|
Viết Về Một Chuyến Đi Nguyễn Phi Thọ
30
tháng 4 năm 1975, người Việt tị nạn Cộng sản đă 33 năm xa xứ, làm thân
lưu vong. Không có một thống kê
nào chính xác để
biết đă bao nhiêu người Việt di cư trở về quê hương. Người ta chỉ nghe
nói là mỗi dịp Tết, có hàng trăm ngàn người về ăn Tết tại Việt
Tôi khâm phục những con người đă giữ vững lập trường như vậy. Có những người đă thực sự nhắm mắt, gởi thân xác nầy lại nơi đất khách quê người, và chưa bao giờ thấy lại quê hương. C̣n những người khác, không ai biết họ có giữ được lời thề đó hay không. Nào ai biết. Đối với tôi, thời gian 33 năm hầu như đă quá dài để chờ đợi một ngày trở về, dù sự trở về nầy được đánh giá là tốt hay xấu, vui hay buồn, thắng hay thua. Tôi đă cố gắng tách rời t́nh yêu quê hương với thể chế chính trị. Nếu không làm được điều đó th́ chắc chắn chúng ta sẽ luôn luôn sống trong t́nh trạng rối ren tâm hồn. Và khi con người không có sự b́nh an trong tâm hồn th́ làm sao vui sống được. Có phải vậy không bạn?
Định nghĩa làm
sao là “tách rời t́nh yêu quê hương với thể chế chính trị?” Theo tôi,
cũng giống như chúng ta không nên đưa tôn giáo vào chính trị. Tôn giáo
là một cái ǵ cao đẹp, vươn tới chân thiện mỹ; nhưng chính trị chẳng bao
giờ có được như thế. Mặc dù những nhà làm chính trị luôn luôn đưa ra
những điều hay, tốt, đẹp cho quê hương dân tộc; nhưng trong thực tế, khi
nhúng tay vào chính trị để phục vụ đồng bào, không làm sao tránh khỏi
những lươn lẹo, mập mờ, gian dối, đổi trắng thay đen..v.v. Cũng như thế,
chúng ta nên nh́n chuyện trở về quê hương là một hành động biểu lộ sự
thiết tha gần gũi với luống rau, ngọn cỏ, củ sắn, vười khoai, với sông
hồ núi biển và với những t́nh tự của dân tộc. Đó là những cái ǵ không
thể tách rời khỏi con người c̣n yêu mến quê hương. Thể chế chỉ là một
h́nh thức ổn định cho những sinh hoạt của người dân trong xă hội mà
thôi. Thể chế có thể tàn bạo hay nhân từ, đổi thay nhanh chóng hay tồn
tại lâu dài, nhưng chắc chắn thể chế không phải là quê hương. Những nhà
lănh đạo rồi cũng sẽ chết đi để người khác thay thế. Ḍng thác lũ sẽ làm
quê hương thăng trầm tùy mỗi giai đoạn của lịch sử, mỗ">
Tôi đă nhiều đêm
trăn trở trong suN
89;t quảng thời gian gần 33 năm ĺa xa đất mẹ. Tôi c̣n
hai đứa em đang sống vất vả “chạy cơm từng bữa toát mồ hôi” ở quê nhà.
Tôi có người cha ra đi năm 1985, người mẹ âm thầm theo chồng năm 2000
nhưng không gặp được mặt con. Tôi thầm nghĩ, nếu một người trở về thăm
quê hương hay nhất định không về th́ chính thể sẽ được đổi thay bao
nhiêu. Theo tôi có lẽ không đổi thay chút nào cả. Nhưng nếu hàng trăm
ngàn người đồng ḷng về hoặc không về th́ chính thể có đổi thay không?
