại sao không hỏi thêm xă Vĩnh Kim? Nếu hỏi xă Vĩnh Kim, người dân sẽ biết ngay. Tướng Trần Văn Hai, tư lệnh sư đoàn 7 BB đóng ở Đồng Tâm, sát nách quận Sầm Giang, đă tuẫn tiết tại đây trong những ngày cuối cùng trước khi mất miền Nam Việt Nam.

 

Trong chuyến về thăm quê hương lần đầu, mục đích là muốn nh́n thấy những nét đẹp của quê hương do trời ban cho. Tôi không đến bất cứ một địa điểm mà chính quyền hay cá nhân dựng lên để câu khách du lịch. Tôi cũng chẳng cần vào những nơi ăn chơi của các “đại gia” như những Việt kiều kể lại. Tới đó chỉ bị “móc túi” một cách khoa học, tức hộc máu và mất th́ giờ, vô ích.

 

Giấc mơ về thăm quê tôi đă măn nguyện. Nhưng điều mong muốn ra Hà Nội vẫn chưa thành. Tôi chỉ sống ở Hà Nội vào khoảng 1950-1952 v́ ba tôi có một hăng nước mắm tại Ô Cầu Giấy. Tôi chỉ c̣n nhớ chút ít về Hà Nội là căn nhà tôi ở trước mặt Nhà Hát Lớn trên phố Trường Tiền. Con đường nầy chạy thẳng ra sẽ gặp Hồ Hoàn Kiếm. Ô Cầu Giấy là nơi có nhiều cánh đồng hoang vu, đẹp, chạy thẳng lên là gặp chùa Voi Phục. Đó là những h́nh ảnh cuối cùng tôi biết về Hà Nội. Tôi muốn rằng, nếu có dịp về Việt Nam lần thứ hai, sẽ dùng đường bộ đi nốt quăng đường c̣n lại của quê hương: Quảng B́nh – Hà Nội. Trước sau ǵ cũng có ngày đó xảy ra. Giấc mơ nầy không biết lúc nào thực hiện được?

 

Lời cuối của bài “Viết về một chuyến đi”:

 

Nếu bạn về quê hương với một tấm ḷng muốn nh́n lại đất nước thân yêu, thăm bạn bè, bà con, ai c̣n, ai mất, tôi tin rằng chẳng có ǵ xảy ra cho bạn. Nhưng bạn về với một ư định có móc nối trước, tôi tin chắc sẽ không ổn cho bạn. Chính quyền chịu cấp cho bạn Visa, không có nghĩa bạn sẽ được về Việt Nam như bạn muốn. Bạn có thể bị bắt ngay tại phi trường nếu họ có bằng chứng bạn đang có ư đồ đối với chính quyền là bất chính. Họ bắt rồi cũng chỉ tạm giam bạn một thời gian ngắn thôi, dù tội của bạn không thua ǵ tội của Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Lư, Nguyễn Văn Đài, Thích Quảng Độ... cũng sẽ được trở về Mỹ. Nhưng họ bắt, trước là phô trương cái hệ thống “an ninh cực kỳ ghê gớm” của công an, sau là để “dằn mặt” những kẻ muốn chống lại chế độ.

 

Bạn ơi! hăy tin tôi đi. Tại hải ngoại, trong hầu hết các tổ chức, hội đoàn, mặt trận, phong trào... đều có mặt họ. Nay lại thêm một “gánh hát lớn” của Lư Ṭng Bá lập ra. Rồi cũng trở thành cái nơi để bọn háu danh phô trương, cơ hội tốt cho VC nhảy vô để quậy phá công đồng. Bạn rời Mỹ, bên kia đă biết rồi. Cho nên, bạn muốn nổi tiếng chống Cộng, cứ la rầm lên: “Tôi sắp về nước với một  điệp vụ vô cùng to lớn”. Chưa về nghe đă nổi tiếng. Về rồi, vô tù vài tháng như ba ông Việt Tân, trở lại Mỹ, không những nổi tiếng mà c̣n trở thành những anh hùng. Có những người đi về Việt Nam như đi chơ, chẳng sao cả. Nhưng khi về với một “công tác” được giao phó, sẽ bị “tóm” ngay tại phi trường.

 

 

Tại sao hay vậy? Bạn cứ đọc lại câu chuyện vua An Dương Vương với Mỵ Châu và Trọng Thủy th́ sẽ hiểu tại sao? /