Viết Về Một Chuyến Đi

Nguyễn Phi Thọ

30 tháng 4 năm 1975, người Việt tị nạn Cộng sản đă 33 năm xa xứ, làm thân lưu vong. Không có một thống kê nào chính xác để biết đă bao nhiêu người Việt di cư trở về quê hương. Người ta chỉ nghe nói là mỗi dịp Tết, có hàng trăm ngàn người về ăn Tết tại Việt Nam, chưa kể số người về trong năm. Thống kê về tiền bạc th́ cho biết có khoảng gần 7 tỷ Mỹ kim người Việt gởi về nước trong năm 2007.       

Những người trở về có nhiều lư do: thăm gia đ́nh, muốn nh́n quê hương “đổi mới”, lấy vợ hay lấy chồng, lập gia đ́nh cho con cái, buôn bán làm ăn, âm thầm hoạt động để chống lại chế độ, ăn chơi sau những năm tháng làm việc mệt nhọc tại hải ngoại... và sau cùng là thành phần “áo gấm về làng”. Trước đây, chuyện về Việt Nam như là một h́nh thức tiếp tay cho chế độ nên nhiều người dấu giếm, không muốn cho ai biết. Thời gian sau nầy, sự giấu giếm hầu như không c̣n nữa mà chỉ c̣n nơi những người đang hoạt động trong hội đoàn, chính trị hoặc buôn bán làm ăn với chính quyền. Ngoài ra, một số người vẫn c̣n trung thành với lời thề đă hứa: “ngày nào c̣n chế độ Cộng sản trên quê hương, ngày đó nhất định chưa về”.

Tôi khâm phục những con người đă giữ vững  lập trường như vậy. Có những người đă thực sự nhắm mắt, gởi thân xác nầy lại nơi đất khách quê người, và chưa bao giờ thấy lại quê hương. C̣n những người khác, không ai biết  họ có giữ được lời thề đó hay không. Nào ai biết. Đối với tôi, thời gian 33 năm hầu như đă quá dài để chờ đợi một ngày trở về, dù sự trở về nầy được đánh giá là tốt hay xấu, vui hay buồn, thắng hay thua. Tôi đă cố gắng tách rời t́nh yêu quê hương với thể chế chính trị. Nếu không làm được điều đó th́ chắc chắn chúng ta sẽ luôn luôn sống trong t́nh trạng rối ren tâm hồn. Và khi con người không có sự b́nh an trong tâm hồn th́ làm sao vui sống được. Có phải vậy không bạn?

Định nghĩa làm sao là “tách rời t́nh yêu quê hương với thể chế chính trị?” Theo tôi, cũng giống như chúng ta không nên đưa tôn giáo vào chính trị. Tôn giáo là một cái ǵ cao đẹp, vươn tới chân thiện mỹ; nhưng chính trị chẳng bao giờ có được như thế. Mặc dù những nhà làm chính trị luôn luôn đưa ra những điều hay, tốt, đẹp cho quê hương dân tộc; nhưng trong thực tế, khi nhúng tay vào chính trị để phục vụ đồng bào, không làm sao tránh khỏi những lươn lẹo, mập mờ, gian dối, đổi trắng thay đen..v.v. Cũng như thế, chúng ta nên nh́n chuyện trở về quê hương là một hành động biểu lộ sự thiết tha gần gũi với luống rau, ngọn cỏ, củ sắn, vười khoai, với sông hồ núi biển và với những t́nh tự của dân tộc. Đó là những cái ǵ không thể tách rời khỏi con người c̣n yêu mến quê hương. Thể chế chỉ là một h́nh thức ổn định cho những sinh hoạt của người dân trong xă hội mà thôi. Thể chế có thể tàn bạo hay nhân từ, đổi thay nhanh chóng hay tồn tại lâu dài, nhưng chắc chắn thể chế không phải là quê hương. Những nhà lănh đạo rồi cũng sẽ chết đi để người khác thay thế. Ḍng thác lũ sẽ làm quê hương thăng trầm tùy mỗi giai đoạn của lịch sử, mỗ"> Tôi đă nhiều đêm trăn trở trong suN 89;t quảng thời gian gần 33 năm ĺa xa đất mẹ. Tôi c̣n hai đứa em đang sống vất vả “chạy cơm từng bữa toát mồ hôi” ở quê nhà. Tôi có người cha ra đi năm 1985, người mẹ âm thầm theo chồng năm 2000 nhưng không gặp được mặt con. Tôi thầm nghĩ, nếu một người trở về thăm quê hương hay nhất định không về th́ chính thể sẽ được đổi thay bao nhiêu. Theo tôi có lẽ không đổi thay chút nào cả. Nhưng nếu hàng trăm ngàn người đồng ḷng về hoặc không về th́ chính thể có đổi thay không? Chắc chắn là có. Chỉ nói một con tính nhỏ về tiền bạc: hàng trăm ngàn người về sẽ mang lại hàng trăm triệu đến hàng tỷ dollars cho chính quyền; và nếu hàng trăm ngàn người không về th́ chính quyền sẽ mất đi cũng hàng trăm triệu, tỷ dollars. Nhưng như bạn đă thấy, trong cộng đồng chúng ta, trong các hội đoàn, tổ chức nhất là những nơi có đông người Việt như Nam và Bắc California, Houston, Washington D.C... chỉ mới một nhóm người thôi đă bất đồng ư kiến đủ mọi chuyện, không ai chịu thua ai, ai cũng muốn ḿnh là “cái rốn vũ trụ”, choảng nhau đến độ “cạn tào ráo máng”. Chuyện lôi nhau ra ṭa cũng biểu lộ người nào cũng có “công lư”, không ai chịu nhận ḿnh là người không có công lư. Chống cộng cũng vậy. Mỗi người một ư, nhưng khi không đồng quan điểm với ḿnh th́ đội cho chiếc “nón cối”, là Việt cộng, là Việt gian...Vậy th́ thử hỏi biết đến bao giờ hàng trăm ngàn người Việt di cư đồng ḷng không về thăm, không gởi tiền về quê hương? Bài toán không giải được th́ đáp số sẽ không bao giờ có. Và rồi chúng ta chỉ c̣n ngồi đây để hát bài “ngh́n trùng xa cách” cho tới khi tấm thân vong quốc nầy được chôn vùi dưới ḷng đất quê người.

