NGÔ THẾ VINH
Gửi Nhóm Bạn Cửu Long
LTS.- Năm
2007, kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Ủy Ban Sông Mekong của Liên Hiệp
Quốc. Cũng là thời điểm đánh dấu con sông Mekong trước dồn dập những
nguy cơ. Trên trang Web WWF_World Wide Fund for Nature, đă ghi nhận: Mực
nước con sông Mekong tụt thấp xuống tới mức báo động kể từ 2004 và trở
thành những hàng tin trang nhất trên báo chí. “Trung Quốc làm kiệt mạch
sống sông Mekong - New Scientist”; “Sông Mekong cạn ḍng v́ các con đập
Trung Quốc - Reuters AlertNet”; “Xây đập và con sông chết dần - The
Guardian”; “Sông cạn do các con đập Trung Quốc - Bangkok Post”. Hầu hết
đều mạnh mẽ quy trách cho việc xây các con đập thủy điện của Trung Quốc
trên khúc thượng nguồn sông Mekong. Và cũng chính WWF đặt câu hỏi: Thế
nhưng bức tranh toàn cảnh th́ sao? Nhật Báo Người Việt gửi tới bạn đọc
bài viết dưới đây của nhà văn Ngô Thế Vinh, tác giả cuốn sách mới xuất
bản: Mekong Ḍng Sông Nghẽn Mạch - như một cái nh́n tổng quan về diễn
tiến 50 năm khai thác và cả hủy hoại hệ sinh thái của con sông Mekong mà
cho đến nay Việt Nam là quốc gia cuối nguồn, nhưng lại tỏ ra rất thụ
động chỉ với thái độ “chờ xem / wait and see”.
Từ Ủy Ban
Sông Mekong 1957-1976
Năm 1957, giữa thời
kỳ chiến tranh lạnh, với bảo trợ của Liên Hiệp Quốc, chủ yếu là Mỹ, một
Ủy Ban Sông Mekong (MRC/ Mekong River Commission) được thành lập bao gồm
4 nước Thái Lan, Lào, Cam Bốt và Nam Việt Nam và một văn pḥng thường
trực đặt tại Bangkok; với kế hoạch phát triển toàn diện vùng Hạ Lưu sông
Mekong (Lower Mekong Basin) nhằm cải thiện cuộc sống cho toàn thể cư dân
sống trong lưu vực. Trong những bước ban đầu, Ủy Ban Sông Mekong đă được
sự hướng dẫn và hỗ trợ của Ủy Hội Kinh Tế Á châu và Viễn Đông (ECAFE /
Economic Commission for Asia and the Far East) và Cơ Quan Phát Triển
Liên Hiệp Quốc (UNDP).
Cho dù có một nửa
chiều dài sông Mekong chảy qua Vân Nam nhưng Trung Quốc lúc đó c̣n là
một quốc gia toàn trị và khép kín nên ít được nhắc tới.
Với Những Kế
Hoạch Vĩ Mô
Ủy Ban Sông Mekong
đă có “viễn kiến” đánh giá được tiềm năng thủy điện vô cùng phong phú
của con sông Mekong - trước xa cả Trung Quốc tới 2 thập niên, nên đă
phác thảo kế hoạch xây các đập thủy điện lớn trên ḍng chính sông Mekong
nơi vùng hạ lưu (Lower Mekong Basin). Thử điểm qua mấy dự án được coi là
ưu tiên trong “giấc mộng lớn” ban đầu ấy:
- Dự án Pa Mong:
cách thủ đô Vạn Tượng 15 dặm trên ḍng chính sông Mekong như ranh giới
thiên nhiên giữa Thái và Lào. Pa Mong là đập chứa nước chính của hệ
thống sông Mekong, sẽ kiểm soát lưu lượng toàn con sông ra tới Biển Đông
và dĩ nhiên sẽ ảnh hưởng tới tất cả những kế hoạch phát triển vùng hạ
lưu. Nó có khả năng tiêu tưới 2 triệu rưỡi mẫu Anh cho vùng đông bắc
Thái Lan, cung cấp nguồn điện khoảng 2,000 MW (lớn hơn con đập Mạn Loan
1,500 MW). Hồ nước với chiều dài khoảng 210 dặm sẽ d́m sâu trong đáy
nước một vùng rộng lớn đất đai và nhà cửa của khoảng 60 ngàn dân cư
nhưng sẽ cải thiện thủy lộ lưu thông trên sông, nâng cao mức sống và
phát triển của toàn miền đông bắc Thái Lan.
- Dự án Sambor: cách
thủ đô Nam Vang 140 dặm về hướng bắc nằm trong lănh thổ Cam Bốt. Công
tŕnh sẽ khiến mức nước dâng cao, làm ngập suốt 50 dặm ghềnh thác và cải
thiện thủy lộ trên thượng nguồn, mở ra triển vọng giao thông giữa hai
nước Lào và Cam Bốt (Điều mà đoàn thám hiểm Pháp Doudart De Lagré và
Francis Garnier cuối thế kỷ 19 đă thất bại khi đi t́m một thủy lộ tới
Vân Nam). Dự trù lượng điện cung cấp sẽ lên tới 1000 MW, đủ cung cấp cho
nhu cầu kỹ nghệ và dân dụng, đồng thời dùng cho việc bơm tưới các vùng
đất đai thuộc Cam Bốt và Nam Việt Nam.
