Lợi Và Hại Việc Rút Quân Mỹ Ra Khỏi Iraq

Houston, Texas 15/04/2007
©Vietnam Review

Trong tuần qua, một cuộc tranh luận lư thú đă diễn ra trên diễn đàn truyền thanh, trong một chương tŕnh trên đài Tiếng Nước Tôi tại Houston có tên là Diễn Đàn Tự Do. Chủ đề chính là bàn về lợi hay hại của chủ trương rút quân Mỹ ra khỏi chiến trường Iraq, vốn tự nó đă là một đề tài lớn chiếm sự quan tâm của chính giới và người dân Hoa Kỳ trong thời gian qua. Các diễn giả chính được ông Hoàng Bách, người điều khiển chương tŕnh, giới thiệu là ông Lê Phát Minh, cựu chủ tịch Ban Chấp hành trung ương Liên Minh Dân Chủ và hai người trẻ là luật sư Steven Điêu, một thành viên của đảng Cộng Hoà tại Sugarland, ngoại ô Houston, nhưng đồng thời cũng là đại diện cho dân biểu tiểu bang Hubert Vơ của đảng Dân Chủ, và anh Tạ Khôi, phụ tá của dân biểu liên bang Loretta Sanchez tại Quận Cam, California. Diễn giả đầu tiên được coi như là người ủng hộ chính sách của hành pháp Bush, chủ trương tiếp tục đồn trú tại Iraq cho đến khi t́nh h́nh sáng sủa hơn, nhưng hai diễn giả sau đại diện cho tiếng nói ngược lại, chủ trương cần phải rút quân Mỹ ra khỏi Iraq v́ sự thất bại cũng như cái giá quá đắt về nhân mạng và tiền của cho cuộc chiến này từ hơn bốn năm qua.

Khách quan mà nói, h́nh thức tranh luận công khai kiểu này là sinh hoạt truyền thông dân chủ và công bằng nhất, giúp cho khán thính giả được nghe hai quan điểm đối chọi được cất lên cùng một thời điểm trên một diễn đàn chung, để từ đó có thể tự ḿnh đánh giá được phe nào tương đối có lập luận vững chắc hơn. Bởi v́ nếu chỉ nghe thuần một bên, người nghe không nhiều th́ ít cũng bị ảnh hưởng bởi khả năng tŕnh bày hùng hồn, sắp xếp các dữ kiện theo một chiều hướng thuận lợi do diễn giả muốn lèo lái đến. Nhưng nếu bị đối chất ngay lập tức, bởi một diễn giả cũng với một khả năng tŕnh bày không kém phần lưu loát với những luận cứ xác đáng phản bác lại, người nghe bỗng tự thấy rằng những lời tŕnh bày lúc đầu xem chừng như có vẻ đáng tin ấy hoá ra cũng có nhiều điều cần phải xét lại. Thí dụ dễ hiểu nhất để minh hoạ cho t́nh trạng này là cứ xem một phiên toà ở Hoa Kỳ diễn ra như thế nào. Thoạt đầu là phần tóm tắt tŕnh bày quan điểm (opening statements) của đôi bên nguyên đơn (plaintiff) và bị cáo (defendant), cả hai đều xuất sắc, cho rằng luận cứ của ḿnh đều xác đáng, và nếu chỉ dựa vào phần này thôi th́ bồi thẩm đoàn (và cử toạ) cũng không thể nào biết ai đúng hơn ai. Nhưng bước vào phần kế tiếp, sau khi một bên (nguyên đơn hay bị cáo) mời nhân chứng của ḿnh lên để khai trước toà về diễn biến xảy ra hầu thuyết phục người nghe, toà sẽ giành cho đối phương phần đặt câu hỏi đối chất (cross-examination). Nghĩa là luật sư của bên này sẽ vặn vẹo hỏi nhân chứng đó những câu hỏi hóc búa, và từ đó người nghe sẽ thấy nhân chứng bắt đầu lúng túng chứ không c̣n thao thao kể chuyện như lúc ban đầu. Chính nhờ ở nguyên tắc để cho hai lập trường đối chọi được cùng tŕnh bày liền nhau mà bồi thẩm đoàn (hay cử toạ) có thể nh́n thấy rơ vấn đề hơn, và có thể đánh giá để biết xem luận cứ của bên nào vững vàng hơn, và có sức thuyết phục mạnh hơn.

