|
Lợi
Và Hại Việc Rút Quân Mỹ Ra Khỏi Iraq
Houston, Texas 15/04/2007
©Vietnam Review
Trong tuần qua, một cuộc tranh
luận lư thú đă diễn ra trên diễn đàn truyền thanh, trong một
chương tŕnh trên đài Tiếng Nước Tôi tại Houston có tên là Diễn
Đàn Tự Do. Chủ đề chính là bàn về lợi hay hại của chủ trương rút
quân Mỹ ra khỏi chiến trường Iraq, vốn tự nó đă là một đề tài
lớn chiếm sự quan tâm của chính giới và người dân Hoa Kỳ trong
thời gian qua. Các diễn giả chính được ông Hoàng Bách, người
điều khiển chương tŕnh, giới thiệu là ông Lê Phát Minh, cựu chủ
tịch Ban Chấp hành trung ương Liên Minh Dân Chủ và hai người trẻ
là luật sư Steven Điêu, một thành viên của đảng Cộng Hoà tại
Sugarland, ngoại ô Houston, nhưng đồng thời cũng là đại diện cho
dân biểu tiểu bang Hubert Vơ của đảng Dân Chủ, và anh Tạ Khôi,
phụ tá của dân biểu liên bang Loretta Sanchez tại Quận Cam,
California. Diễn giả đầu tiên được coi như là người ủng hộ chính
sách của hành pháp Bush, chủ trương tiếp tục đồn trú tại Iraq
cho đến khi t́nh h́nh sáng sủa hơn, nhưng hai diễn giả sau đại
diện cho tiếng nói ngược lại, chủ trương cần phải rút quân Mỹ ra
khỏi Iraq v́ sự thất bại cũng như cái giá quá đắt về nhân mạng
và tiền của cho cuộc chiến này từ hơn bốn năm qua.
Khách quan mà
nói, h́nh thức tranh luận công khai kiểu này là sinh hoạt truyền
thông dân chủ và công bằng nhất, giúp cho khán thính giả được
nghe hai quan điểm đối chọi được cất lên cùng một thời điểm trên
một diễn đàn chung, để từ đó có thể tự ḿnh đánh giá được phe
nào tương đối có lập luận vững chắc hơn. Bởi v́ nếu chỉ nghe
thuần một bên, người nghe không nhiều th́ ít cũng bị ảnh hưởng
bởi khả năng tŕnh bày hùng hồn, sắp xếp các dữ kiện theo một
chiều hướng thuận lợi do diễn giả muốn lèo lái đến. Nhưng nếu bị
đối chất ngay lập tức, bởi một diễn giả cũng với một khả năng
tŕnh bày không kém phần lưu loát với những luận cứ xác đáng
phản bác lại, người nghe bỗng tự thấy rằng những lời tŕnh bày
lúc đầu xem chừng như có vẻ đáng tin ấy hoá ra cũng có nhiều
điều cần phải xét lại. Thí dụ dễ hiểu nhất để minh hoạ cho t́nh
trạng này là cứ xem một phiên toà ở Hoa Kỳ diễn ra như thế nào.
Thoạt đầu là phần tóm tắt tŕnh bày quan điểm (opening
statements) của đôi bên nguyên đơn (plaintiff) và bị cáo
(defendant), cả hai đều xuất sắc, cho rằng luận cứ của ḿnh đều
xác đáng, và nếu chỉ dựa vào phần này thôi th́ bồi thẩm đoàn (và
cử toạ) cũng không thể nào biết ai đúng hơn ai. Nhưng bước vào
phần kế tiếp, sau khi một bên (nguyên đơn hay bị cáo) mời nhân
chứng của ḿnh lên để khai trước toà về diễn biến xảy ra hầu
thuyết phục người nghe, toà sẽ giành cho đối phương phần đặt câu
hỏi đối chất (cross-examination). Nghĩa là luật sư của bên này
sẽ vặn vẹo hỏi nhân chứng đó những câu hỏi hóc búa, và từ đó
người nghe sẽ thấy nhân chứng bắt đầu lúng túng chứ không c̣n
thao thao kể chuyện như lúc ban đầu. Chính nhờ ở nguyên tắc để
cho hai lập trường đối chọi được cùng tŕnh bày liền nhau mà bồi
thẩm đoàn (hay cử toạ) có thể nh́n thấy rơ vấn đề hơn, và có thể
đánh giá để biết xem luận cứ của bên nào vững vàng hơn, và có
sức thuyết phục mạnh hơn.