- Dự án Tonle Sap:
là một đập chắn giữa Nam Vang và Biển Hồ. Biển Hồ sẽ có công dụng như
một hồ chứa thiên nhiên của con sông Mekong, bởi v́ con nước suốt 5
tháng mùa lũ đă chảy ngược về Biển Hồ. Như vậy cửa đập sẽ mở ra trong
mùa lũ để nước chảy ngược vào Biển Hồ tới mức dự trữ cao nhất và như vậy
sẽ giảm thiểu nạn lũ lụt. Trong mùa nước thấp, cửa đập sẽ được mở ra
từng phần, duy tŕ mức sông sâu cho tàu biển vẫn có thể ra vào sông
Mekong và đồng thời giảm thiểu lượng nước mặn xâm nhập vùng Đồng Bằng
Sông Cửu Long (ĐBSCL), từ đó có thể gia tăng thêm 2 triệu rưỡi mẫu Anh
đất bỏ hoang v́ muối phèn, v́ hạn hán hay lũ lụt. Theo dự tính mực nước
hồ sẽ luôn luôn được giữ cao hơn mức thấp khoảng một mét, có hiệu quả
làm gia tăng lượng tôm cá trong Biển Hồ đang có nguy cơ bị sa sút và đây
cũng là nguồn chất đạm chính cho người dân Cam Bốt. Sau cùng, do nguồn
sản xuất điện từ Tonle Sap sẽ theo mùa, nên nguồn thủy điện từ Sambor sẽ
là phần hỗ trợ cho dự án Tonle Sap.
Ngoài ra c̣n một số
địa điểm khác trên ḍng chính sông Mekong cũng được nghiên cứu cho những
con đập khác như: đập Pak Beng, đập Pak Lay và đập Luang Prabang cũng
nhằm sản xuất điện, mở thêm thủy lộ giao thông. Các địa danh khác cũng
được lưu ư tới: Bang Kan, Thakhek dọc biên giới Thái Lào, Pakse ở Nam
Lào, Stung Treng ở Cam-bốt...
Và Cảnh Đồng
Sàng Dị Mộng
Khi mà trong mỗi kế
hoạch đă ẩn chứa những mâu thuẫn sâu xa về quyền lợi giữa các nước thành
viên nếu chỉ đứng trên quan điểm quốc gia hạn hẹp của riêng ḿnh. Không
dễ ǵ vượt qua trở ngại này nếu không có được một không khí cởi mở đối
thoại dẫn tới sự tin cậy cùng với những tính toán thận trọng.
Một ví dụ liên quan
tới dự án Pa Mong rất được Thái Lan nhiệt t́nh cổ vơ không phải chỉ do
tiềm năng thủy điện lớn lao cung cấp cho kỹ nghệ và dân dụng (2000 MW)
mà c̣n do kế hoạch dẫn thủy bơm tưới cho cả một vùng đông bắc Thái Lan
nghèo nàn rộng lớn khô cằn với dân cư chiếm tới 2/5 tổng số dân Thái.
Bởi lẽ đó người ta đă không ngạc nhiên khi thấy Thái Lan là nước mong
thực hiện sớm nhất dự án này để có thêm được 2 triệu rưỡi mẫu Anh đưa
vào sản xuất. Nhưng c̣n hậu quả môi sinh của Pa Mong đối với hai nước hạ
nguồn Cam Bốt và Việt Nam sẽ ra sao? Như làm trầm trọng thêm nạn xâm lấn
nước mặn từ biển vào sâu trong vùng châu thổ mà quốc gia chịu nguy hại
trực tiếp không ai khác hơn là ĐBSCL Nam Việt Nam. Nếu đây là mối e ngại
của Việt Nam th́ đó thực sự không phải là mối quan tâm của Thái Lan!
Một ví dụ thứ hai,
trong khi kế hoạch Tonle Sap và Sambor rất được Việt Nam tha thiết quan
tâm, do hai hồ chứa này (một thiên nhiên và một nhân tạo) ngoài mục đích
sản xuất điện, c̣n có khả năng điều ḥa mực nước theo hai mùa lũ lụt và
khô hạn đồng thời ngăn chặn nguồn nước mặn từ biển lấn sâu vào vùng
ĐBSCL; nhưng dự án ấy đă bị nước láng giềng Cam Bốt nh́n với con mắt
nghi kỵ - do bắt nguồn từ ám ảnh lịch sử vốn đă là thiếu thân thiện nếu
không muốn nói là thù nghịch giữa hai nước. Cam Bốt đă không coi vấn đề
tăng lượng hải sản trong Biển Hồ Tonle Sap và việc ngăn lũ là quan trọng
nên đă từng tỏ ư không hợp tác và cũng đă nhiều lần dọa rút ra khỏi Ủy
Ban Nghiên Cứu Dự án.
Nhưng rồi, sau đó
cuộc chiến tranh Việt Nam kinh hoàng đă lan rộng ra cả ba nước Đông
Dương qua hơn ba thập niên, (Thái Lan tuy không trực tiếp tham chiến
nhưng cũng đă là một hậu cần của Mỹ trong suốt cuộc chiến), nên kế hoạch
xây dựng các đập thủy điện lớn chắn ngang sông Mekong vùng Hạ Lưu đă
phải gián đoạn, khiến cho con sông Mekong c̣n giữ được vẻ hoang dă và cả
sự nguyên vẹn thêm một thời gian nữa.