Thật ra th́ các chính trị gia Mỹ nhiều khi cũng rất ma lanh và tránh né t́nh trạng đối chất công khai này, thường t́m cách dàn dựng để lên các diễn đàn mà họ biết chắc là đa số cử toạ hay người điều khiển chương tŕnh thuộc thành phần trung thành hay có thiện cảm tuyệt đối với họ. Mục đích là để được tạo ra h́nh ảnh thuyết phục với nhiều tiếng vỗ tay hoan hô và tránh được những h́nh ảnh phản đối hay la ó của những người không cùng quan điểm. Chính TT Bush là người ưa thích và sành sơi trong phương thức vận động kiểu này. Trong hơn 6 năm cầm quyền, không bao giờ ông dám thực sự xuất hiện trước một cử toạ độc lập phản ảnh đủ mọi thành phần dân chúng trong nước, mà bao giờ cũng chỉ xuất hiện trước những nơi đă được lựa chọn kỹ lưỡng và dàn dựng công phu bởi bộ máy tuyên truyền tinh vi của Bạch Cung. Hoặc là tại những nơi chỉ có khán giả toàn là cử tri trung kiên với đảng Cộng Hoà (và một vài phần tử đối lập lẻ tẻ khi bị phát hiện đều bị lôi kéo ra ngoài ngay lập tức với lư do an ninh); Hoặc là tại những trại lính hay căn cứ quân sự với h́nh ảnh các đội quân đứng xếp hàng nghiêm chỉnh trong các màn dàn chào uy nghiêm và hào hùng (v́ kỷ luật quân đội không cho phép các quân nhân có thái độ khiếm nhă hay vô lễ với cấp trên, nhất là người đó lại là cấp trên cao nhất là tổng thống, kiêm chức tổng tư lệnh quân đội). Mục đích là để tạo ra những h́nh ảnh thật đẹp qua ống kính truyền h́nh cho thấy một lănh tụ được mọi người vỗ tay khen thưởng. Nhược bằng đến một nơi nào mà có số người chỉ trích la ó, hay ném cà chua trứng thối để phản đối, th́ sẽ tạo nên một h́nh ảnh bất lợi của một lănh tụ bị quần chúng chống đối. Cho đến nay, chưa bao giờ TT Bush thực sự dám mạo hiểm xuất hiện ở những nơi công cộng mà không có sự dàn dựng để biết chắc rằng không có thành phần chống đối trong số các khán giả, cũng như chưa bao giờ dám thoải mái mời tất cả các phóng viên và kư giả thuộc mọi khuynh hướng được tự do đặt những câu hỏi trong các cuộc họp báo.

Trong cuộc tranh luận về chủ đề lợi và hại của việc rút quân Mỹ ra khỏi Iraq, các lập luận của hai bên đưa ra thật ra cũng không có ǵ mới mẻ, v́ cũng đă được nhiều người nghe và nói đến khá nhiều trong thời gian qua. Phía ủng hộ hành pháp Bush th́ lập lại những luận điệu cố hữu như: cần phải kiên tŕ dẹp tan quân phiến loạn tại Iraq thay v́ để cho chúng lớn mạnh và sẽ t́m cách tấn công vào nội địa Hoa Kỳ trong tương lai; cần phải ở lại để huấn luyện và giúp đỡ cho quân đội Iraq được lớn mạnh để tự bảo vệ trước khi rút lui quân Mỹ; việc rút quân Mỹ ra khỏi Iraq có thể tạo nên một t́nh trạng hỗn loạn to lớn và nguy hiểm hơn nữa sẽ xảy ra v.v. . . Phía chống đối th́ cho rằng cuộc chiến này đă được dàn dựng với những lư do thiếu chính đáng và mất chính nghĩa, lại được thực hiện bởi những đầu óc đầu ngạo mạn nhưng lại quá bất tài, khiến cho sự thiệt hại về nhân mạng (gần 3300 quân nhân Mỹ bỏ mạng) và tài vật (hơn 500 tỷ Mỹ-kim bị tốn hao một cách vô ích) trong khi ngân sách quốc gia càng ngày càng bị thâm thủng và uy tín của Hoa Kỳ bị sút giảm thê thảm trên trường quốc tế.

Hai bên cũng đều đưa ra những h́nh ảnh đầy biểu tượng để biện minh cho lập luận của ḿnh hay tấn công đối phương. Phía ủng hộ th́ nói rằng rút quân là đồng nghĩa với hành động đâm sau lưng chiến sĩ, nối giáo cho giặc, đầu hàng quân khủng bố v.v. mà các lănh tụ phe Dân Chủ luôn có chủ trương yếu hèn như vậy. Phe chống đối th́ cho rằng t́nh thế hiện nay cho thấy một sự sa lầy (quagmire) của quân đội Mỹ, không t́m ra một lối thoát khả quan, và nguy hiểm hơn nữa là càng quậy mạnh chừng nào th́ chỉ sớm lún sâu hơn chừng nấy. Và một khi đă biết là đánh không thắng, hay không c̣n có triển vọng để thắng nữa th́ tốt nhất là phải thay đổi chiến lược, t́m một đường hướng mới chứ không thể ngoan cố tiếp tục «kiên định lập trường» (stay the course).

Kẻ viết bài này cũng gọi vào góp ư, nhưng với mục đích muốn đóng góp một số dữ kiện thu lượm được khá lư thú hầu giúp cho mọi người có được nhiều thông tin khách quan và đầy đủ, để từ đó có thể hiểu rơ hơn trước những lời tranh luận đối nghịch của đôi bên. Đầu tiên là bản tin liên quan đến nữ kư giả kỳ cựu của đài truyền h́nh NBC, bà Andrea Mitchell, xuất hiện trên chương tŕnh «Chris Matthews Show» vào Chủ Nhật đầu tháng Tư và qua hôm sau trên chương tŕnh «Hardball» vào ngày thứ Hai 02/04, đă tiết lộ là trong một buổi tường tŕnh đặc biệt với các lănh tụ dân cử, Đại tướng David Petraeus, tân tư lệnh lực lượng liên quân tại Iraq, đă hứa hẹn là sẽ có những kết quả tiến bộ vào tháng Tám sắp tới. Đây là một cuộc tường tŕnh kín qua hệ thống video (closed circuit briefing) thu h́nh các tướng lănh ở bộ tư lệnh tại chiến trường Iraq báo cáo trực tiếp về Ngũ Giác Đài ở thủ đô Hoa Thịnh Đốn để cho tổng thống hay các lănh tụ dân cử có thể nghe và chất vấn được. Nên nhớ là trong guồng máy chính quyền ở Hoa Kỳ, ngành lập pháp cũng có nhiều thẩm quyền trên tất cả các ngành kể cả quân đội chứ không phải chỉ có tổng thống và các vị tổng trưởng là có toàn quyền. Thứ nhất là quyền chuẩn chi, tức là Quốc Hội nắm hầu bao của tất cả mọi ngành trong chính quyền, nếu như Quốc Hội không đồng ư và không tháo khoán ngân sách cho một ngành nào th́ coi như khoá sổ ngành đó. Kế đến là quyền kiểm soát (oversight) tức là thanh tra, có quyền đ̣i hỏi các phủ, bộ phải báo cáo mọi việc làm để ngăn chặn những hành động lạm quyền hay sai trái. Đặc biệt là trên Thượng Viện c̣n có nhiều quyền hành rộng răi hơn nữa, kể cả việc phê chuẩn các viên chức cao cấp do hành pháp lựa chọn như tướng lănh, đại sứ hay thẩm phán, biện lư liên bang v.v. . . Do đó ít có viên chức nào muốn làm phật ḷng các ông bà nghị sĩ tại Thượng Viện.