Thật ra th́ các chính trị gia Mỹ nhiều khi cũng rất ma lanh và
tránh né t́nh trạng đối chất công khai này, thường t́m cách dàn
dựng để lên các diễn đàn mà họ biết chắc là đa số cử toạ hay
người điều khiển chương tŕnh thuộc thành phần trung thành hay
có thiện cảm tuyệt đối với họ. Mục đích là để được tạo ra h́nh
ảnh thuyết phục với nhiều tiếng vỗ tay hoan hô và tránh được
những h́nh ảnh phản đối hay la ó của những người không cùng quan
điểm. Chính TT Bush là người ưa thích và sành sơi trong phương
thức vận động kiểu này. Trong hơn 6 năm cầm quyền, không bao giờ
ông dám thực sự xuất hiện trước một cử toạ độc lập phản ảnh đủ
mọi thành phần dân chúng trong nước, mà bao giờ cũng chỉ xuất
hiện trước những nơi đă được lựa chọn kỹ lưỡng và dàn dựng công
phu bởi bộ máy tuyên truyền tinh vi của Bạch Cung. Hoặc là tại
những nơi chỉ có khán giả toàn là cử tri trung kiên với đảng
Cộng Hoà (và một vài phần tử đối lập lẻ tẻ khi bị phát hiện đều
bị lôi kéo ra ngoài ngay lập tức với lư do an ninh); Hoặc là tại
những trại lính hay căn cứ quân sự với h́nh ảnh các đội quân
đứng xếp hàng nghiêm chỉnh trong các màn dàn chào uy nghiêm và
hào hùng (v́ kỷ luật quân đội không cho phép các quân nhân có
thái độ khiếm nhă hay vô lễ với cấp trên, nhất là người đó lại
là cấp trên cao nhất là tổng thống, kiêm chức tổng tư lệnh quân
đội). Mục đích là để tạo ra những h́nh ảnh thật đẹp qua ống kính
truyền h́nh cho thấy một lănh tụ được mọi người vỗ tay khen
thưởng. Nhược bằng đến một nơi nào mà có số người chỉ trích la
ó, hay ném cà chua trứng thối để phản đối, th́ sẽ tạo nên một
h́nh ảnh bất lợi của một lănh tụ bị quần chúng chống đối. Cho
đến nay, chưa bao giờ TT Bush thực sự dám mạo hiểm xuất hiện ở
những nơi công cộng mà không có sự dàn dựng để biết chắc rằng
không có thành phần chống đối trong số các khán giả, cũng như
chưa bao giờ dám thoải mái mời tất cả các phóng viên và kư giả
thuộc mọi khuynh hướng được tự do đặt những câu hỏi trong các
cuộc họp báo.
Trong cuộc tranh luận về chủ đề lợi và hại của việc rút quân Mỹ
ra khỏi Iraq, các lập luận của hai bên đưa ra thật ra cũng không
có ǵ mới mẻ, v́ cũng đă được nhiều người nghe và nói đến khá
nhiều trong thời gian qua. Phía ủng hộ hành pháp Bush th́ lập
lại những luận điệu cố hữu như: cần phải kiên tŕ dẹp tan quân
phiến loạn tại Iraq thay v́ để cho chúng lớn mạnh và sẽ t́m cách
tấn công vào nội địa Hoa Kỳ trong tương lai; cần phải ở lại để
huấn luyện và giúp đỡ cho quân đội Iraq được lớn mạnh để tự bảo
vệ trước khi rút lui quân Mỹ; việc rút quân Mỹ ra khỏi Iraq có
thể tạo nên một t́nh trạng hỗn loạn to lớn và nguy hiểm hơn nữa
sẽ xảy ra v.v. . . Phía chống đối th́ cho rằng cuộc chiến này đă
được dàn dựng với những lư do thiếu chính đáng và mất chính
nghĩa, lại được thực hiện bởi những đầu óc đầu ngạo mạn nhưng
lại quá bất tài, khiến cho sự thiệt hại về nhân mạng (gần 3300
quân nhân Mỹ bỏ mạng) và tài vật (hơn 500 tỷ Mỹ-kim bị tốn hao
một cách vô ích) trong khi ngân sách quốc gia càng ngày càng bị
thâm thủng và uy tín của Hoa Kỳ bị sút giảm thê thảm trên trường
quốc tế.