Và để rồi sau đó,
những kế hoạch khai thác “vĩ mô” nguồn thủy điện phong phú của sông
Mekong được chuyển lên phương bắc với một chuỗi 14 con đập bậc thềm
khổng lồ Vân Nam của Trung Quốc.
Rồi Ủy Ban
Mekong Lâm Thời 1978 - 1992
Chiến Tranh Việt Nam
chấm dứt năm 1975, nhưng vẫn c̣n một cuộc chiến tranh diệt chủng diễn ra
trên Xứ Chùa Tháp. Không có Cam Bốt, một Ủy Ban Mekong Lâm Thời (IMC/
Interim Mekong Committee) được thành lập năm 1978 với hoạt động hạn chế.
Cũng trong thời gian
này, Thái Lan băét đầu có kế hoạch chuyển ḍng sông Mekong nhằm đưa một
lượng nước lớn bơm tưới cho cao nguyên Isan, là cả một vùng đông bắc
Thái Lan luôn luôn bị khô hạn. Đó là một dự án của riêng Thái Lan, không
có trong kế hoạch ban đầu của Ủy Ban Sông Mekong. Khi gặp sự chống đối
của Việt Nam, Thái Lan đi tới phủ nhận tính cách pháp lư của Ủy Ban Sông
Mekong, viện lư do là tổ chức này đă không c̣n phù hợp với những thay
đổi về chánh trị, kinh tế và xă hội trong vùng. Trong điều kiện phân hóa
như vậy, Ủy Ban Mekong Lâm Thời hầu như bị tê liệt.
Tới Ủy Hội
Sông Mekong 1995 Như Một Xuống Cấp
Bước vào thời b́nh
với nhu cầu phát triển, con sông Mekong đă trở thành mục tiêu khai thác
của 6 quốc gia trong Lưu Vực Lớn Sông Mekong hay c̣n được gọi là Tiểu
Vùng Mekong Mở Rộng (GMS/ Greater Mekong Subregion).
Cùng là những nước
ven sông nhưng mỗi quốc gia lại có những ưu tiên về phát triển khác nhau
với những quyền lợi mâu thuẫn. Do đó, phục hồi một tổ chức điều hợp liên
quốc gia tương tự như Ủy Ban Sông Mekong trước đây là cần thiết.
Ngày 05 tháng 04 năm
1995, 4 nước hội viên gốc của Ủy Ban Sông Mekong đă họp tại Chiang Rai,
bắc Thái Lan cùng kư kết một “Hiệp Ước Hợp Tác Phát Triển Bền Vững Lưu
Vực Sông Mekong” và đổi sang một tên mới là Ủy Hội Sông Mekong (MRC/
Mekong River Committee), không c̣n lệ thuộc vào ECAFE và UNDP nữa mà
thuộc trách nhiệm của một Hội Đồng Bộ Trưởng (Council of Ministers) các
quốc gia thành viên và quan trọng hơn hết là đă có một thay đổi cơ bản
trong Hiệp Ước mới này - thay v́ như trước đây theo điều lệ của Ủy Ban
Sông Mekong, mỗi hội viên có quyền phủ quyết (veto power) bất cứ một dự
án nào bị coi là có ảnh hưởng tác hại tới ḍng chính sông Mekong - th́
nay, theo nội quy mới không một thành viên nào có quyền phủ quyết như
vậy và trong ngôn từ để chuẩn y các dự án cũng rất là mơ hồ như chỉ qua
thông báo và tham khảo. Đại diện cho Việt Nam là Ngoại Trưởng Nguyễn
Mạnh Cầm đặt bút kư cho Hiệp Ước Hợp Tác Phát Triển – có thể nói là
“Không Bền Vững” này, với những di lụy không ít cho tương lai v́ Việt
Nam là một quốc gia cuối nguồn.
Có thể nói Ủy Hội
Sông Mekong là “biến thể và xuống cấp” của Ủy Ban Sông Mekong trước kia;
và nay có văn pḥng đặt tại Vạn Tượng, thủ đô nước Lào với địa chỉ:
MRC Secretariat,
18 Sithane Neua,
Sikhottabong, Vientiane, Lao PDR
Trang Web:
www.mrcmekong.org
Và mỗi quốc gia
thành viên đều có một Ủy Ban Mekong Quốc Gia (NMC/ National Mekong
Committee), và Ủy Ban Sông Mekong Việt Nam với một địa chỉ khá nghịch
lư: 23 phố Hàng Tre, Hà Nội - nơi châu thổ sông Hồng cách xa ĐBSCL với
Đại Học Cần Thơ, Đại Học An Giang hơn 1,600 Km.