Chắc chắn là có. Chỉ nói một con tính nhỏ về tiền bạc: hàng trăm ngàn
người về sẽ mang lại hàng trăm triệu đến hàng tỷ dollars cho chính
quyền; và nếu hàng trăm ngàn người không về th́ chính quyền sẽ mất đi
cũng hàng trăm triệu, tỷ dollars. Nhưng như bạn đă thấy, trong cộng đồng
chúng ta, trong các hội đoàn, tổ chức nhất là những nơi có đông người
Việt như
Quan niệm của tôi
về việc chống Cộng không phải được thẩm định chuyện về Việt Nam hay
không, nhưng phải bằng tấm ḷng của ḿnh c̣n là người Việt Nam hay chấp
nhận nơi nầy là quê hương. Và ḿnh có thực ḷng muốn cho đất nước được
ấm no hạnh phúc hay chỉ hạnh phúc ấm no cho đảng,
phe nhóm hay riêng ḿnh. Ở đây có là quê hương thứ hai, thứ ba, hay thứ
một trăm, cũng chỉ là quê người chứ không phải là quê hương như một số
người thường nói đến. Có một số người thường dấu chuyện ḿnh về Việt
Có lẽ tôi quá dài
ḍng chăng? Không đâu! Tôi chỉ muốn chia sẻ với bạn đọc về một chuyến
đi, lại là chuyến đi về thăm quê hương. Những chia sẻ như vậy ở hải
ngọai thường rất dễ bị “chụp mũ” là cổ xúy cho việc trở về Việt Tôi đến phi trường Tân Sơn Nhất vào khoảng xế trưa. Thủ tục nhập cảng không gặp một trở ngại nào. Nhưng thực ḷng mà nói, lần đầu tiên đứng đối diện với người nhân viên trong bộ đồng phục màu xanh lá cây đậm với cầu vai màu đỏ (h́nh như là công an) để anh ta đóng dấu trên Passport, làm tôi muốn đứng tim. Câu chuyện một mục sư bị chận lại ở phi trường Tân Sơn Nhứt, mặc dù ông đă được cấp Visa, phải trở về Mỹ ngay sau đó. Rồi đến chuyện một cựu trung úy TQLC trở về sau 33 năm, bị bắt v́ trong hành lư của ông có một cây súng và 13 viên đạn. Hai câu chuyện trên chỉ xảy chưa tới 10 ngày trước khi tôi đến Sàig̣n và nó đă ám ảnh tôi suốt hơn 18 giờ bay. Chuyến bay ngoại quốc hạ cánh, th́ cứ mỗi người về có từ 10 đến 15 người đến đón. Số thân nhân đến đông vô kể. Có nhiều người v́ xa nhà đă lâu, người nhà cẩn thận hơn c̣n ghi tên trên những tấm bảng, đưa cao khỏi đầu, để người trở về biết được thân nhân đến đón. Chính v́ vậy, nhà tôi nh́n tôi hoảng hốt: Chết rồi anh ơi! Sàig̣n đang có biểu t́nh, không biết họ chống ai đây. Ḿnh sẽ gặp rắc rối. Người bạn tôi phải trấn an nhà tôi: Không phải biểu t́nh đâu. Đó là đồng bào đến đón thân nhân ở nước ngoài về.