Hai bên cũng đều đưa ra những h́nh ảnh đầy biểu tượng để biện
minh cho lập luận của ḿnh hay tấn công đối phương. Phía ủng hộ
th́ nói rằng rút quân là đồng nghĩa với hành động đâm sau lưng
chiến sĩ, nối giáo cho giặc, đầu hàng quân khủng bố v.v. mà các
lănh tụ phe Dân Chủ luôn có chủ trương yếu hèn như vậy. Phe
chống đối th́ cho rằng t́nh thế hiện nay cho thấy một sự sa lầy
(quagmire) của quân đội Mỹ, không t́m ra một lối thoát khả quan,
và nguy hiểm hơn nữa là càng quậy mạnh chừng nào th́ chỉ sớm lún
sâu hơn chừng nấy. Và một khi đă biết là đánh không thắng, hay
không c̣n có triển vọng để thắng nữa th́ tốt nhất là phải thay
đổi chiến lược, t́m một đường hướng mới chứ không thể ngoan cố
tiếp tục «kiên định lập trường» (stay the course).
Kẻ viết bài này cũng gọi vào góp ư, nhưng với mục đích muốn đóng
góp một số dữ kiện thu lượm được khá lư thú hầu giúp cho mọi
người có được nhiều thông tin khách quan và đầy đủ, để từ đó có
thể hiểu rơ hơn trước những lời tranh luận đối nghịch của đôi
bên. Đầu tiên là bản tin liên quan đến nữ kư giả kỳ cựu của đài
truyền h́nh NBC, bà Andrea Mitchell, xuất hiện trên chương tŕnh
«Chris Matthews Show» vào Chủ Nhật đầu tháng Tư và qua hôm sau
trên chương tŕnh «Hardball» vào ngày thứ Hai 02/04, đă tiết lộ
là trong một buổi tường tŕnh đặc biệt với các lănh tụ dân cử,
Đại tướng David Petraeus, tân tư lệnh lực lượng liên quân tại
Iraq, đă hứa hẹn là sẽ có những kết quả tiến bộ vào tháng Tám
sắp tới. Đây là một cuộc tường tŕnh kín qua hệ thống video
(closed circuit briefing) thu h́nh các tướng lănh ở bộ tư lệnh
tại chiến trường Iraq báo cáo trực tiếp về Ngũ Giác Đài ở thủ đô
Hoa Thịnh Đốn để cho tổng thống hay các lănh tụ dân cử có thể
nghe và chất vấn được. Nên nhớ là trong guồng máy chính quyền ở
Hoa Kỳ, ngành lập pháp cũng có nhiều thẩm quyền trên tất cả các
ngành kể cả quân đội chứ không phải chỉ có tổng thống và các vị
tổng trưởng là có toàn quyền. Thứ nhất là quyền chuẩn chi, tức
là Quốc Hội nắm hầu bao của tất cả mọi ngành trong chính quyền,
nếu như Quốc Hội không đồng ư và không tháo khoán ngân sách cho
một ngành nào th́ coi như khoá sổ ngành đó. Kế đến là quyền kiểm
soát (oversight) tức là thanh tra, có quyền đ̣i hỏi các phủ, bộ
phải báo cáo mọi việc làm để ngăn chặn những hành động lạm quyền
hay sai trái. Đặc biệt là trên Thượng Viện c̣n có nhiều quyền
hành rộng răi hơn nữa, kể cả việc phê chuẩn các viên chức cao
cấp do hành pháp lựa chọn như tướng lănh, đại sứ hay thẩm phán,
biện lư liên bang v.v. . . Do đó ít có viên chức nào muốn làm
phật ḷng các ông bà nghị sĩ tại Thượng Viện.
Trong cuộc họp tường tŕnh này, sau khi được Tướng Petraeus đưa
ra những lời hứa hẹn, các vị nghị sĩ phe Cộng Hoà đă đáp trả một
cách thẳng thừng rằng, đại để như sau: « Anh liệu mà đưa ra
những kết quả tiến bộ khả quan, bằng không th́ chúng tôi cũng
t́m cách dọt ra khỏi nơi này vào đầu tháng 9. » Kư giả Mitchell
kể rằng trong chốn riêng tư, các vị nghị sĩ Cộng Hoà đều không
tin tưởng vào cái gọi là «kế hoạch tăng quân» (surge) của TT
Bush nhưng họ vẫn bỏ phiếu ủng hộ, một phần v́ muốn tỏ ra nể
trọng vị tướng tân tư lệnh chiến trường (vừa mới được bổ nhiệm),
và phần khác muốn giành cho Tướng Petraeus và TT Bush một cơ hội
cuối cùng để đem lại thành quả, trễ lắm là vào cuối mùa hè này.