Khác với tham vọng
chiến lược ban đầu của Ủy Ban Sông Mekong nhằm khai thác tiềm năng sông
Mekong - như một con sông quốc tế, cho sự thịnh vượng chung của toàn lưu
vực, th́ nay mục tiêu của Ủy Hội Sông Mekong có phần khiêm tốn và thu
hẹp hơn bao gồm: ba Chương Tŕnh Ṇng Cốt (Chương Tŕnh Sử Dụng Nước,
Chương Tŕnh Phát Triển Lưu Vực; Chương Tŕnh Môi Trường); năm Chương
Tŕnh Khu Vực (Canh Nông, Thủy Lâm, Ngư nghiệp, Giao Thông, Du lịch); và
một Chương Tŕnh Yểm Trợ. (3)
Ủy Hội Sông Mekong
được bảo trợ bởi các tổ chức quốc tế, các tổ chức quốc gia, các viện
nghiên cứu, và cả hội tư nhân. Ủy Hội đă trải qua những bước khởi đầu
chậm chạp do sự yếu kém trong quản trị, các cơ quan bảo trợ tỏ ra thiếu
tin tưởng vào Ủy Hội trước sự thờ ơ của các nước thành viên cũng như
thiếu mục tiêu rơ ràng lúc ban đầu. Nhưng rồi từng bước, Văn Pḥng
Thường Trực của Ủy Hội Sông Mekong đă được cải thiện, tạo dựng được một
h́nh ảnh mới tích cực hơn, đón nhận được sự tài trợ cũng lớn hơn, lên
tới 28 triệu Mỹ kim năm 2000.Ủy Hội Sông Mekong đă hoàn tất được vài
thành quả ban đầu như: đạt được thỏa thuận chia xẻ thông tin giữa 4 nước
thành viên, thiết lập đưa vào sử dụng “mạng lưới internet” tiên đoán lũ
lụt và theo dơi ḍng chảy mùa khô; và nhất là đạt được thỏa ước (kư kết
tháng 4, 2002) có thể gọi là lịch sử về trao đổi dữ kiện thủy văn
(hydrological data exchange agreement) giữa Trung Quốc và Ủy Hội Sông
Mekong. (7)
Yếu Tố Trung
Quốc Như Một Nhân Tai
Qua thời kỳ chiến
tranh lạnh, Trung Quốc đă thực sự mở cửa ra với thế giới bên ngoài và
vươn lên như một siêu cường. Không c̣n ảnh hưởng thống trị của Mỹ ở Đông
Nam Á, Trung Quốc nghiễm nhiên trở thành yếu tố mới năng động với ảnh
hưởng bao trùm trên toàn Lưu Vực Lớn Sông Mekong.Sự thịnh vượng cho Lưu
Vực là điều hứa hẹn nhưng chưa tới, và đă tới những hậu quả nhăn tiền
của các bước khai thác tự hủy nguồn tài nguyên sông Mekong, ảnh hưởng
trực tiếp tới 60 triệu dân cư sống trong lưu vực.
Năm 1986, Trung Quốc
bắt đầu xây con đập thủy điện lớn đầu tiên trong dự án 14 con đập bậc
thềm Vân Nam (Mekong cascades), chắn ngang ḍng chính sông Lan Thương -
tên Trung Quốc của con sông Mekong: (1) Con đập Mạn Loan / Manwan cao
126 m, công suất 1,500 MW hoàn tất 1993; tiếp theo là (2) con đập Đại
Chiếu Sơn / Daichaosan cao 118 m, công suất 1,350 MW hoàn tất 2003. Thêm
hai con đập khác cũng đang được xây cất (3) con đập Tiểu Loan / Xiaowan
cao như tháp Eiffel 292 m, công suất 4,200 MW, lớn thứ hai trên thế giới
(chỉ sau con đập Tam Hiệp / Three Gorges Dam trên sông Dương Tử), dự trù
hoàn tất năm 2010; thêm con đập thứ tư (4) đập Cảnh Hồng / Jinghong cao
107 m 1,500 MW tương đương công suất với con đập Mạn Loan, cũng đang
được thi công.
Và thêm 4 con đập
lớn Vân Nam khác cũng đang trên các dự án sẽ được triển khai: trong đó
phải kể tới con đập “khủng long” Nọa Trác Độ / Nuozhadu công suất 5,500
MW (lớn hớn gấp 3 công suất đập Mạn Loan) với dung lượng hồ chứa c̣n lớn
hơn nữa: 22,740 MCM / Million Cubic Meters.
Cũng vẫn theo Fred
Pearce, th́ vào đầu thập niên tới, chuỗi đập bậc thềm Vân Nam sẽ có khả
năng giữ lại hơn nửa lưu lượng ḍng chảy của con sông Mekong trước khi
ra khỏi Vân Nam.
(4)
(Để độc giả có một ư
niệm về tầm vóc của chuỗi đập bậc thềm Vân Nam, ta hăy so sánh với một
công tŕnh khác được coi là “rất vĩ đại” của Mỹ: TVA / Tennessee Valley
Authority với hệ thống các đập thủy điện trên con sông Tennessee và phụ
lưu. Số con đập Vân Nam là 14, trong khi TVA chỉ có 9. Độ dốc của
/elevation differential của chuỗi đập Vân Nam là 1,500m 12 lần cao hơn
chuỗi đập TVA; tổng công suất chuỗi đập Vân Nam gấp 13 lần tổng công
suất chuỗi đập TVA. Như vậy đối chiếu với chuỗi đập Vân Nam th́ đại công
tŕnh TVA nổi tiếng bấy lâu của Mỹ nay đă trở thành một bóng mờ. (5)
Cụ thể hơn, khi bạn
đi Las Vegas, có dịp đến thăm con đập thủy điện khổng lồ Hoover của Mỹ
cao 221 m với công suất 2,080 MW trên sông Colorado, nhưng chỉ lớn hơn
con đập Mạn Loan và chưa bằng nửa công suất của riêng con đập Tiểu Loan/
Xiaowan 4,200 MW. Tưởng cũng nên ghi lại đây là do người Mỹ đă tận dụng
nguồn nước khúc sông thượng nguồn nên đă khiến con sông Colorado khô cạn
không c̣n nước để ra tới biển gây thảm cảnh cho bao nhiêu triệu cư dân
Mễ sống nơi cuối nguồn).