Trong cuộc họp tường tŕnh này, sau khi được Tướng Petraeus đưa ra những lời hứa hẹn, các vị nghị sĩ phe Cộng Hoà đă đáp trả một cách thẳng thừng rằng, đại để như sau: « Anh liệu mà đưa ra những kết quả tiến bộ khả quan, bằng không th́ chúng tôi cũng t́m cách dọt ra khỏi nơi này vào đầu tháng 9. » Kư giả Mitchell kể rằng trong chốn riêng tư, các vị nghị sĩ Cộng Hoà đều không tin tưởng vào cái gọi là «kế hoạch tăng quân» (surge) của TT Bush nhưng họ vẫn bỏ phiếu ủng hộ, một phần v́ muốn tỏ ra nể trọng vị tướng tân tư lệnh chiến trường (vừa mới được bổ nhiệm), và phần khác muốn giành cho Tướng Petraeus và TT Bush một cơ hội cuối cùng để đem lại thành quả, trễ lắm là vào cuối mùa hè này. Nói một cách khác, các vị nghị sĩ Cộng Hoà này đă không thành thật với cử tri của họ, ngoài mặt bỏ phiếu ủng hộ, nhưng thâm tâm lại chống đối v́ không c̣n tin tưởng nữa vào kế hoạch của TT Bush. Nhưng họ chỉ có thể chịu đựng đến đầu tháng 9, dịp Lễ Lao Động, và nếu chừng đó mà mọi sự vẫn như cũ, không có dấu hiệu khả quan rơ rệt th́ họ sẽ buông tay thẳng thừng. Mà kết quả khả quan rơ rệt, theo định nghĩa của các vị dân cử Cộng Hoà này, là không c̣n t́nh trạng bạo động và bất an nữa tại Iraq, và không c̣n lính Mỹ tiếp tục bị hy sinh nữa.

Tưởng cũng nên biết rằng ngày Lễ Lao Động thường đánh dấu một sự chuyển động mạnh trong chính trường Hoa Kỳ. Nếu là năm có bầu cử (như 2008), nó là dấu mốc báo hiệu thời điểm chạy nước rút cuối cùng (stretch run) để về đến đích là ngày bầu cử vào đầu tháng 11. Nếu là năm lẻ (như năm 2007), nó đánh dấu giai đoạn chuyển hướng để chú tâm vào các cuộc bầu cử sơ bộ trong nội bộ của mỗi đảng để mong được trở thành ứng viên chính thức. Đặc biệt năm nay, nó là dịp để cho các ứng viên Cộng Hoà t́m cách đánh bóng ḿnh để mong giành lấy cái ghế ở Toà Bạch Ốc cũng như giành lại quyền đa số ở Quốc Hội. Theo hầu hết các chuyên gia nhận định, và các vị dân cử Cộng Hoà đều có cùng kết luận, là trừ phi t́nh h́nh tại Iraq biến đổi một cách đột ngột đầy khả quan như có một phép mầu, con số cử tri Hoa Kỳ không c̣n tin tưởng hay hy vọng vào cuộc chiến Iraq sẽ càng ngày càng gia tăng. Và như thế, có lẽ hầu hết các ứng viên sẽ t́m cách vỗ ngực để nói rằng ḿnh cũng đă từng lên tiếng chống đối chính sách điều quân của TT Bush.

Thật ra th́ điều này đă xảy ra từ kết quả vụ bầu cử năm 2006, khi mà đa số dân chúng đă hết hy vọng về cuộc chiến Iraq và bỏ phiếu chống lại phe Cộng Hoà và TT Bush. Trong cuộc bầu cử năm 2008, các ứng viên Cộng Hoà đang vận động tranh cử vào các chức vụ dân biểu và nghị sĩ chắc chắn sẽ không c̣n ai dám lên tiếng ủng hộ giải pháp tiếp tục chiến tranh nữa. Và điều này giải thích tại sao nghị sĩ John McCain, trước đây từng được đánh giá là ứng viên hàng đầu của phe Cộng Hoà trong cuộc chạy đua chức tổng thống, giờ đây đă tụt xuống hạng ba sau hai ông Mitt Romney và Rudy Giuliani. Chẳng trách sao mà ông McCain đă không ngần ngại và nhanh chóng lên tiếng xin lỗi mọi người về lời nói hớ hênh của ông (khi cho rằng t́nh h́nh tại Iraq đă tiến triển tốt đẹp mà không được báo giới tường thuật đầy đủ) sau khi dẫn một phái đoàn đến thanh tra tại đây. Chỉ nội h́nh ảnh ông phải mặc áo giáp để hộ thân khi muốn đi tới viếng thăm một khu chợ tại thủ đô Baghdad cũng đủ minh chứng về t́nh h́nh gọi là «tiến triển tốt đẹp» tại đây. Ấy là chưa nói đến việc, theo lời của nhiều phóng viên thuật lại lời kể nhiều chua chát của người dân Iraq, nếu như t́nh h́nh tại thủ đô Baghdad rất an ninh, tại sao mỗi khi ông di chuyển, phải có nhiều toán trực thăng chiến đấu bay vần vũ trên trời để làm một màn bảo vệ an ninh, cùng với một hơn đại đội lính Mỹ đi theo hầu để hộ vệ cho ông? Cho nên ông McCain đă vội vàng xin lỗi trong cuộc phỏng vấn trên chương tŕnh «60 Minutes», thú nhận rằng ông đă không nói đúng sự thật khi cho rằng t́nh h́nh tại Iraq đă an ninh hơn.