Quan niệm của tôi về việc chống Cộng không phải được thẩm định chuyện về Việt Nam hay không, nhưng phải bằng tấm ḷng của ḿnh c̣n là người Việt Nam hay chấp nhận nơi nầy là quê hương. Và ḿnh có thực ḷng muốn cho đất nước được ấm no hạnh phúc hay chỉ hạnh phúc ấm no  cho đảng, phe nhóm hay riêng ḿnh. Ở đây có là quê hương thứ hai, thứ ba, hay thứ một trăm, cũng chỉ là quê người chứ không phải là quê hương như một số người thường nói đến. Có một số người thường dấu chuyện ḿnh về Việt Nam. Tại sao lại phải dấu khi ḿnh về thăm quê hương ḿnh chứ đâu phải về thăm đảng Cộng sản Việt Nam. Đi vào nhà quàng thăm một người bạn đă khuất, không có nghĩa cũng muốn chết theo ông bạn hay muốn cuộc đời buồn thảm u sầu như ở nhà quàng.  Cuối cùng, không c̣n sự lựa chọn nào khác hơn, tôi  quyết định trở về thăm quê sau 33 năm xa cách. Tuy nhiên, mục đích chính của tôi không phải là Sàig̣n, là Hà nội hay Huế... và cũng không phải đóng vai “áo gấm về làng” như những người khác; nhưng để thăm lại làng tôi, Tam Ṭa, bên ḍng sông Nhật Lệ, tỉnh Quảng B́nh, nơi tiếp giáp với Thái B́nh Dương sóng vỗ ŕ rầm, biển xanh cát trắng, dựa lưng bên dăy Trường Sơn cao vút đến tận trời xanh. Nơi đây, 53 năm trước tôi đă được sinh ra và lớn lên qua thời ấu thơ. Mồ mả tổ tiên ông bà của tôi cũng đă an nghĩ qua bao thế hệ.

Có lẽ tôi quá dài ḍng chăng? Không đâu! Tôi chỉ muốn chia sẻ với bạn đọc về một chuyến đi, lại là chuyến đi về thăm quê hương. Những chia sẻ như vậy ở hải ngọai thường rất dễ bị “chụp mũ” là cổ xúy cho việc trở về Việt Nam, tiếp tay với chính quyền Cộng sản. Người Việt di cư sống ở hải ngoại đă gần một phần ba thế kỷ. Họ sống trong một quốc gia tự do và dân chủ nhất thế giới, tŕnh độ của họ chắc chắn không phải là tŕnh độ của đám con cháu bác Hồ. Vậy th́ ai có thể cổ xúy hay tuyên truyền cho việc đi về Việt Nam của họ? Về Việt Nam là tùy thuộc vào cái nh́n của mỗi người, mỗi hoàn cảnh. Họ dư thừa tŕnh độ hiểu biết để lựa chọn cho ḿnh một quyết định thật đúng đắn là nên về hay không. Không ai có thể lung lạc được họ, kể cả đảng CSVN muốn mời họ về ăn gan rồng tim cọp. Theo tôi, nếu người chiến sĩ không thể bỏ rơi chiến hữu của ḿnh th́ người Việt Nam cũng không thể bỏ quên quê hương đất nước của ḿnh.

Tôi đến phi trường Tân Sơn Nhất vào khoảng xế trưa. Thủ tục nhập cảng không gặp một trở ngại nào. Nhưng thực ḷng mà nói, lần đầu tiên đứng đối diện với người nhân viên trong bộ đồng phục màu xanh lá cây đậm với cầu vai màu đỏ (h́nh như là công an) để anh ta đóng dấu trên Passport, làm tôi muốn đứng tim. Câu chuyện một mục sư bị chận lại ở phi trường Tân Sơn Nhứt, mặc dù ông đă được cấp Visa, phải trở về Mỹ ngay sau đó. Rồi đến chuyện một cựu trung úy TQLC trở về sau 33 năm, bị bắt v́ trong hành lư của ông có một cây súng và 13 viên đạn. Hai câu chuyện trên chỉ xảy chưa tới 10 ngày trước khi tôi đến Sàig̣n và nó đă ám ảnh tôi suốt hơn 18 giờ bay. Chuyến bay ngoại quốc hạ cánh, th́ cứ mỗi người về có từ 10 đến 15 người đến đón. Số thân nhân đến đông vô kể. Có nhiều người v́ xa nhà đă lâu, người nhà cẩn thận hơn c̣n ghi tên trên những tấm bảng, đưa cao khỏi đầu, để người trở về biết được thân nhân đến đón. Chính v́ vậy, nhà tôi nh́n tôi hoảng hốt: Chết rồi anh ơi! Sàig̣n đang có biểu t́nh, không biết họ chống ai đây. Ḿnh sẽ gặp rắc rối. Người bạn tôi phải trấn an nhà tôi: Không phải biểu t́nh đâu. Đó là đồng bào  đến đón thân nhân ở nước ngoài về.