Sàig̣n bây giờ
không c̣n là Sàig̣n của 33 năm về trước. Những thay đổi làm tôi ngộp thở
v́ khói xe gắn máy, v́ di chuyển vô trật tự trên đường phố, v́ xây cất
nhà cửa “hằm bà lằng”, v́ bụi bặm từ vệ đường bay lên. Có c̣n chăng một
chút sạch sẽ là khu vực Nhà thờ Đức Bà, đường Tự Do, Nguyễn Huệ, Lê
Thánh Tôn, Lê Lợi, Thống Nhất v.v.. Khu vực ngoại ô Sàig̣n bây giờ lung
tung nhà cửa. Chính quyền đă không có một kế hoạch để phát triển thành
phố như các nước tiền tiến. Mạnh ai nấy xây, nhất là những kẻ có chức
quyền, muốn xây nhà kiểu ǵ cũng được, chiếm đất, cất nhà, bán lại kiếm
lời, bất chấp luật lệ... đă biến Sàig̣n thành một cái nồi “tạp pí lù”
thịt chó nấu chung với thịt gà. Ngay trước nhà thờ Đức Bà bên góc trái
đối diện với nhà thờ, một ṭa building khá cao được dựng lên ở đây,
trước sự phản đối của dân chúng và của những con người có cặp mắt thẩm
mỹ. Việc xây cất một building như vậy trên khu vực nầy sẽ làm mất hết vẻ
đẹp quanh nhà thờ Đức Bà, che mất khung cảnh uy linh cổ kính của nó có
từ hàng trăm năm qua. Nơi đây là trung tâm khách ngoại quốc đến viếng
thăm Việt
Xe cộ lưu thông
trên đường phố Sài g̣n có thể không một nơi nào trên vũ trụ có. Đèn xanh
đỏ, lằn chỉ trắng phân chia lối đi, bảng chỉ đường v.v. có thể chỉ để
trang trí, tạo cho Sàig̣n có một “tầm vóc” văn minh và tân tiến; nhưng
thực ra, chẳng có ai tuân theo những cái văn minh đó. Nếu bạn ở nước
ngoài về, bạn lái xe, bạn đi bộ, bạn tuân theo luật lệ lưu thông hiện
hành th́ bạn chỉ có đứng một chỗ từ sáng cho đến chiều. Bạn đang tôn
trọng luật lệ nhưng hàng đống người quanh bạn sẽ không làm như bạn.
Người bạn đi chung với tôi nói đùa: “Nước Việt
Về Việt
Một người tài xế
taxi cho tôi biết: cái tṛ cảnh sát (đồng phục kaki vàng) chận xe gắn
máy, xe taxi và ngay cả xe nhà (ngoại trừ xe bảng xanh chữ trắng, xe của
cơ quan nhà nước) xảy ra trên khắp đường phố. Một sự thương lượng luôn
luôn được dàn xếp ổn thỏa. Tùy tội trạng nặng nhẹ để giải quyết vấn đề.
Điều mà người dân Sàig̣n sợ nhất là xe bị “câu” về giam. Nếu không có xe
th́ đào đâu ra tiền đóng phạt, mất th́ giờ hầu hạ chờ chực nhiều ngày để
chuộc lại xe , bỏ công ăn việc làm. Vậy hay nhất là làm theo đ̣i hỏi của
các thầy cảnh sát, vừa mất ít tiền, vừa khỏi bị giam xe. Đây là một
trong những kiểu hối lộ rất thịnh hành tại Việt
Nếu Sàig̣n không
giải quyết được t́nh trạng lưu thông, chỉ khoảng vài năm nữa th́ xe và
người chỉ có nước đứng một chỗ, không di chuyển được. Tôi được nghe nói
Nhật sẽ giúp Việt
Vệ sinh của những
quán cóc lộ thiên, những gánh phở, bún ḅ, hủ tiếu dọc theo vệ đường,
phải nói là một hiện tượng ghê gớm. Không biết đă có người dân nào chết
v́ nó chưa. Tôi chứng kiến một bà gánh nồi hủ tiếu bán dọc bên lề đường
Pasteur. Nồi hủ tiếu rất thơm ngon, màng mỡ đỏ tươi trong rất hấp dẫn.