Lời tiết lộ của kư giả Andrea Mitchell thật ra không gây ngạc nhiên chấn động nhiều v́ mọi người gần như đă chấp nhận cái kết luận tất nhiên của nó, cho dù là trên mặt chính thức phe Cộng Hoà không thể nào làm bẽ mặt TT Bush quá lộ liễu, ngoại trừ khi quyền lợi sinh tử của các vị dân cử Cộng Hoà có thể bị tiêu tan trước ngày bầu cử. Thật ra các vị dân cử, dù là theo Cộng Hoà hay Dân Chủ, cũng đều phản ảnh quan điểm của đa số cử tri mà họ đại diện. Trong bối cảnh năm 2002, cho dù không biết rơ về mối nguy của chế độ Saddam Hussein hay nghi ngờ về mưu đồ của chính quyền Bush, đa số các vị dân cử phe Dân Chủ cũng không dám lên tiếng chống đối mà phải hùa theo, cùng kư tên cho phép hành pháp Bush được quyền tấn công Iraq. Và ngày nay th́ t́nh thế đă đổi khác, đa số cử tri Mỹ đă hết c̣n tin tưởng vào một tương lai sáng sủa tại Iraq, nên đă quyết định rút lui v́ không muốn thấy con em của họ tiếp tục bị hy sinh trên một vùng đất xa lạ, trở thành nạn nhân của một cuộc nội chiến đẫm máu của hai sắc dân Hồi giáo Sunni và Shiite. Chính quan điểm đổi chiều của cử tri đă khiến cho các vị dân cử phe Dân Chủ không c̣n ngần ngại khi lên tiếng chỉ trích chính quyền Bush về cuộc chiến Iraq mà không sợ bị cử tri bất tín nhiệm.

Thành ra khi bàn đến chuyện rút lui hay không quân đội Mỹ ra khỏi chiến trường Iraq, chúng ta nên nh́n dưới lăng kính của người Mỹ nói chung chứ không nên lầm tưởng vào cái «huyền thoại» (myth) là «Cộng Hoà cứng rắn, Dân Chủ mềm yếu» mà bộ máy tuyên truyền của phe Cộng Hoà đă t́m cách duy tŕ măi. Chẳng thế mà một uỷ ban lưỡng đảng có tên là «Nhóm Nghiên Cứu Iraq» (Iraq Study Group) do hai ông Jim Baker và Lee Hamilton đồng chủ toạ và quy tụ những tên tuổi uy tín trong chính trường Hoa Kỳ bao gồm 5 thành viên Dân Chủ và 5 thành viên Cộng Hoà, vào đầu năm nay đă đưa ra một loạt những đề nghị lên TT Bush để giải quyết hồ sơ Iraq, trong đó có việc khuyến khích nên rút quân ra khỏi Iraq, trễ lắm là vào năm 2008.

Cái huyền thoại sai lầm «Cộng Hoà cứng rắn, Dân Chủ mềm yếu» có lẽ cũng tương tự như cái cliché cũ rích «Cộng Hoà chống Cộng, Dân Chủ phản chiến» mà nhiều người Việt cao niên vẫn c̣n lầm lẫn, cũng như tiếp tục bị nhiều chính trị gia dụ dỗ. V́ hậu quả tai hại của việc Hoa Kỳ bỏ rơi miền Nam Việt Nam sau khi bắt tay được với Trung Cộng vào năm 1972 để đạt được thế chia ba hầu kềm giữ đối thủ Liên Sô, một số người Việt vẫn c̣n tin rằng đó là việc làm tắc trách của Quốc Hội Mỹ (mà đa số phe Dân Chủ) chỉ đ̣i rút quân và cắt đứt viện trợ cho Việt Nam Cộng Hoà và trói tay hành pháp Mỹ dưới thời Nixon và Ford.