Sàig̣n bây giờ không c̣n là Sàig̣n của 33 năm về trước. Những thay đổi làm tôi ngộp thở v́ khói xe gắn máy, v́ di chuyển vô trật tự trên đường phố, v́ xây cất nhà cửa “hằm bà lằng”, v́ bụi bặm từ vệ đường bay lên. Có c̣n chăng một chút sạch sẽ là khu vực Nhà thờ Đức Bà, đường Tự Do, Nguyễn Huệ, Lê Thánh Tôn, Lê Lợi, Thống Nhất v.v.. Khu vực ngoại ô Sàig̣n bây giờ lung tung nhà cửa. Chính quyền đă không có một kế hoạch để phát triển thành phố như các nước tiền tiến. Mạnh ai nấy xây, nhất là những kẻ có chức quyền, muốn xây nhà kiểu ǵ cũng được, chiếm đất, cất nhà, bán lại kiếm lời, bất chấp luật lệ... đă biến Sàig̣n thành một cái nồi “tạp pí lù” thịt chó nấu chung với thịt gà. Ngay trước nhà thờ Đức Bà bên góc trái đối diện với nhà thờ, một ṭa building khá cao được dựng lên ở đây, trước sự phản đối của dân chúng và của những con người có cặp mắt thẩm mỹ. Việc xây cất một building như vậy trên khu vực nầy sẽ làm mất hết vẻ đẹp quanh nhà thờ Đức Bà, che mất khung cảnh uy linh cổ kính của nó có từ hàng trăm năm qua. Nơi đây là trung tâm khách ngoại quốc đến viếng thăm Việt Nam. Họ sẽ đánh giá thấp về tŕnh độ của chính quyền khi làm mất đi một mỹ quan của Sàig̣n từng nỗi tiếng là “Ḥn ngọc Viễn Đông”. Một nét vô cùng độc đáo và cũng vô cùng mất thẩm mỹ tại Sàig̣n là chính quyền đă treo tràn ngập cờ đỏ sao vàng, cờ liềm búa của đảng CSVN, và nhất là những biểu ngữ to lớn màu đỏ chói, chữ vàng ca ngợi đảng. Có những lá cờ to lớn, rực rỡ trên những cao ốc, nhưng cũng không thiếu những lá quốc kỳ bèo nhèo, dơ bẩn, rách nát treo ṭn teng bên nồi bún rêu, thùng rác, hay tệ hai hơn, kế cận đến cả những nhà vệ sinh. Đúng ra, những lá cờ nầy chỉ nên kéo lên trong các công sở của chính quyền mà thôi. Một thành phố đang t́m cách thu hút khách ngoại quốc, việc làm “kém văn minh” đó biến thành một  hành động phản tuyên truyền. Tôi tin chắc rất nhiều du khách, kể cả những Việt kiều về nước đều cảm thấy lố bịch và “xót xa” cho lá cờ đỏ sao vàng. Treo quốc kỳ bừa băi như vậy chỉ làm  tổn thương thêm cho quốc gia. Có thể đây là một quốc gia độc nhất trên thế giới muốn du khách thấy việc làm “thiếu văn hóa” như thế nầy. Tôi được biết sáng kiến nầy được phát xuất từ những ông Việt cộng dép râu từ rừng rú trở về. Bây giờ họ đă già, chỉ c̣n là những thân thể đầy bịnh hoạn, nên cũng mang những sáng kiến rất bệnh hoạn. Người dân Sài g̣n chẳng ai thích cái lối tŕnh diễn tuyên truyền kịch cỡm đó.

Xe cộ lưu thông trên đường phố Sài g̣n có thể không một nơi nào trên vũ trụ có. Đèn xanh đỏ, lằn chỉ trắng phân chia lối đi, bảng chỉ đường v.v. có thể chỉ để trang trí, tạo cho Sàig̣n có một “tầm vóc” văn minh và tân tiến; nhưng thực ra, chẳng có ai tuân theo những cái văn minh đó. Nếu bạn ở nước ngoài về, bạn lái xe, bạn đi bộ, bạn tuân theo luật lệ lưu thông hiện hành th́ bạn chỉ có đứng một chỗ từ sáng cho đến chiều. Bạn đang tôn trọng luật lệ nhưng hàng đống người quanh bạn sẽ không làm như bạn. Người bạn đi chung với tôi nói đùa: “Nước Việt Nam quả đúng là xứ có tự do, ít ra là tự do chạy xe trên đường phố”. Người và xe chạy mườn mượt như thế, sắp đụng nhau tới nơi, thế mà họ nhường nhịn nhau. Cuối cùng rồi sự lưu thông vẫn tiếp tục, không có ǵ đáng tiếc xảy ra. Nếu bạn đứng ở trên một cao ốc, nh́n xuống một khu vực xe cộ đông đúc đang di chuyển, bạn sẽ có ư tưởng đó là một đàn kiến đang di chuyển. Sát cạnh nhau, ngược chiều nhau, chen chúc như muốn chồng chất lên nhau, thế mà đàn kiến đó không một con nào bị chết v́ bị đè bẹp.