Nhưng khối xe gắn máy không chỉ chạy trên đường, mà c̣n chạy luôn lên lề
đường. Khi đèn đỏ sáng lên, dĩ nhiên xe cộ lưu thông phải ngừng lại. Tôi
nh́n thấy ba chiếc xe gắn máy dừng lại ngay trước nồi hủ tiếu của bà bán
hàng kia. Bạn thử tưởng tượng, ba ống khói nầy đều phun khói vào ngay
nồi hủ tiếu. Và cứ thế, suốt ngày không biết nồi hủ tiếu của bà sẽ nhận
được bao nhiêu khói từ xe gắn máy thổi vào? Nhưng người ăn vẫn tấp nập,
vẫn b́nh thản, họ xem hiện tượng đó là chuyện b́nh thường. Một chuyện
cũng khá thú vị. Người Việt hải ngoại thường ăn đồ đông lạnh như thịt
gà, thịt ḅ, cá, tôm .v..v. Lư do là rất khó khăn để t́m kiến được đồ
tươi như ở Việt Chính quyền đă cố gắng làm cho khuôn mặt Sàig̣n đúng nghĩa “Ḥn Ngọc Viễn Đông” của 33 năm về trước. Sàig̣n rực sáng về đêm, nhất là các đại lộ của đường Tự Do cũ, đường Công Lư, Nguyễn Huệ, Lê Lợi... Những khách sạn, cao ốc cũng chăng đèn kết hoa để đón mừng Xuân Mậu Tư. Chính quyền cũng rất chịu khó chi tiền để xây những vườn hoa (bằng gạch) ngay trên đại lộ Nguyễn Huệ kéo dài đến bờ sông Bạch Đằng. Dĩ nhiên, những bồn hoa nầy chỉ sử dụng trong vài ngàyTết; sau đó sẽ bị phá hủy. Thật tốn kém cho ngân quỹ quốc gia một cách vô ích. Có lẽ đây là chỗ Việt kiều thích đến nhất để chụp h́nh, quay phim. Những poster Mạnh Quỳnh, Phi Nhung, Tuấn Ngọc, Elvis Phương, Hương Lan, Hoài Linh v.v. rất lớn được treo lên trước những rạp hát để câu khách trong nước. Đây là những ca sĩ từ nước ngoài về tŕnh diễn. Tôi không dám có lời phán đoán về những ca sĩ nầy. Tôi không phải là một nhà chính trị. Nhưng với cái nh́n hẹp ḥi riêng tư của tôi, sự có mặt của họ tại quê nhà cũng không làm cho đất nước tệ hơn hay khá hơn. Người dân đến xem họ tŕnh diễn, ra về và để hết lại ưu tư ở trong rạp hát. Đa số là giới trẻ và sồn sồn. Chẳng mấy ai quan tâm đến lập trường chính trị chính em của các ca sĩ nầy. Khán giả đến để thấy ca sĩ nước ngoài ra sao, hát hay đến mức nào, ca sĩ th́ đến để hát kiếm tiền, nuôi cái hầu bao. Hai cái “tư tưởng và nhu cầu” lớn đó gặp nhau th́ bảo làm sao mà nói chuyện làm tốt hơn hay xấu hơn cho đất nước. Nếu có hàng chục ông Elvis Phương, hàng tá ông Phạm Duy có tuyên bố “trật duột”, không hài ḷng những người chống Cộng, cũng chẳng làm cho chế độ trồi trụt chút nào. Chúng ta ở hải ngoại đă quá quan trọng về những chuyện “ruồi bu” như vậy.
Sàig̣n
có những “không khí” mà ở Mỹ không có. Nhiều biệt thư quanh vùng Dinh
Độc Lập (cũ), đường Nguyễn Du, Công Lư, Lê Thánh Tôn, Pasteur. Trước năm
1975 thường là của các ông bà lớn cư ngụ. Ngày nay chúng biến thành
những nhà hàng được trang trí rất đẹp ở trong cũng như ngoài, không thua
kém ǵ những nhà hàng lộ thiên bên Pháp, bên Ư hay Đức. Nếu ngồi ngoài
sân, dưới những tàn cây rợp bóng mát, uống cà phê hay beer lạnh
Heineken, nh́n thiên hạ qua lại, cũng là một cái thú chúng ta khó t́m
kiếm trên đất Mỹ. Xe hơi Sàig̣n không nhiều như người ta tưởng. Hầu hết
là xe chở du khách, xe Taxi và xe của chính quyền. Những xe tư nhân
không bao nhiêu. Có nhiều xe Camry ráp tại Việt
Tôi không biết
bao nhiêu Việt kiều về nước (ở Sàig̣n) sẽ ở trong nhà anh em hay bà con,
và bao nhiêu người ở trong các khách sạn. Dĩ nhiên, những căn nhà như
của các em tôi, tôi không thể ở được. Không phải ḿnh chê nhà chúng nó
nghèo, nhà như ổ chuột, nhưng sự thực không đủ tiêu chuẩn cho ḿnh có
một giấc ngủ thoải mái và b́nh yên. Nên khi tôi ở khách sạn, chúng nó
rất vui vẻ. Chúng thông cảm một cách thành thực, không giận hờn, không
trách móc. Tôi ở cả hai loại khách sạn. Một loại tư nhân làm chủ, một
loại thuộc “quốc doanh”. Phải nói rằng đa số những khách sạn, chúng tôi
được đón tiếp và phục vụ rất chu đáo. Nhưng người ta nói khách sạn thuộc
loại quốc doanh, ngoài Bắc (Hà nội) th́ được đối xử “đốp chát” rất tệ.