Khách quan mà nói, chính TT Johnson của đảng Dân Chủ, vào giữa thập niên 60, khi biết rằng chính quyền quân đội tại Sàig̣n vẫn chỉ lo tranh giành quyền bính qua các cuộc đảo chính thay v́ chú tâm đề pḥng trước sự xâm nhập lớn mạnh của Cộng sản Bắc Việt, nên đă quyết định gia tăng con số khổng lồ cả nửa triệu binh sĩ Mỹ đến tham chiến tại Việt Nam để giữ cho tiền đồn chống Cộng này khỏi rơi vào tay kẻ thù phương bắc cho dù biết rằng điều này sẽ gây tốn kém cho ngân quỹ của nhà nước cũng như sẽ tạo sự chống đối của dân chúng Mỹ. Hành động can đảm của ông Johnson đă mang lại một kết quả thất vọng cho chính cá nhân ông sau đó, là phải quyết định không ra tái tranh cử vào năm 1968 v́ chính sách đưa quân tham chiến của ḿnh đă gây chia rẽ trầm trọng trong dân chúng Hoa Kỳ. Và ngay cả ông Nixon, khi ra tranh cử tổng thống vào năm 1968, cũng đă đưa ra lời hứa hẹn là sẽ t́m cách rút quân Mỹ khỏi Việt Nam, và rồi cuối cùng cũng thực hiện xong lời hứa này, dưới chiêu bài «Việt-Nam-hoá chiến tranh» vào đầu năm 1973. Quyết định bỏ rơi VNCH cho dù có tàn nhẫn cho thân phận của miền Nam nhược tiểu này, cũng chỉ phản ảnh quan điểm ích kỷ hiển nhiên của đa số dân chúng Mỹ, mà nếu tự đặt ḿnh trong trường hợp đó, có thể chúng ta cũng sẽ có cùng quan điểm như vậy. Thử tưởng tượng nếu như chế độ quân dịch (draft) c̣n hiện hữu ngày nay khiến cho tất cả các thanh niên trên 18 tuổi đều phải bị nhập ngũ để ra chiến trường Iraq (như chuyện đă xảy ra tại Hoa Kỳ 40 năm về trước), và đa số con em chúng ta, người Mỹ gốc Việt, đều phải lên đường ra chiến trận và có thể bỏ mạng tại một vùng đất xa lạ, khác phong tục và văn hoá, thay v́ có cuộc sống êm ấm và thoải mái tại nội địa nước Mỹ, liệu các gia đ́nh người Việt có t́m cách cho con em trốn sang Gia Nă Đại (Canada) hay Âu Châu để khỏi phải bị bắt đi lính hay không? Và liệu lúc đó tỉ lệ người Mỹ gốc Việt chống chiến tranh Iraq có lên cao hay không? Hỏi tức là trả lời.

Hơn nữa, nếu chịu khó đọc kỹ lại tài liệu, chúng ta sẽ thấy rằng quyết định bỏ rơi miền Nam Việt Nam đă được thực hiện từ lâu mà các vị lănh tụ hay đại diện của VNCH đều thiếu sáng suốt và hiểu biết để nh́n thấy và có phản ứng kịp thời. Thật vậy, việc bỏ rơi đồng minh Việt Nam với quyêát định chấm dứt can thiệp vào cuộc chiến, đă được thể hiện qua một đạo luật, gọi là Case-Church Amendment dựa theo tên của 2 vị nghị sĩ Mỹ thời đó, được thông qua vào ngày 19 tháng 6 năm 1973, trong đó nói rơ quyết định cấm chính quyền Mỹ can thiệp quân sự tại Đông Nam Á nếu như không có sự ưng thuận của Quốc Hội, bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 8 năm 1973. Đạo luật này có nghĩa là TT Mỹ đă không c̣n quyền quyết định để điều hành về cuộc chiến tại Việt Nam nữa, và đă được thông qua với một tỉ lệ đa số áp đảo 278-124 tại Hạ Viện, và 64-26 tại Thượng Viện. Nghĩa là ngay cả như Tổng thống muốn phủ quyết (veto) th́ Quốc Hội cũng dư túc số để bỏ phiếu để vượt qua (override) một lần nữa. Trong số các dân biểu và nghị sĩ bỏ phiếu thông qua, cho dù đa số thuộc phe Dân Chủ, nhưng vẫn có khá nhiều các vị phe Cộng Hoà ủng hộ nên mới đạt được tỉ lệ áp đảo để có thể vượt qua quyền phủ quyết này của TT. Nếu hiểu ra điều này đúng nghĩa và đúng lúc th́ có lẽ các viên chức cao cấp của VNCH thời ấy như quư ông tổng trưởng kế hoạch N. T. H. (Nguyễn Tiến Hưng), đại sứ tại Mỹ B. D. (Bùi Diễm), bí thư phụ tá tổng thống H. Đ. N. (Hoàng Đức Nhă), những người thường được đánh giá như là những chuyên viên rành rơi về nội t́nh Hoa Kỳ, đă phải gióng lên tiếng chuông báo động cho toàn thể quân dân và chính phủ miền Nam lúc bấy giờ biết tin để mà liệu đường xoay xở hay t́m phương cứu văn, chứ không phải chỉ ngồi im để cho một ḿnh ông tổng thống Thiệu ngây thơ tin tưởng vào những lời hứa hẹn bảo vệ trên những lá thư riêng của TT Nixon và cứ tưởng như là những lá bùa hộ mệnh hữu hiệu, để rồi cuối cùng lại quay ra trách cứ là bị đồng minh phản bội và bỏ rơi (như đă kể lại trong cuốn sách ăn khách Khi Đồng Minh Tháo Chạy).

Giới cầm quyền thời Đệ Nhị Cộng Hoà thường tự tin vào sự ủng hộ đắc lực của TT Nixon (đảng Cộng Hoà) nhưng chính phụ tá của ông là Henry Kissinger đă đi đêm với Lê Đức Thọ để thành h́nh Hiệp Định Paris vào đầu năm 1973 hầu dọn đường tháo lui của quân đội Mỹ khỏi VN sau khi đă bắt tay được với Trung Cộng và không c̣n sợ đến ảnh hưởng toàn thắng của Liên Sô ở Á Châu. Hành động phản bội này của ông Kissinger và đảng Cộng Hoà, dẫn đến cuộc di tản đau thương vào ngày 30 tháng 4 oan nghiệt sau đó không lâu, nhiều người vẫn c̣n biện minh cho rằng v́ có sự chống đối của các dân biểu và nghị sĩ thuộc phe đa số Dân Chủ thời bấy giờ. Ai cũng biết, việc điều hành chiến tranh và đối ngoại thuộc về đặc quyền của ngành hành pháp, chính quyền Mỹ và Ngũ Giác Đài đă dọn đường sẵn cho cuộc tháo chạy này cả năm trời trước đó khi cho dựng sẵn từ trước các trại lều tiếp cư ở đảo Guam để đón tiếp số lượng di dân tị nạn đông đảo vào mùa hè năm 1975.