Rơ ràng trong mấy
thập niên vừa qua, Trung Quốc đă ào ạt khai thác con sông Mekong, không
ngừng (I) xây thêm những con đập thủy điện khổng lồ ngang ḍng chính
(II) phá đá và khai thông các khúc sông ghềnh thác để mở thủy lộ cho các
con tàu 700 tấn đi về phương Nam và (III) mới đây dùng sông Mekong làm
con đường vận chuyển dầu khí từ giang cảng Chiang Rai vào Vân Nam (2).
Tất cả đă và đang làm ảnh hưởng tới nguồn nước, nguồn cá, nguồn phù sa
và cả gây ô nhiễm cho hạ nguồn.
(Trước đó, vào tháng
4, 2006, Bắc Kinh cũng đă âm thầm kư kết với chánh quyền quân phiệt Miến
Điện một thỏa ước xây dựng ống dẫn dầu từ cảng Sittwee vịnh Bengal vượt
đồi núi băng qua các vùng sắc tộc đông dân cư để lên thẳng tới thủ phủ
Côn Minh thay v́ phải diệu vợi đi qua eo biển Malacca. Ảnh hưởng phá hủy
môi sinh và cư dân phải di dời ra sao là điều chưa được xét tới).
Sông Mekong
Cạn Ḍng
Chưa bao giờ trong
Mùa Khô, mực nước con sông Mekong lại có thể xuống thấp đến như vậy từ
ngày có những con đập Vân Nam (mới 2 hoàn tất trong dự án 14 đập). Ở một
số nơi có những khúc sông đă trơ đáy và hầu như cạn ḍng. Nguồn cá và
nông nghiệp đă trực tiếp bị ảnh hưởng.
Không chỉ đơn giản
v́ “thiếu mưa”, sự kiện sông Mekong cạn ḍng với mực nước đột ngột tụt
thấp xuống nơi vùng hạ lưu xuống xa tới tận Biển Hồ năm 1993 và 2003 mà
không vào mùa khô, trùng hợp với thời điểm Trung Quốc bắt đầu lấy nước
vào hồ chứa của hai đập thủy điện Mạn Loan và Đại Chiếu Sơn ngang ḍng
chính sông Mekong trên Vân Nam.
(4)
Rồi vào nửa năm đầu
2004, mực nước đă xuống thấp hơn nữa trong toàn Vùng Hạ Lưu, không phải
chỉ ở Thái Lan, Lào mà cả ở Cam Bốt và ĐBSCL Việt Nam. Khi mà độ mưa đă
bị giảm trong mùa mưa 2003, nước lại bị giữ lại trong các hồ chứa khổng
lồ Vân Nam và cả trong những hồ chứa trên các nhánh phụ lưu_ để duy tŕ
hoạt động cho các nhà máy thủy điện, th́ ảnh hưởng và hậu quả dây chuyền
khiến con sông cạn ḍng là điều không thể tránh được.
Odd Bootha, 38 tuổi,
anh lái đ̣ bến Chiang Khong Bắc Thái Lan, đă than thở: “Nếu Trung Quốc
cứ xây thêm đập th́ sông Mekong chỉ c̣n là một con lạch.”
T́nh cảm bài Trung Quốc rất mạnh ở vùng Bắc
Thái, chính dân làng đă công khai chống lại kế hoạch phá đá phá ghềnh
thác khai thông sông Mekong của Trung Quốc.
Với Cam Bốt, ai cũng
biết rằng trái tim Biển Hồ chỉ c̣n đập khi sông Mekong c̣n đủ nước chảy
ngược vào Biển Hồ trong mùa lũ, như một bảo đảm cho nguồn cá và vựa lúa
của người dân xứ Chùa Tháp. Và chưa hề có bảo đảm nào cho một tương lai
như vậy nếu không muốn nói là đă có những dấu hiệu xấu về một Biển Hồ
đang chết dần.
Fred Pearce, tác giả
cuốn sách “Khi Những Con Sông Cạn Ḍng, Nước - Khủng Hoảng của Thế Kỷ
21“mới xuất bản 2006, trong chương sách viết về con sông Mekong đă có
ghi nhận:
“Cuối năm 2003 và
đầu năm 2004 là thời gian tuyệt vọng trên Biển Hồ. Cơn lũ mùa hè thấp
hơn. Thời điểm con sông Tonle Sap chảy ngược vào Biển Hồ đến trễ hơn và
cũng chấm dứt sớm hơn. Thay v́ 5 tháng con sông đổi ḍng nay chỉ c̣n có
3 tháng. Rừng lũ / flooded forest thiếu ngập lũ và cá th́ không đủ thời
gian để tăng trưởng... Và mùa thu hoạch cá chưa bao giờ thấp như vậy.