Về Việt Nam vào dịp Tết quả là một sự sai lầm lớn, mặc dù vui th́ có vui thật. Tôi không hiểu nổi tại sao người dân quê tuôn về Sàig̣n để làm ăn, sinh sống. Không biết họ sẽ làm ǵ để sống. Người dân làm việc rất vất vă, cực nhọc, nhưng chỉ hưởng một đồng lương chết đót, trên dưới 2 USD một ngày. Thế nhưng ở hai bến xe Miền Đông và miền Tây, dân chúng quá đông đưa nhau về quê ăn Tết. Nơi đây tạo thành một biển người cùng với hàng trăm cách bán vé chợ đen, làm t́nh làm tội dân muốn t́m một tấm vé xe đ̣ về quê. Vật giá trong dịp Tết tự động tăng lên một cách bừa băi, không ai kiểm soát. Có một điều làm tôi thích thú sau 33 năm chưa thấy lại, là Mai. Mai khắp trong hang cùng ngơ hẻm, ở đâu cũng thấy mai. Mai nở rực rỡ. Người dân đă biết cách chăm sóc mai nên mai  nở rất đúng ngày mồng một Tết. Có những cây mai lên tới hàng ngàn mỹ kim, nhưng bạn cũng có thể t́m được những cây mai đẹp, nỡ đúng ngày, chỉ vài mỹ kim thôi. Nhưng coi chừng, bạn là người không rành về mai, bạn “vớ”ù phải những cây mai, rất đẹp, rất rẻ, không khác ǵ một cây mai, cũng là cây kiểng. Sự thực, những cây mai nầy được các tay chuyên nghiệp cắt vá, dán keo, sơn phết thật tinh vi... mà thực chất chỉ là một “cây mai chết”. Đem về nhà vài hôm, mai không nở thêm mà c̣n rơi rụng lẹ hơn. Một người bán mai cho biết, buôn bán mai ít sợ lỗ, trừ khi thời tiết quá lạnh hay ngập nước. V́ những cây mai không bán được năm nay, người ta mang về nhà tiếp tục nuôi dưỡng, năm sau lại bán cao giá hơn. Nghề nuôi mai cũng được thịnh hành tại Việt Nam. Người ta nuôi mai cho khách hàng. Đến gần tết, khách hàng cứ việc đến lấy mai về nhà chưng Tết. Xong Tết lại được đưa về chăm sóc . Khách chỉ cần trả tiền công nuôi mai mỗi năm một số tiền nhỏ thôi.

Một người tài xế taxi cho tôi biết: cái tṛ cảnh sát (đồng phục kaki vàng) chận xe gắn máy, xe taxi và ngay cả xe nhà (ngoại trừ xe bảng xanh chữ trắng, xe của cơ quan nhà nước) xảy ra trên khắp đường phố. Một sự thương lượng luôn luôn được dàn xếp ổn thỏa. Tùy tội trạng nặng nhẹ để giải quyết vấn đề. Điều mà người dân Sàig̣n sợ nhất là xe bị “câu” về giam. Nếu không có xe th́ đào đâu ra tiền đóng phạt, mất th́ giờ hầu hạ chờ chực nhiều ngày để chuộc lại xe , bỏ công ăn việc làm. Vậy hay nhất là làm theo đ̣i hỏi của các thầy cảnh sát, vừa mất ít tiền, vừa khỏi bị giam xe. Đây là một trong những kiểu hối lộ rất thịnh hành tại Việt Nam bây giờ. Sàig̣n có những biệt thự rộng lớn của đám “đại gia” lên tới hàng triệu Mỹkim, nhưng trước cổng vào lại là một mái nhà lụp sụp, một quán nhậu dơ bẫn của đám ăn nhậu, la hét, chửi thề suốt ngày đêm. Người Việt ở nước ng̣ai chắc chắn không thể sống trong t́nh trạng như vậy được, và trước sau ǵ quán nhậu đó cũng được “bứng” đi. Nhưng ở Việt Nam, chuyện đó là chuyện b́nh thường, đối với các đại gia, không cảm thấy phiền phức ǵ cả. Chuyện tham nhũng cũng vậy. Nó đă trở thành một tệ trạng từ trên xuống dưới, từ lớn tới nhỏ, và làm cho người dân không c̣n thấy khó chịu hay phiền toái. Họ xem đó là chuyện b́nh thường như ông đại gia xem cái quán nhậu trước cổng dinh thự nhà ông.

Nếu Sàig̣n không giải quyết được t́nh trạng lưu thông, chỉ khoảng vài năm nữa th́ xe và người chỉ có nước đứng một chỗ, không di chuyển được. Tôi được nghe nói Nhật sẽ giúp Việt Nam thiết lập một hệ thống xe điện ngầm (như ở New York hay ở Ư) để giải quyết t́nh trạng kẹt xe và ô nhiễm. Nhưng kế hoạch sẽ rất tốn kém và khó thực hiện, không biết Nhật có chịu nổi không. Hơn nữa, tiền bạc quốc gia đưa vào dự án th́ ít, chui vào túi các “quan chức” th́ nhiều. Đường sá quanh khu vực kế cận Sài g̣n đang được sửa chữa nên nạn kẹt xe càng thêm khủng khiếp. Anh tài xế Taxi nói rằng, khu vực sửa chữa bị cô lập năm nầy qua tháng khác nhưng chẳng thấy khi nào sửa xong. Thôi th́ cứ để vậy để bày tỏ chính quyền có ḷng muốn sửa chữa là đủ rồi. Đóng góp cho việc kẹt xe là những chiếc Honda gắn máy được biến chế. Nếu người Nhật đến Sài g̣n, thấy những xe loại nầy, họ phải hoảng hồn. Các nhà chế tạo ước tính mỗi xe chỉ chịu được sức nặng của hai người là nhiều. Nhưng ở Sàig̣n, nó được người dân chế biến để chở một núi hàng hóa lớn bằng một container.