Nếu như chuyện quá khứ chưa đủ sức thuyết phục th́ những diễn biến gần đây cũng đủ chứng minh cho cái điệp khúc «Cộng Hoà chống Cộng» đă hoàn toàn tan vỡ. Trong bài diễn văn nhậm chức ở đầu nhiệm kỳ hai vào năm 2005, TT Bush đă hùng hồn đề cao lư tưởng tự do dân chủ và c̣n long trọng tuyên hứa rằng nơi nào người dân đứng lên chống lại áp bức của bạo quyền, nơi đó sẽ có sự hỗ trợ của Hoa Kỳ. Những ai thích ông Bush th́ dĩ nhiên t́m cách ca tụng bài diễn văn này. Thế nhưng thực tế đă xảy ra hoàn toàn trái ngược, TT Bush và chính phủ Mỹ cũng sẵn sàng thoả hiệp với những chính phủ độc tài tại Trung Đông và nhiều nơi khác nhau, cũng như làm ngơ trước những vi phạm nhân quyền của các chế độ này, miễn là họ chịu hợp tác với Mỹ trong cái gọi là liên minh chống khủng bố. Và điều làm cho tập thể người Việt bất măn nhất, có lẽ là quyết định của chính quyền Bush rút tên Việt Nam ra khỏi danh sách các nước cần quan tâm (CPC) để làm quà chuẩn bị cho chuyến công du của TT Bush trong hội nghị APEC tổ chức tại Hà Nội vào cuối năm ngoái. Để rồi trong chuyến viếng thăm này, ông Bush đă không hề đả động ǵ đến những từ ngữ tự do và dân chủ, làm ngơ trước việc đàn áp các tiếng nói đấu tranh ở quốc nội đang bị bộ máy công an kềm kẹp gắt gao. Sự trở mặt và giả dối đầy thất vọng này đă khiến cho Hoà Thượng Thích Quảng Độ, một tiếng nói đấu tranh cho tự do và nhân quyền được nể trọng khắp nơi trên thế giới, cuối cùng cũng phải lên tiếng chỉ trích hành động phản bội của TT Bush và chính phủ Mỹ về những lư tưởng cao đẹp mà chính họ đă huyênh hoang đề ra trước đó không lâu.Tưởng cũng nên nhắc lại là trong kỳ bầu cử năm 2004, những lời tuyên bố của TT Bush đă tạo ra một sự chấn động trong ḷng khối người Việt quốc gia.

Đó là trong cuộc phỏng vấn với kư giả Bill O'Reilly trên đài truyền h́nh Fox News theo khuynh hướng bảo thủ thiên hữu, ông Bush phấn khởi nói về sự quyết tâm đấu tranh cho dân chủ, tự do của nhân dân A Phú Hăn trong cuộc bầu cử toàn quốc. Nhưng khi được hỏi để so sánh là phải chăng v́ người dân miền Nam Việt Nam trước đây không chịu đấu tranh cho tự do của họ cho nên ngày nay không có tự do hay không, TT Bush đă trả lời gọn lỏn "Yes". Sau đó ông nói tiếp rằng ông tin chắc chắn rằng (absolutely) dân Iraq sẽ chiến đấu cho lư tưởng tự do của họ. Nói một cách khác, ông Bush muốn cho thấy nhiệm vụ thiêng liêng của người Mỹ là ở lại giúp dân Iraq chiến đấu cho tự do v́ đó là ước muốn cao cả của họ. Ông muốn so sánh ví dụ là dân miền Nam VN trước đây không chịu chiến đấu cho tự do của họ nên Mỹ mới rút khỏi VN. C̣n bây giờ, dân Iraq đang tranh đấu cho tự do của ḿnh nên chính quyền của ông cần phải ở lại để giúp cho dân Iraq đạt được lư tưởûng này.

Lời nói của TT Bush, giống như lời phát ngôn của tổng trưởng quốc pḥng Donald Rumsfeld trước đó không lâu, cũng tai hại đớn đau cho sự đấu tranh hy sinh của hàng triệu quân dân cán chính VNCH trong cuộc chiến vừa qua. Trong một cuộc phỏng vấn trên chương tŕnh Hardball của đài MSNBC vào ngày 29-04-2004 do nhà báo Chris Matthews chủ tŕ, khi được hỏi so sánh giữa Iraq ngày nay và VN lúc trước, ông Rumsfeld, một viên chức chính quyền cao cấp của ông Bush thời bấy giờ, nổi tiếng với những lời lẽ và hành động xem thường các đồng minh lâu đời như Pháp và Đức, cũng đă không tha đồng minh nhỏ bé cũ của ḿnh là VNCH với câu trả lời như sau: "Ở VN (hồi đó) anh thấy là có một thành phần có tinh thần quốc gia dân tộc cao độ ở miền bắc, rồi bọn Việt Cộng cũng là một thành phần đáng kể trong t́nh thế bấy giờ. . . Rồi anh lại thấy là chúng ta có một chính quyền (VNCH) không được ḷng dân ở miền Nam. Cái chính phủ miền Nam này chẳng có hiến pháp, chẳng có bầu cử ǵ cả. Đối với đại đa số người Việt, họ bị coi là một thứ chính phủ bù nh́n."