Điều nầy cũng dễ hiểu. Người miền Bắc sống dưới chế độ cộng sản hơn nữa
thế kỷ, nên họ thiếu tất cả những ǵ của một nước tự do, văn minh có, kể
cả cách ăn nói. Một ví dụ, khi lên phi trường Tân Sơn Nhất, chúng tôi
vào uống nước trong một quán càfê, cô bán hàng là một người Bắc (nghe
giọng cô biết ngay là gốc “bắn Mỹ cứu nước”). Anh bạn tôi xin cô thêm
chút đường bỏ vào cafê, cô tặng ngay một câu: “Ôi giời ơi! ở nhà chú có
khó tánh với vợ chú như thế không?”. Chúng tôi chỉ biết lắc đầu, cười.
Điều nầy khác với dân miền Ở khách sạn quốc doanh, bạn không sử dụng Internet để gởi E-mail ra nước ngoại hay ngược lai. Ở những khách sạn tư nhân, bạn có thể làm được điều nầy mà không bị phiền toái. Tôi thử mở vài web. ở nước ngoài. Hầu hết đều bị”block”. Chỉ có hai web. Take2tango và Motgoctroi th́ đọc được. Tôi hỏi người Manager của khách sạn lư do, anh ta cho biết (theo ư riêng của anh): Take2tango viết loạn xà ngầu, đấm đá nhau lung tung, đôi khi “chửi” Việt công te tua, lại sử dụng những từ ngữ rất “càrem” (loại từ ngữ trong nước coi là viết hạ cấp và bẩn). Họ muốn cho đồng bào trong nước đọc để tuyên truyền rằng tŕnh độ và tư cách người Việt tại hải ngoại là như thế đó. Riêng web. Motgoctroi, theo anh ta, những bài viết hay và cũng chống chế độ; nhưng viết đàng hoàng, không có những mục viết bẩn. Tôi rất vui khi biết những bài viết của tôi trên Motgoctroi đă có người ở trong nước đọc. Viết tới đây, tôi sực nhớ lại cách viết lách của một số người trên báo Việt ngữ tại Mỹ. Họ “chửi” nhau trên báo chí, trên Internet, họ dùng những từ ngữ mà người trong nước gọi là “văn hóa càrem”. Họ đă làm xấu hổ tập thể người Việt hải ngoại, để cho người trong nước, kể cả chính quyền xem tŕnh độ của chúng ta như loại “văn hóa càrem”. Sáng chủ nhật, tôi với người bạn thử đi vào Dinh Độc Lập xem có cái ǵ trong đó. Chúng tôi rất ái ngại khi nh́n quanh không thấy người Việt nào cả, mà toàn là người ngoại quốc. Nhưng chúng tôi cảm thấy không có ǵ đáng phải e sợ. Trước năm 1975, với những thằng như chúng tôi th́ làm sao vào được Dinh Độc Lập, bây giờ vào xem cái Dinh Độc Lập của TT Diệm, TT Thiệu làm việc nó ra làm sao. Cái tâm trạng vừa ṭ ṃ, vừa thử xem các ông Việt cộng xổ nghề “tuyên truyền” tới mức nào.