Vệ sinh của những quán cóc lộ thiên, những gánh phở, bún ḅ, hủ tiếu dọc theo vệ đường, phải nói là một hiện tượng ghê gớm. Không biết đă có người dân nào chết v́ nó chưa. Tôi chứng kiến một bà gánh nồi hủ tiếu bán dọc bên lề đường Pasteur. Nồi hủ tiếu rất thơm ngon, màng mỡ đỏ tươi trong rất hấp dẫn. Nhưng khối xe gắn máy không chỉ chạy trên đường, mà c̣n chạy luôn lên lề đường. Khi đèn đỏ sáng lên, dĩ nhiên xe cộ lưu thông phải ngừng lại. Tôi nh́n thấy ba chiếc xe gắn máy dừng lại ngay trước nồi hủ tiếu của bà bán hàng kia. Bạn thử tưởng tượng, ba ống khói nầy đều phun khói vào ngay nồi hủ tiếu. Và cứ thế, suốt ngày không biết nồi hủ tiếu của bà sẽ nhận được bao nhiêu khói từ xe gắn máy thổi vào? Nhưng người ăn vẫn tấp nập, vẫn b́nh thản, họ xem hiện tượng đó là chuyện b́nh thường. Một chuyện cũng khá thú vị. Người Việt hải ngoại thường ăn đồ đông lạnh như thịt gà, thịt ḅ, cá, tôm .v..v. Lư do là rất khó khăn để t́m kiến được đồ tươi như ở Việt Nam. Việt kiều thấy đồ đông lạnh là muốn “ói ra máu”. Nhưng ngược lại, tại Việt Nam bây giờ có phong trào thích ăn đồ đông lạnh. Đây là một cái “mốt” của dân có tiền, đại gia và những cán bộ cao cấp trong chính quyền. Đám người “nửa ngợm nữa đười ươi” nầy cho rằng ăn đồ đông lạnh hợp vệ sinh và sang trọng như người... Mỹ. Đúng là dân “rừng rú trở về” muốn học làm sang.

Chính quyền đă cố gắng làm cho khuôn mặt Sàig̣n đúng nghĩa “Ḥn Ngọc Viễn Đông” của 33 năm về trước. Sàig̣n rực sáng về đêm, nhất là các đại lộ của đường Tự Do cũ, đường Công Lư, Nguyễn Huệ, Lê Lợi... Những khách sạn, cao ốc cũng chăng đèn kết hoa để đón mừng Xuân Mậu Tư. Chính quyền cũng rất chịu khó chi tiền để xây những vườn hoa (bằng gạch) ngay trên đại lộ Nguyễn Huệ kéo dài đến bờ sông Bạch Đằng. Dĩ nhiên, những bồn hoa nầy chỉ sử dụng trong vài ngàyTết; sau đó sẽ bị phá hủy. Thật tốn kém cho ngân quỹ quốc gia một cách vô ích. Có lẽ đây là chỗ Việt kiều thích đến nhất để chụp h́nh, quay phim. Những poster Mạnh Quỳnh, Phi Nhung, Tuấn Ngọc, Elvis Phương, Hương Lan, Hoài Linh v.v. rất lớn được treo lên trước những rạp hát để câu khách trong nước. Đây là những ca sĩ từ nước ngoài về tŕnh diễn. Tôi không dám có lời phán đoán về những ca sĩ nầy. Tôi không phải là một nhà chính trị. Nhưng với cái nh́n hẹp ḥi riêng tư của tôi, sự có mặt của họ tại quê nhà cũng không làm cho đất nước tệ hơn hay khá hơn. Người dân đến xem họ tŕnh diễn, ra về và để hết lại ưu tư ở trong rạp hát. Đa số là giới trẻ và sồn sồn. Chẳng mấy ai quan tâm đến lập trường chính trị chính em của các ca sĩ nầy. Khán giả đến để thấy ca sĩ nước ngoài ra sao, hát hay đến mức nào, ca sĩ th́ đến để hát kiếm tiền, nuôi cái hầu bao. Hai cái “tư tưởng và nhu cầu” lớn đó gặp nhau th́ bảo làm sao mà nói chuyện làm tốt hơn hay xấu hơn cho đất nước. Nếu có hàng chục ông Elvis Phương, hàng tá ông Phạm Duy có tuyên bố “trật duột”, không hài ḷng những người chống Cộng, cũng chẳng làm cho chế độ trồi trụt chút nào. Chúng ta ở hải ngoại đă quá quan trọng về những chuyện “ruồi bu” như vậy.