Ngoài sự hiểu biết ấu trĩ, ngu xuẩn hoặc chẳng thèm đếm xỉa ǵ đến sự thật của các chính trị gia Mỹ kiểu ông Rumsfeld hay TT Bush với những lời phát biểu hay nhận định như trên, những lời nói đó c̣n là một vết dao đâm thấu tim can của khối quân dân cán chính VNCH đă sinh sống và tranh đấu, hy sinh trên chiến trường cũng như bỏ mạng trong ḷng biển sâu trên đường mưu t́m tự do, mặc dù họ thường bị bó tay hay chèn ép bởi đồng minh khổng lồ nhưng thiếu chân thật và sẵn ḷng phản bội là Hoa Kỳ. Do đó, việc lựa chọn hay ủng hộ theo phe Dân Chủ hay Cộng Hoà cần phải được cân nhắc kỹ lưỡng hơn tuỳ theo quyền lợi của mỗi cá nhân, và cũng áp dụng khác nhau ở từng thời điểm và địa phương riêng biệt chứ không thể áp dụng một cách nhất quán, và mù quáng tin vào cái luận điệu cũ rích “Cộng Hoà chống Cộng, Dân Chủ phản chiến” đă hoàn toàn sai bét.

Trở về với chuyện tranh luận về lợi hay hại của việc rút quân Mỹ ra khỏi Iraq, có lẽ tinh thần chia rẽ trầm trọng trong hai khối Dân Chủ và Cộng Hoà đă khiến cho đa số của mỗi bên đều cố giữ vững lập trường của ḿnh, tức là cử tri Dân Chủ hoàn toàn bất tín nhiệm TT Bush nên càng muốn thay đổi hay chấm dứt chính sách chiến tranh của Hoa Kỳ hiện nay; và cử tri Cộng Hoà th́ vẫn tiếp tục ủng hộ chính sách này, cho dù rằng mức đa số bên Dân Chủ càng ngày càng tăng cao, trong khi tỉ lệ đa số bên Cộng Hoà càng ngày càng tụt dần. Tuy nhiên, một ư kiến chuyên môn cũng cần được lắng nghe, v́ nó giúp cho ta nh́n rơ được vấn đề dưới nhiều khía cạnh khác nhau mà không bị ảnh hưởng bởi tính thiên vị theo đảng phái. Đó là nhận định của ông William Odom, qua một bài viết đăng trên tờ Washington Post ngày 11/02. Ông Odom là một chuyên viên theo kiểu văn vơ song toàn, đă phục vụ trong quân đội và lên đến cấp bậc trung tướng, tốt nghiệp tiến sĩ tại trường Đại học Columbia, hiện giảng dạy tại trường Đại học Yale và cũng là một chuyên gia nghiên cứu của Viện Hudson. Ông đă từng nắm những chức vụ quan trọng như Cục trưởng Cục An Ninh Lục Quân Mỹ, Giám đốc Cơ quan Thu thập T́nh báo NSA dưới thời TT Reagan.

Bài viết của ông tướng hồi hưu Odom có tựa đề là “Victory Is Not An Option” (Chiến thắng Không c̣n là một chọn lựa khả thi nữa). Theo ông, có bốn lập luận đầy huyền thoại biện minh cho việc tiếp tục cuộc chiến mà chúng ta cần phải t́m hiểu và phân tích kỹ lưỡng để thấy v́ sao cần phải dứt bỏ nó:

1. Chúng ta phải tiếp tục cuộc chiến này để ngăn chặn cho t́nh h́nh tồi tệ không xảy ra nếu như quân đội Mỹ rút quân ra khỏi Iraq bây giờ. Lập luận này đầy mâu thuẫn: Hoa Kỳ đang chiến đấu để ngăn chặn một t́nh huống mà tự nó đă được tạo ra do cuộc tấn công của quân đội Mỹ. Trước sau ǵ th́ t́nh h́nh tại Iraq cũng sẽ hỗn loạn, một sự hỗn loạn do chính Hoa Kỳ tạo ra, và càng ngày càng tệ hơn nếu như quân đội Mỹ tiếp tục có mặt tại đây. Nhiều chính trị gia thích lên tiếng rằng họ lo sơ việc rút quân Mỹ sẽ tạo ra một t́nh trạng hỗn loạn, nhưng thật ra theo ông Odom, th́ cái t́nh trạng đó đă hiện hữu từ lâu rồi tại Iraq, v́ thế nên nói chuyện ngăn chặn cho nó đừng xảy ra (bằng cách để cho quân Mỹ tiếp tục chiếm đóng tại Iraq) tự nó đă là một nhận định hoang tưởng và thiếu thực tế.