Mới bước vào
dinh, một thiếu nữ bận áo dài màu xanh da trời đến tiếp chúng tôi. Cô
hỏi có phải chúng tôi ở nước ngoài về? Và cô mời chúng tôi ngồi đợi ở
pḥng tiếp khách. Một số người ngoại quốc (người Úc) cũng đang đợi chung
với chúng tôi. Khoảng mười phút sau, cô gái bước ra, mời chúng tôi theo
cô để cô bắt đầu thuyết tŕnh về DĐL. Tôi nói với cô: V́ chúng tôi chỉ
có hai người, vậy cô để chúng tôi đi chung với nhóm người Úc cũng được.
Nhưng cô cho biết cứ 10 phút, dù phái đoàn chỉ có
một người, cô cũng phải hướng dẫn và thuyết tŕnh như một phái đoàn.
Cuối cùng chúng tôi đành đi theo cô. Cuộc thăm viếng diễn ra khoảng hơn
một tiếng đồng hồ. Phần cuối cùng là căn hầm được nằm sâu cách mặt đất
hơn ba thước với một lớp thép rất dày (chúng tôi không nhớ là bao nhiêu
cm). Đây là nơi vị lănh đạo quốc gia cùng bộ tham mưu xuống làm việc,
điều binh động tướng trên khắp bốn vùng chiến thuật trong trường hợp
dinh bị tấn công. Tất cả những bản đồ hành quân với chi chít đơn vị quân
bạn, quân địch, những máy móc truyền tin, hệ thống liên lạc các cơ sở
truyền thanh, những điện thoại (hotline) của tổng thống, những bàn ghế
làm việc đều c̣n để nguyên như cũ. Có một điều làm chúng tôi ngạc nhiên
là cô hướng dẫn viên không ca ngợi những chiến công của quân phương Bắc
hay tuyên truyền như tôi nghĩ. Cô chỉ nói về lịch sử của dinh Độc Lập từ
thời Pháp đến ngày 30 tháng Tư . Cô giải thích những nơi hội họp của nội
các, chỗ tŕnh Ủy nhiệm thư của các Đại sứ, văn pḥng làm việc của tổng
thống, pḥng khánh tiết, pḥng ngủ, pḥng ăn, nơi
cầu nguyện của gia đ́nh TT ..v.v..Cô vẫn sử dụng cách xưng hô tổng thống
Diệm, tổng thống Thiệu, các tướng lănh miền Tôi có ghé qua Trường Bộ Binh Thủ Đức, nơi đây, 41 năm về trước, đă đào tạo tôi trở thành một chiến binh để đáp ứng nhu cầu chiến tranh đang cần tuổi trẻ. Con đường vào quân trường ngày xưa rộng thênh thang, nay biến thành một con hẻm không hơn kém. Tôi không nh́n ra quân trường nhưng mang máng dư âm ngày nào... khu tiếp tân, pḥng giam 301, ngôi thánh đường, cổng số 1, cổng số 9, đồi Tăng Nhơn Phú, băi tập gần lầu ông Bảo Đại nằm cạnh ḍng sông Đồng Nai, ngày dạ hành trước khi ra trường... Tất cả chỉ c̣n trong dĩ văng. Xa lộ Biên Ḥa, nơi không mấy xa lạ với các SVSQ Thủ Đức. Những chiếc xe nhà binh chở chúng tôi đi về Sàig̣n nghĩ phép chiều cuối tuần trên xa lộ nầy. Hai bên là những cánh đồng hun hút, gió mát, thơm mùi lúa chín. Những đôi trai gái hẹn ḥ chuyện tṛ dọc theo xa lộ, trên thảm cỏ xanh tươi. Bây giờ không c̣n nữa. Nó đă biến mất để thay thế bằng nhà cửa san sát, bùi bặm mù trời, xe kẹt lung tung. Đi trên đoạn đường nầy mà không nhắc đến Nghĩa Trang Quân Đội Biên Ḥa là một thiếu sót của người trở về. Tôi đă cố t́m Nghĩa Trang đang nằm ở đâu, nhưng không t́m thấy. Quanh nghĩa trang đă bị những công tŕnh xây cất che kín. Người lính buồn trên xa lộ cũng không c̣n