Tại sao? Đa số ngư dân đổ tại con sông cạn ḍng. Khi con nước cạn trước
hoàng cung, th́ sẽ không có cá dưới sông.” (4)
Để có đủ nước vận
hành các đập thủy điện Vân Nam, Trung Quốc đă thường xuyên đóng các cửa
đập khiến mực nước sông đă xuống tới mức thấp nhất. Phía tả ngạn bên
Lào, chỉ riêng trong tháng 3/2004, tổ chức du lịch đă phải hủy bỏ 10
chuyến du ngoạn trên sông chỉ v́ những khúc sông quá cạn. Chainarong
Sretthachau, giám đốc Mạng Lưới Sông Đông Nam Á (Southeast Asia Rivers
Network) cho rằng “Trung Quốc đă có quyền lực để kiểm soát ḍng sông
Mekong.” (10)
Sự chối từ của Trung
Quốc tham gia vào Ủy Hội Sông Mekong khiến tổ chức này trở nên vô nghĩa
trong nỗ lực điều hợp khai thác và phát triển bền vững nguồn tài nguyên
của con sông Mekong.
Do nhu cầu điện của
Trung Quốc tăng 5-6%/năm, để đáp ứng tốc độ phát triển kinh tế, trước
viễn tượng nguồn dầu khí ngày càng cạn kiệt, Trung Quốc ngoài việc gia
tăng tốc độ xây thêm các ḷ điện nguyên tử, từ 1 tới 2 ḷ mới mỗi năm,
bất chấp mọi hậu quả (National Geographic, Aug 2005).
Đi xa hơn nữa, chỉ
mới đây thôi, nếu không gặp sự chống đối mạnh mẽ từ các nhà lập pháp Mỹ
ở Hoa Thịnh Đốn, Công Ty Dầu Khí Ngoài Khơi Nhà Nước Trung Quốc (CNOOC/
Chinese National Offshore Oil Corp.) đă thành công mua đứt Unocal, công
ty dầu khí lớn thứ hai của Mỹ với 18.5 tỉ Mỹ kim để sở hữu nguồn dầu khí
chiến lược và cả khống chế quyền khai thác các túi dầu trên toàn Biển
Đông. (NY Times, Aug 3, 2005).Với khát vọng
vô hạn về năng lượng, rơ ràng không có dấu hiệu nào Trung Quốc sẽ dừng
bước hay chậm lại kế hoạch khai thác nguồn thủy điện phong phú của con
sông Mekong.
Nhận định về các kế
hoạch khai thác sông Mekong của Trung Quốc, Tyson Roberts thuộc Viện
Nghiên Cứu Nhiệt Đới Smithsonian (Mỹ) đă phát biểu: “Xây các đập thủy
điện, khai thông thủy lộ, với tàu bè thương mại quá tải sẽ giết chết
ḍng sông... Các bước khai thác của Trung Quốc sẽ làm suy thoái hệ sinh
thái, gây ô nhiễm tệ hại, khiến con sông Mekong đang chết dần, cũng
giống như con sông Dương Tử và các con sông lớn khác của Trung Quốc.”
(9)
Như một điệp khúc,
phía chánh quyền Trung Quốc lúc nào cũng khăng khăng với lập luận là ảnh
hưởng chuỗi đập Vân Nam trên sông Mekong là không đáng kể và c̣n có lợi
nữa. Các con đập sẽ tạo thuận cho chu kỳ lũ - hạn hàng năm, khai thông
ḍng sông sẽ làm gia tăng trao đổi thương mại trong vùng và giúp giảm
nghèo. Nhưng cũng không thiếu tiếng nói chỉ trích ngay tại Trung Quốc
như Xu Xiaogang, chuyên viên nghiên cứu hậu quả các con đập trên các
cộng đồng người Hoa: “Trên con sông quốc tế, không một quốc gia nào có
thể vị kỷ. Họ phải quan tâm tới ảnh hưởng trên các quốc gia khác và trên
con sông như một toàn thể.” (9)
Công bằng mà nói,
không phải tất cả suy thoái của con sông Mekong là đến từ Trung Quốc.
Cũng phải kể tới phần ảnh hưởng cộng thêm vào từ các con đập phụ lưu
sông Mekong của Thái Lan, Lào và Việt Nam, càng làm suy thoái thêm toàn
hệ sinh thái của ḍng sông.
Hâm Nóng
Toàn Cầu, Mekong Thêm Cạn Ḍng
Tổ chức WWF đă đưa
ra lời cảnh báo là hiện tượng Hâm Nóng Toàn Cầu (Global Warming) đă
khiến những khối băng trên rặng Hy Mă lạp Sơn mau chóng thu nhỏ lại, có
thể gây ảnh hưởng thiếu hụt nước của hàng trăm triệu cư dân sống phụ
thuộc vào những con sông có nguồn nước từ những khối băng tuyết này.