2. Chúng ta phải tiếp tục cuộc chiến này để ngăn chặn không cho ảnh hưởng của Ba Tư (Iran) mỗi ngày lớn mạnh hơn tại Iraq. Đây cũng là một nghịch lư khác v́ một trong mục tiêu của cuộc chiến do TT Bush chủ xướng lúc ban đầu là nhằm thiết lập một thể chế dân chủ tại Iraq. Điều này dẫn đến việc đa số dân Shiite tại Iraq sẽ nắm thế thượng phong, giành lại quyền hành từ phía Sunni thuộc thiểu số dưới thời Saddam Hussein. Mà dân Shiite tại Iraq lại vốn gần gũi hơn với Iran, một số lớn các giáo sĩ Shiite đă được Iran giúp đỡ trong lúc tị nạn trong thời kỳ bị đàn áp bởi chế độ Saddam. Do đó, ảnh hưởng của Iran chắc chắn phải lớn mạnh ở Iraq một khi chế độ Saddam bị lật đổ. Chẳng lẽ mọi người lại quên rằng Saddam là kẻ thù của chế độ thần quyền ở Iran trong cuộc chiến đẫm máu giữa hai nước kéo dài 8 năm (1980-1988) mà Hoa Kỳ và các nước Ả Rập Sunni trong vùng đều ủng hộ mạnh mẽ và tiếp sức cho Iraq. Và do đó việc tiếp tục ở lại Iraq không thể nào ngăn chặn được sự lớn mạnh về ảnh hưởng của Iran, bởi v́ điều này đă tự nó là hậu quả đầu tiên của phát súng lệnh đổ bộ lính Mỹ lên Iraq.

3. Chúng ta phải tiếp tục cuộc chiến này để ngăn chặn không cho tổ chức khủng bố al-Qaeda có thể dùng Iraq làm một sào huyệt trú ẩn. Điều này cũng lại là một nghịch lư với quyết định tấn công Iraq lúc ban đầu. Dưới thời Saddam, al-Qaeda không thể nào hoạt động tại đây, và chỉ sau khi quân đội Mỹ tiến chiếm Iraq th́ các toán thánh chiến khắp nơi mới đổ xô về đây để tiếp tục lăn ḿnh vào những vụ nổ bom cảm tử. Việc al-Qaeda hiện hữu nhiều hơn ở những vùng có đông dân Sunni cũng không thay đổi hệ quả này, cho dù là hai bên (al Qaeda và phe Sunni) đều có chung kẻ thù là phe Shiite và Hoa Kỳ. Nếu như ba phe Sunni, Shiite và Kurd có thể đi đến một giải pháp chính trị sau này để giải quyết ổn thoả cuộc nội chiến, liệu họ có cùng đoàn kết để chống lại những thành phần quá khích của al Qaeda (thuộc các quốc gia khác xâm nhập vào Iraq) hay không, hiện nay khó ai có thể đưa ra câu trả lời chính xác. Tuy nhiên, điều mọi người có thể nh́n thấy là ngày nào c̣n có sự hiện diện của lính Mỹ ở Iraq, th́ sự căm thù lính Mỹ sẽ là chất keo giúp cho các thành phần quá khích cùng hợp tác và giúp cho al Qaeda càng lớn mạnh.

4. Chúng ta phải tiếp tục cuộc chiến này để hỗ trợ cho các quân nhân Mỹ đă hy sinh xương máu tại đây. Chính lập luận này đă khiến cho nhiều nhà dân cử, tuy nh́n thấy cái hậu quả tệ hại của chính sách tiếp tục duy tŕ cuộc chiến, cũng không dám dứt khoát về việc rút quân ngay lập tức v́ không muốn bị mang tiếng là bỏ rơi các quân nhân Hoa Kỳ. Thật ra đă có ai hỏi thăm ư kiến của đa số các quân nhân Mỹ để biết họ đang thực sự nghĩ như thế nào? Có lẽ trong thời gian đầu của cuộc chiến, phần đông đều tin tưởng là sự hiện hữu của ḿnh sẽ đem lại một kết quả tốt đẹp. Thế nhưng sau khi đă bị trưng dụng để trở lại chiến trường một lần thứ hai, rồi lần thứ ba, và rồi đến lần thứ tư nữa, th́ chắc chắn là tâm lư của những chiến binh này đă bắt đầu bị giao động. Hơn nữa, việc hỗ trợ quân nhân Mỹ không có nghĩa là tiếp tục chi tiền ra để cho họ tiếp tục hy sinh tại chiến trường khốc liệt và dai dẳng này. Việc kêu gọi rút quân ra khỏi Iraq không phải là một hành động đâm sau lưng chiến sĩ, v́ nó có thể giúp cho nhiều sinh mạng binh lính khỏi phải tiếp tục bị hy sinh một cách hoang phí, mà thay vào đó có thể được điều động đến những nơi khác cần thiết cho chiến dịch chống khủng bố toàn cầu, như tại chiến trường A Phú Hăn (Afghanistan), vùng giáp ranh với Hồi Quốc (Pakistan), nơi mà phe Taliban đang dần dần phục hồi lại thế lực và có cơ nguy trở thành một mối nguy to lớn cho quyền lợi của Hoa Kỳ trong vùng.

Để kết luận, theo ông Odom, chúng ta cần phải sớm nhận thức rằng việc tiếp tục cuộc chiến hiện nay chỉ càng ngày càng gia tăng con số quân nhân Mỹ thiệt mạng hay thương vong, cũng như không giúp tạo điều kiện cho một chiến lược mới. Việc Hoa Kỳ rút quân ra khỏi Iraq sẽ là điều kiện tiên quyết, nó sẽ khiến cho nhiều kẻ thù của Mỹ sẽ không c̣n cơ hội để ngồi hưởng lợi trước sự tốn hao và tiêu ṃn của quân đội Mỹ. Nó cũng sẽ khiến cho nhiều quốc gia Âu Châu c̣n lưng chừng sẽ ư thức mức nguy hại cho quyền lợi và nền an ninh của chính quốc gia họ một khi Hoa Kỳ rút quân ra khỏi đây, để từ đó sẽ thực sự cùng hợp tác để giải quyết hồ sơ Iraq cũng như cho cả vùng Trung Đông.