Sàig̣n có những “không khí” mà ở Mỹ không có. Nhiều biệt thư quanh vùng Dinh Độc Lập (cũ), đường Nguyễn Du, Công Lư, Lê Thánh Tôn, Pasteur. Trước năm 1975 thường là của các ông bà lớn cư ngụ. Ngày nay chúng biến thành những nhà hàng được trang trí rất đẹp ở trong cũng như ngoài, không thua kém ǵ những nhà hàng lộ thiên bên Pháp, bên Ư hay Đức. Nếu ngồi ngoài sân, dưới những tàn cây rợp bóng mát, uống cà phê hay beer lạnh Heineken, nh́n thiên hạ qua lại, cũng là một cái thú chúng ta khó t́m kiếm trên đất Mỹ. Xe hơi Sàig̣n không nhiều như người ta tưởng. Hầu hết là xe chở du khách, xe Taxi và xe của chính quyền. Những xe tư nhân không bao nhiêu. Có  nhiều xe Camry ráp tại Việt Nam chạy trên đường phố. Người ta nói chủ nhân của nó là những “đại gia”. Câu chuyện có những đại gia mua xe một hay hai triệu USD, đó không phải biểu tượng cho sự giàu sang của dân chúng Việt Nam. Sự đói rách và khốn khổ mới là biểu tượng cho gần 80 triệu người dân trong nước. Giới Taxi hay xe ôm, cũng có thể là những công an hay tai mắt của công an. Họ thường rất b́nh thản để trả lời những câu hỏi của chúng tôi, đôi khi lại c̣n đứng về phía của dân oan, của bất công. Nhưng không v́ thế mà nên a dua theo họ. Giới Taxi không có bảng hiệu và đồng hồ để dưới chân, dân Sàig̣n gọi là “Taxi mù”. Bạn có thể bị gạt dễ dàng. Một “cuốc” xe tính gấp đôi, gấp ba là chuyện thường xảy ra khi bạn đi phải loại “taxi phải gió” nầy.

Tôi không biết bao nhiêu Việt kiều về nước (ở Sàig̣n) sẽ ở trong nhà anh em hay bà con, và bao nhiêu người ở trong các khách sạn. Dĩ nhiên, những căn nhà như của các em tôi, tôi không thể ở được. Không phải ḿnh chê nhà chúng nó nghèo, nhà như ổ chuột, nhưng sự thực không đủ tiêu chuẩn cho ḿnh có một giấc ngủ thoải mái và b́nh yên. Nên khi tôi ở khách sạn, chúng nó rất vui vẻ. Chúng thông cảm một cách thành thực, không giận hờn, không trách móc. Tôi ở cả hai loại khách sạn. Một loại tư nhân làm chủ, một loại thuộc “quốc doanh”. Phải nói rằng đa số những khách sạn, chúng tôi được đón tiếp và phục vụ rất chu đáo. Nhưng người ta nói khách sạn thuộc loại quốc doanh, ngoài Bắc (Hà nội) th́ được đối xử “đốp chát” rất tệ. Điều nầy cũng dễ hiểu. Người miền Bắc sống dưới chế độ cộng sản hơn nữa thế kỷ, nên họ thiếu tất cả những ǵ của một nước tự do, văn minh có, kể cả cách ăn nói. Một ví dụ, khi lên phi trường Tân Sơn Nhất, chúng tôi vào uống nước trong một quán càfê, cô bán hàng là một người Bắc (nghe giọng cô biết ngay là gốc “bắn Mỹ cứu nước”). Anh bạn tôi xin cô thêm chút đường bỏ vào cafê, cô tặng ngay một câu: “Ôi giời ơi! ở nhà chú có khó tánh với vợ chú như thế không?”. Chúng tôi chỉ biết lắc đầu, cười. Điều nầy khác với dân miền Nam. Cho nên người trong Nam gọi dân miền Bắc vào Nam là dân Tây. Tôi không hiểu tại sao gọi họ là dân Tây. Người tài xế Taxi giải thích: v́ họ nói giọng miền Bắc của Việt cộng nên dân miền Nam chẳng hiểu ǵ cả.

Ở khách sạn quốc doanh, bạn không sử dụng Internet để gởi E-mail ra nước ngoại hay ngược lai. Ở những khách sạn tư nhân, bạn có thể làm được điều nầy mà không bị phiền toái. Tôi thử mở vài web. ở nước ngoài. Hầu hết đều bị”block”. Chỉ có hai web. Take2tangoMotgoctroi th́ đọc được. Tôi hỏi người Manager của khách sạn lư do, anh ta cho biết (theo ư riêng của anh): Take2tango viết loạn xà ngầu, đấm đá nhau lung tung, đôi khi “chửi” Việt công te tua, lại sử dụng những từ ngữ  rất “càrem” (loại từ ngữ trong nước coi là viết hạ cấp và bẩn). Họ muốn cho đồng bào trong nước đọc để tuyên truyền rằng tŕnh độ và tư cách người Việt tại hải ngoại là như thế đó. Riêng web. Motgoctroi, theo anh ta, những bài viết hay và cũng chống chế độ; nhưng viết đàng hoàng, không có những mục viết bẩn. Tôi rất vui khi biết những bài viết của tôi trên Motgoctroi đă có người ở trong nước đọc. Viết tới đây, tôi sực nhớ lại cách viết lách của một số người trên báo Việt ngữ tại Mỹ. Họ “chửi” nhau trên báo chí, trên Internet, họ dùng những từ ngữ mà người trong nước gọi là “văn hóa càrem”. Họ đă làm xấu hổ tập thể người Việt hải ngoại, để cho người trong nước, kể cả chính quyền xem tŕnh độ của chúng ta như loại “văn hóa càrem”.

Sáng chủ nhật, tôi với người bạn thử đi vào Dinh Độc Lập xem có cái ǵ trong đó. Chúng tôi rất ái ngại khi nh́n quanh không thấy người Việt nào cả, mà toàn là người ngoại quốc. Nhưng chúng tôi cảm thấy không có ǵ đáng phải e sợ. Trước năm 1975, với những thằng như chúng tôi th́ làm sao vào được Dinh Độc Lập, bây giờ vào xem cái Dinh Độc Lập của TT Diệm, TT Thiệu làm việc nó ra làm sao. Cái tâm trạng vừa ṭ ṃ, vừa thử xem các ông Việt cộng xổ nghề “tuyên truyền” tới mức nào.