Khối băng tuyết Hy Mă Lạp Sơn (chỉ đứng thứ hai sau Bắc Cực) đang bị thu
nhỏ lại với vận tốc từ 10 tới 15 mét / năm. Với hậu quả ban đầu là gia
tăng lưu lượng nước sông, nhưng theo Jennifer Morgan, giám đốc Chương
Tŕnh Biến Đổi Khí Hậu Toàn Cầu (WWF for Nature's Global Climate Change
Programme) th́ chỉ vài thập niên sau đó, t́nh h́nh sẽ đảo ngược. Khối
băng tuyết Hy Mă Lạp Sơn cấp nguồn nước cho 7 con sông lớn của Châu Á
(sông Mekong, sông Salween, sông Dương Tử, Hoàng Hà và các con sông
Hằng, sông Indus, sông Brahmaputra,) mực nước các con sông sẽ xuống rất
thấp trong đó có con sông Mekong. (6)
WWF đă báo động tới
nhóm các quốc gia kỹ nghệ G8 là: “thế giới sẽ phải đương đầu với thảm
họa về kinh tế và phát triển nếu mức độ hâm nóng toàn cầu không được
giảm thiểu.” Tưởng cũng nên nhắc tới ở đây, siêu cường kỹ nghệ Hoa Kỳ
dưới triều đại Bush là nước duy nhất trong số 155 quốc gia từ chối kư
tên vào Nghị Định Thư Kyoto (Kyoto Protocol). Không phải chỉ có Trung
Quốc, chính sách môi sinh thiển cận của Tổng Thống Bush trong một tương
lai xa, cũng đă góp phần khiến con sông Mekong thêm cạn ḍng.
Giải Pháp
Ngắn Hạn Để Sống C̣n
Với Việt Nam, trong
cuộc phỏng vấn của phóng viên Ánh Nguyệt/RFI (12/2004) khi được hỏi về
t́nh trạng nhiễm mặn ngày càng trầm trọng nơi ĐBSCL từ ngày Trung Quốc
không ngừng tiến hành xây những con đập khổng lồ Vân Nam, Giáo Sư Vơ
Ṭng Xuân một tên tuổi được biết tới trước 1975 như cha đẻ của giống lúa
cao sản Thần Nông, hiện là viện trưởng Đại Học An Giang, đă phát biểu:
“Nông dân ĐBSCL
thích nghi nhanh, chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp: bỏ hẳn giống lúa cổ
truyền chuyển sang trồng lúa cao sản, nên chủ động tránh được lũ cũng
như hạn hán. Ở những vùng bị nhiễm mặn, vùng nước lợ, thay v́ trồng lúa
th́ chuyển qua những loại cây khác hay chuyển qua sản xuất nuôi tôm sú
chịu được nước lợ; rồi phong trào nuôi cua biển đang phát triển mạnh,
người nông dân sẽ dùng nguồn nước mặn này để nuôi thủy sản với giá thành
cao hơn là trồng lúa. Hiện nay Viện Lúa ĐBSCL
đang vận dụng công nghệ sinh học, t́m những genes chịu mặn nhằm lai tạo
những giống lúa cao sản tương đối chịu mặn hơn các giống lúa thường (chứ
không phải là chịu nước mặn hoàn toàn). Xa hơn nữa, Việt Nam đang cùng
với nhóm MEREM / Mekong Resources Economic Management do Nhật Bản tài
trợ, nhằm nghiên cứu những thay đổi môi trường nước cũng như của đa dạng
sinh học trên sông Mekong để từ đó có thể khuyên cáo những chánh phủ
liên hệ nên sử dụng nguồn nước sao cho an toàn hơn.” (8)
Mạch Sống
Mekong, Máu Của Đất
Qua những hội nghị
từ Thượng Đỉnh, tới cấp Bộ Trưởng rồi Giám Đốc các Ủy Ban, với bao nhiêu
là tuyên ngôn rồi tuyên cáo, tất cả chỉ như những khẩu hiệu, có tính
cách h́nh thức, “với nhiều chữ nhưng lại ít thông tin”, và trong thực tế
vẫn mạnh ai nấy làm và Ủy Hội Sông Mekong chưa hề là một tổ chức đoàn
kết có tầm vóc để được coi là đối trọng đối với nước lớn Trung Quốc.
Nhất là sự chia rẽ phân hóa đă có ngay trong cấp lănh đạo cao nhất các
quốc gia hạ nguồn.
Nói ǵ đi nữa th́
Bắc Kinh vẫn cứ đi thênh thang trên con đường đă vạch ra của ḿnh.
Bảo vệ môi trường
nếu có được nhắc tới hơn một lần trong các hội nghị Thượng Đỉnh Sông
Mekong (GMS Summits) Nam Vang 2002 hay Côn Minh 2005, chỉ “như những
khẩu hiệu”, trong khi Trung Quốc vẫn không ngừng xây hàng loạt những con
đập thủy điện khổng lồ trên ḍng chính sông Mekong, đang gây rất nhiều
tranh căi và quan ngại của các chuyên gia môi sinh đối với ảnh hưởng tác
hại khó lường đối với nguồn nước sử dụng nơi hạ nguồn.