nữa. Tôi vô cùng thất vọng về cách đối xử của chính quyền CSVN với những người đă khuất. Trong lúc đó, những cái gọi là Nghĩa Trang Liệt Sĩ của lính miền Bắc th́ đi đâu cũng có, đầy dẫy suốt trên đoạn đường tôi ra Trung. Đây phải nói là một sự trả thù hèn hạ, không c̣n t́nh người. Đây không phải là phong cách của những con người có tŕnh độ hiểu biết tối thiểu. T́nh cờ trong một bữa cơm, tôi được ngồi chung với một anh công an bị thất sũng. Anh gốc người Thanh Hóa. Anh là một trong những cây viết của báo Tuổi Trẻ. Anh cũng từng giữ chức vụ Tổng biên tập. Chỉ v́ anh lấy vợ người Công giáo nên anh bị đá văng ra khỏi đảng, nhưng vẫn tiếp tục viết cho báo Tuổi Trẻ. Khi anh cho biết anh đang viết báo, tôi cũng không ngần ngại nói với anh tôi cũng đang làm báo, viết báo tại hải ngoại. Đúng ra lúc chuyện tṛ, tôi phải giữ ư hơn anh, v́ tôi là người nước ngoài về; nhưng ngược lại, anh rất cẩn thận khi chúng tôi nói về vấn đề báo chí. Anh cho tôi biết bất cứ một đảng viên nào lớn hay nhỏ, trước khi vào đảng phải là người không Công giáo. Vào đảng rồi mà lấy vợ như anh, hay có ư định theo đạo Công giáo, lập tức bị mất chức, đuổi ra khỏi đảng. Muốn trở thành một đảng viên CS, điều kiện tiên quyết là không được khai ḿnh là Công giáo. V́ anh là một nhà báo nên trong câu chuyện, tôi thấy anh biết rất nhiều chuyện “ông to bà lớn, ăn lớn ăn nhỏ, tranh giành ảnh hưởng, đảng viên “chơi” nhau...”. Một trong những nhân vật anh đề cập tới là Nguyễn Bá Thanh, người được xem là tài ba, có công trạng lớn của thành phố Đànẵng. Người được dân chúng Đà Nẵng xem như một nhân tài ; thế mà ông nhà báo Tuổi Trẻ lại chê đáo để. Rồi khi nhân tài nầy định “lết” vào nhóm đầu năo của Trung ương đảng, cũng bị ném ra ngay.
Hiện nay có một
số “Việt kiều” đang muốn trở về quê hương, mua nhà và để vui sống tuổi
già trong những ngày sau cuối của cuộc đời. Nhưng riêng với những đứa em
tôi, chúng luôn nói với tôi: Về Việt Đất nước chúng ta là một quê hương quá đẹp. Nó có tất cả những ǵ trên địa cầu có. Sông, hồ, biển núi, phong cảnh hữu t́nh, chim muông dă thú rực rỡ sắc màu, những món ăn ngon vật lạ, những hoa trái xanh tươi chưa chắc ǵ nước khác đă có. V́ chiến chinh nên tuổi trẻ chúng tôi chưa bao giờ được đến những vùng đất trời xinh đẹp đó. Chuyến đi nầy, tôi quyết định dùng đường bộ để được thấy những nơi mà tôi chưa bao giờ bước chân tới. Một nửa đoạn đường quê hương tôi đă đi qua. Tôi sẽ kể kể cho bạn nghe về cuộc hành tŕnh của tôi, vượt qua sông Bến Hải để đến Tam Ṭa thuộc tỉnh Quảng B́nh. Lần đầu tiên sau 53 năm, tôi đă ngâm đôi chân trần trong ḍng nước mát lạnh của sông Nhật Lệ đang chảy êm đềm bên ngôi thánh đường Tam Ṭa nay trở thành hoang phế. Rặng phi lao chạy dọc theo bờ sông đến cuối sông, là nơi tiếp giáp với Thái B́nh Dương sóng trắng xóa đang gầm thét thác lũ... Một buổi chiều thật tuyệt vời trên quê tôi./.
|