Mới bước vào dinh, một thiếu nữ bận áo dài màu xanh da trời đến tiếp chúng tôi. Cô hỏi có phải chúng tôi ở nước ngoài về? Và cô mời chúng tôi ngồi đợi ở pḥng tiếp khách. Một số người ngoại quốc (người Úc) cũng đang đợi chung với chúng tôi. Khoảng mười phút sau, cô gái bước ra, mời chúng tôi theo cô để cô bắt đầu thuyết tŕnh về DĐL. Tôi nói với cô: V́ chúng tôi chỉ có hai người, vậy cô để chúng tôi đi chung với nhóm người Úc cũng được. Nhưng cô cho biết  cứ 10 phút, dù phái đoàn chỉ có một người, cô cũng phải hướng dẫn và thuyết tŕnh như một phái đoàn. Cuối cùng chúng tôi đành đi theo cô. Cuộc thăm viếng diễn ra khoảng hơn một tiếng đồng hồ. Phần cuối cùng là căn hầm được nằm sâu cách mặt đất hơn ba thước với một lớp thép rất dày (chúng tôi không nhớ là bao nhiêu cm). Đây là nơi vị lănh đạo quốc gia cùng bộ tham mưu xuống làm việc, điều binh động tướng trên khắp bốn vùng chiến thuật trong trường hợp dinh bị tấn công. Tất cả những bản đồ hành quân với chi chít đơn vị quân bạn, quân địch, những máy móc truyền tin, hệ thống liên lạc các cơ sở truyền thanh, những điện thoại (hotline) của tổng thống, những bàn ghế làm việc đều c̣n để nguyên như cũ. Có một điều làm chúng tôi ngạc nhiên là cô hướng dẫn viên không ca ngợi những chiến công của quân phương Bắc hay tuyên truyền như tôi nghĩ. Cô chỉ nói về lịch sử của dinh Độc Lập từ thời Pháp đến ngày 30 tháng Tư . Cô giải thích những nơi hội họp của nội các, chỗ tŕnh Ủy nhiệm thư của các Đại sứ, văn pḥng làm việc của tổng thống, pḥng khánh tiết, pḥng ngủ,  pḥng ăn, nơi cầu nguyện của gia đ́nh TT ..v.v..Cô vẫn sử dụng cách xưng hô tổng thống Diệm, tổng thống Thiệu, các tướng lănh miền Nam v.v.. chứ không dùng trổng tên Diệm hay Thiệu, hay ông Diệm, ông Thiệu, tướng lănh ngụy... Có lẽ những người viết báo tại hải ngoại nên bắt chước điều nầy. Khi nói tới những người lănh đạo, những giới chức cao cấp, dù bên nầy hay bên kia, dù họ làm tốt hay xấu, chúng ta cũng nên xưng hô như cô hướng dẫn viên nói trên. Chúng ta, v́ quá hận thù hay tức bực về cá nhân người đó, đôi khi viết là tên Thiệu, tên Diệm, thằng Hồ Chí Minh, thằng Vơ Nguyên Giáp v.v. là điều không nên, chỉ làm cho người có tŕnh độ gọi là kiểu viết “văn hóa càrem”. Nếu không muốn xưng hô là Tổng thống, Chủ tịch, Đại tướng, Bộ trưởng... th́ ít ra cũng nên dùng từ “ông”, sẽ làm cho bài viết có giá trị hơn. Chuyến thăm viếng DĐL được kết thúc sau hơn một tiếng đồng hồ. C̣n một số h́nh ảnh và chiếu phim, nhưng chúng tôi không đủ th́ giờ nên phải ra về sớm. Để đáp lại công việc nói liên tu bất tận, hết nước giải; nhất là biểu lộ cho cô biết người Việt kiều chúng tôi rất lịch sự, không phải chơi “bài ba lá” như quí vị “dép râu”, chúng tôi không quên “ĺ x́” cho cô 100,000 đồng để ăn Tết Mậu Tư. Những người bạn trẻ đang ngồi làm việc ngay ở pḥng tiếp khách, họ nh́n chúng tôi với đôi mắt nhiều thiện cảm.

Tôi có ghé qua Trường Bộ Binh Thủ Đức, nơi đây, 41 năm về trước, đă đào tạo tôi trở thành một chiến binh để đáp ứng nhu cầu chiến tranh đang cần tuổi trẻ. Con đường vào quân trường ngày xưa rộng thênh thang, nay biến thành một con hẻm không hơn kém. Tôi không nh́n ra quân trường nhưng mang máng dư âm ngày nào... khu tiếp tân, pḥng giam 301, ngôi thánh đường, cổng số 1, cổng số 9, đồi Tăng Nhơn Phú, băi tập gần lầu ông Bảo Đại nằm cạnh ḍng sông Đồng Nai, ngày dạ hành trước khi ra trường... Tất cả chỉ c̣n trong dĩ văng. Xa lộ Biên Ḥa, nơi không mấy xa lạ với các SVSQ Thủ Đức. Những chiếc xe nhà binh chở chúng tôi đi về Sàig̣n nghĩ phép chiều cuối tuần trên xa lộ nầy. Hai bên là những cánh đồng hun hút, gió mát, thơm mùi lúa chín. Những đôi trai gái hẹn ḥ chuyện tṛ dọc theo xa lộ, trên thảm cỏ xanh tươi. Bây giờ không c̣n nữa. Nó đă biến mất để thay thế bằng nhà cửa san sát, bùi bặm mù trời, xe kẹt lung tung.