Thách Đố Của
Thế Kỷ 21
Chiến tranh nóng rồi
chiến tranh lạnh cũng qua đi, Trung Quốc mau chóng hội nhập với thế giới
bên ngoài. Tất cả sáu nước ven sông với những định chế chánh trị xă hội
và văn hóa khác nhau, nhưng cùng có chung một nhu cầu khẩn thiết là khai
thác con sông Mekong để phát triển. Không phải là không có những mâu
thuẫn quyền lợi và tranh chấp khi tới với nguồn nước và tài nguyên đă
tới mức giới hạn và bắt đầu cạn kiệt của ḍng sông.
Thực tế cho thấy dễ
dàng để thỏa thuận với nhau trên một số nguyên tắc khái quát
như “sử dụng nước và
các nguồn tài nguyên phải đáp ứng với nhu cầu bảo vệ, bảo tồn, thăng
tiến môi sinh và duy tŕ cân bằng hệ sinh thái” nhưng đi vào thực hiện
với chi tiết c̣n cả một “khoảng cách đại dương”.
Chẳng hạn ai sẽ thực
sự trách nhiệm “duy tŕ ḍng chảy tối thiểu” của con sông Mekong trong
mùa khô cũng như ḍng chảy mùa lũ để có ḍng chảy ngược từ con sông
Mekong vào Biển Hồ, để nước mặn từ ngoài Biển Đông không tiếp tục lấn
vào sâu và xa hơn nữa nơi ĐBSCL?
Dĩ nhiên sẽ có những
diễn dịch khác nhau và phản ứng hành động khác nhau theo hoàn cảnh của
mỗi nước ven sông.
Rồi nh́n về Việt Nam
với h́nh ảnh ước lệ của hơn nửa thế kỷ trước về một ĐBSCL với ruộng vườn
thẳng cánh c̣ bay, tôm cá th́ đầy đồng - th́ nay tất cả đă đi vào quá
khứ. Chỉ mới đây thôi có dịp trở lại viếng thăm, để chỉ thấy trên toàn
cảnh là một ĐBSCL đang suy thoái và cứ nghèo dần đi.”
Thay Lời Kết
Kể từ sau hội nghị
về Môi Sinh và Phát Triển Rio de Janeiro 1992, Đại Hội Đồng Liên Hiệp
Quốc đă quyết định chọn ngày 22 tháng 03 hàng năm là Ngày Nước Thế Giới
(World Water Day) với chủ đề cho năm nay 2007 là “Nạn Khan Hiếm Nước -
Water Scarcity” đang diễn ra trên toàn cầu với những con sông đang cạn
ḍng trong đó có sông Mekong.
Năm 2007 c̣n là một
thời điểm ư nghĩa đánh dấu đúng nửa thế kỷ (1957 - 2007) từ ngày Liên
Hiệp Quốc thành lập Ủy Ban Sông Mekong và nay với hóa thân là Ủy Hội
Sông Mekong vẫn chỉ gồm 4 quốc gia vùng hạ lưu: Thái Lan Lào Cam Bốt và
Việt Nam; trong khi Trung Quốc th́ vẫn đứng ngoài và tận dụng khai thác
khúc thượng nguồn mà không kể ǵ tới ảnh hưởng hủy hoại môi sinh nơi các
quốc gia khác ven sông.
Nước th́ càng ngày
càng khan hiếm, với kinh nghiệm của người xưa về “thượng nguồn tích thủy
hạ nguồn khan” tưởng như là hiển nhiên nhưng vẫn cứ bị Bắc Kinh và cả
một số ít người Việt “nhân danh khoa học” phủ nhận. Rồi ra thời gian sẽ
cho chúng ta “một bài học” nhưng sẽ là quá trễ nếu hệ sinh thái con sông
Mekong đă suy thoái tới mức không c̣n có thể đảo nghịch. Nói tới sông
Mekong và ĐBSCL trước nguy cơ là chúng ta c̣n thời gian phấn đấu để
“giảm thiểu tổn thất” nhưng đó là khoảng thời gian phải chạy đua với
ṿng xoay của chiếc kim đồng hồ.
NGÔ THẾ VINH
California, 04/2007
Tham Khảo:
1/ Phnom Penh
Declaration, 1st GMS Summit, 03 Nov 2002; Kunming Declaration, 2nd GMS
Summit, 4-5 July 2005
2/ Sparks fly as
China moves oil up Mekong, Marwaan Macan-Makar, Bangkok 01-09-2007; IPS
and Asia Times Online
3/ Agreement on the
Cooperation for the Sustainable Development of The Mekong River Basin,
Chiang Rai, Thailand 05 Apr 1995
4/ When The Rivers
Run Dry, Water - The Defining Crisis of The Twenty First Century.
Fred Pearce, Beacon
Press, Boston, Massachusetts 2006
5/ Hiroshi Hori. The
Mekong: Environment and Development. United Nations University Press,
Tokyo 2000.6/ Global Warming is causing Hymalayan glaciers retreat,
threatening to cause water water shoratges, Geneva, Mar 14, 2005, (AFP)
7/ Progress In Water
Management at the Mekong River Basin, MRC Presentation at Third WWF,
INBO Official Session 20 Mar 2004
8/ Ánh Nguyệt, phóng
viên RFI Phỏng vấn Giáo Sư Vơ Ṭng Xuân 03-12-2004
9/ Chinese Dam
Project may spell disaster for mighty Mekong River, Denis Gray, Nov 2,
2002, (AP)
10/ Mekong River At
Risk, Bary Wain, FEER, Aug 26, 2004