Đi trên đoạn đường nầy mà không nhắc đến Nghĩa Trang Quân Đội Biên Ḥa là một thiếu sót của người trở về. Tôi đă cố t́m Nghĩa Trang đang nằm ở đâu, nhưng không t́m thấy. Quanh nghĩa trang đă bị những công tŕnh xây cất che kín. Người lính buồn trên xa lộ cũng không c̣n nữa. Tôi vô cùng thất vọng về cách đối xử của chính quyền CSVN với những người đă khuất. Trong lúc đó, những cái gọi là Nghĩa Trang Liệt Sĩ của lính miền Bắc th́ đi đâu cũng có, đầy dẫy suốt trên đoạn đường tôi ra Trung. Đây phải nói là một sự trả thù hèn hạ, không c̣n t́nh người. Đây không phải là phong cách của những con người có tŕnh độ hiểu biết tối thiểu.

T́nh cờ trong một bữa cơm, tôi được ngồi chung với một anh công an bị thất sũng. Anh gốc người Thanh Hóa. Anh là một trong những cây viết của báo Tuổi Trẻ. Anh cũng từng giữ chức vụ Tổng biên tập. Chỉ v́ anh lấy vợ người Công giáo nên anh bị đá văng ra khỏi đảng, nhưng vẫn tiếp tục viết cho báo Tuổi Trẻ. Khi anh cho biết anh đang viết báo, tôi cũng không ngần ngại nói với anh tôi cũng đang làm báo, viết báo tại hải ngoại. Đúng ra lúc chuyện tṛ, tôi phải giữ ư hơn anh, v́ tôi là người nước ngoài về; nhưng ngược lại, anh rất cẩn thận khi chúng tôi nói về vấn đề báo chí. Anh cho tôi biết bất cứ một đảng viên nào lớn hay nhỏ, trước khi vào đảng phải là người không Công giáo. Vào đảng rồi mà lấy vợ như anh, hay có ư định theo đạo Công giáo, lập tức bị mất chức, đuổi ra khỏi đảng. Muốn trở thành một đảng viên CS, điều kiện tiên quyết là không được khai ḿnh là Công giáo. V́ anh là một nhà báo nên trong câu chuyện, tôi thấy anh biết rất nhiều chuyện “ông to bà lớn, ăn lớn ăn nhỏ, tranh giành ảnh hưởng, đảng viên “chơi” nhau...”. Một trong những nhân vật anh đề cập tới là Nguyễn Bá Thanh, người được xem là tài ba, có công trạng lớn của thành phố Đànẵng. Người được dân chúng Đà Nẵng xem như một nhân tài ; thế mà ông nhà báo Tuổi Trẻ lại chê đáo để. Rồi khi nhân tài nầy định “lết” vào nhóm đầu năo của Trung ương đảng, cũng bị ném ra ngay.

Hiện nay có một số “Việt kiều” đang muốn trở về quê hương, mua nhà và để vui sống tuổi già trong những ngày sau cuối của cuộc đời. Nhưng riêng với những đứa em tôi, chúng luôn nói với tôi: Về Việt Nam chơi th́ vui lắm, nhưng nói chuyện vui hưởng tuổi già th́ không vui đâu. Khi sống tại đây lâu sẽ thấy rất nhiều phiền toái mà ḿnh không thể biết trước. Chính quyền luôn luôn có những luật lệ thay đổi rất bất tử lẫn bất công,  cho nên khó ai biết trước những ǵ sẽ xảy ra trong tương lai. Cỡ như Viện Hóa Đạo mà họ c̣n lấy đem bán cho Tân Gia Ba, vậy th́ mấy cái nhà Việt kiều làm chủ có nhằm nḥ ǵ đâu. Đối với các em tôi, chúng nh́n không mấy sáng sủa trong lănh vực tôn giáo. Bề ngoài th́ thấy vậy đó, nhưng bên trong không phải vậy đâu.

Đất nước chúng ta là một quê hương quá đẹp. Nó có tất cả những ǵ trên địa cầu có. Sông, hồ, biển núi, phong cảnh hữu t́nh, chim muông dă thú rực rỡ sắc màu, những món ăn ngon vật lạ, những hoa trái xanh tươi chưa chắc ǵ nước khác đă có. V́ chiến chinh nên tuổi trẻ chúng tôi chưa bao giờ được đến những vùng đất trời xinh đẹp đó. Chuyến đi nầy, tôi quyết định dùng đường bộ để được thấy những nơi mà tôi chưa bao giờ bước chân tới. Một nửa đoạn đường quê hương tôi đă đi qua. Tôi sẽ kể  kể cho bạn nghe về cuộc hành tŕnh của tôi, vượt qua sông Bến Hải để đến Tam Ṭa thuộc tỉnh Quảng B́nh. Lần đầu tiên sau 53 năm, tôi đă ngâm đôi chân trần trong ḍng nước mát lạnh của sông Nhật Lệ đang chảy êm đềm bên ngôi thánh đường Tam Ṭa nay trở thành hoang phế. Rặng phi lao chạy dọc theo bờ sông đến cuối sông, là nơi tiếp giáp với Thái B́nh Dương sóng trắng xóa đang gầm thét thác lũ...

 Một buổi chiều thật tuyệt vời trên quê tôi./.