Nói một cách khác, các vị nghị sĩ Cộng Hoà này đă không thành
thật với cử tri của họ, ngoài mặt bỏ phiếu ủng hộ, nhưng thâm
tâm lại chống đối v́ không c̣n tin tưởng nữa vào kế hoạch của TT
Bush. Nhưng họ chỉ có thể chịu đựng đến đầu tháng 9, dịp Lễ Lao
Động, và nếu chừng đó mà mọi sự vẫn như cũ, không có dấu hiệu
khả quan rơ rệt th́ họ sẽ buông tay thẳng thừng. Mà kết quả khả
quan rơ rệt, theo định nghĩa của các vị dân cử Cộng Hoà này, là
không c̣n t́nh trạng bạo động và bất an nữa tại Iraq, và không
c̣n lính Mỹ tiếp tục bị hy sinh nữa.
Tưởng cũng nên biết rằng ngày Lễ Lao Động thường đánh dấu một sự
chuyển động mạnh trong chính trường Hoa Kỳ. Nếu là năm có bầu cử
(như 2008), nó là dấu mốc báo hiệu thời điểm chạy nước rút cuối
cùng (stretch run) để về đến đích là ngày bầu cử vào đầu tháng
11. Nếu là năm lẻ (như năm 2007), nó đánh dấu giai đoạn chuyển
hướng để chú tâm vào các cuộc bầu cử sơ bộ trong nội bộ của mỗi
đảng để mong được trở thành ứng viên chính thức. Đặc biệt năm
nay, nó là dịp để cho các ứng viên Cộng Hoà t́m cách đánh bóng
ḿnh để mong giành lấy cái ghế ở Toà Bạch Ốc cũng như giành lại
quyền đa số ở Quốc Hội. Theo hầu hết các chuyên gia nhận định,
và các vị dân cử Cộng Hoà đều có cùng kết luận, là trừ phi t́nh
h́nh tại Iraq biến đổi một cách đột ngột đầy khả quan như có một
phép mầu, con số cử tri Hoa Kỳ không c̣n tin tưởng hay hy vọng
vào cuộc chiến Iraq sẽ càng ngày càng gia tăng. Và như thế, có
lẽ hầu hết các ứng viên sẽ t́m cách vỗ ngực để nói rằng ḿnh
cũng đă từng lên tiếng chống đối chính sách điều quân của TT
Bush.
Thật ra th́ điều này đă xảy ra từ kết quả vụ bầu cử năm 2006,
khi mà đa số dân chúng đă hết hy vọng về cuộc chiến Iraq và bỏ
phiếu chống lại phe Cộng Hoà và TT Bush. Trong cuộc bầu cử năm
2008, các ứng viên Cộng Hoà đang vận động tranh cử vào các chức
vụ dân biểu và nghị sĩ chắc chắn sẽ không c̣n ai dám lên tiếng
ủng hộ giải pháp tiếp tục chiến tranh nữa. Và điều này giải
thích tại sao nghị sĩ John McCain, trước đây từng được đánh giá
là ứng viên hàng đầu của phe Cộng Hoà trong cuộc chạy đua chức
tổng thống, giờ đây đă tụt xuống hạng ba sau hai ông Mitt Romney
và Rudy Giuliani. Chẳng trách sao mà ông McCain đă không ngần
ngại và nhanh chóng lên tiếng xin lỗi mọi người về lời nói hớ
hênh của ông (khi cho rằng t́nh h́nh tại Iraq đă tiến triển tốt
đẹp mà không được báo giới tường thuật đầy đủ) sau khi dẫn một
phái đoàn đến thanh tra tại đây. Chỉ nội h́nh ảnh ông phải mặc
áo giáp để hộ thân khi muốn đi tới viếng thăm một khu chợ tại
thủ đô Baghdad cũng đủ minh chứng về t́nh h́nh gọi là «tiến
triển tốt đẹp» tại đây. Ấy là chưa nói đến việc, theo lời của
nhiều phóng viên thuật lại lời kể nhiều chua chát của người dân
Iraq, nếu như t́nh h́nh tại thủ đô Baghdad rất an ninh, tại sao
mỗi khi ông di chuyển, phải có nhiều toán trực thăng chiến đấu
bay vần vũ trên trời để làm một màn bảo vệ an ninh, cùng với một
hơn đại đội lính Mỹ đi theo hầu để hộ vệ cho ông? Cho nên ông
McCain đă vội vàng xin lỗi trong cuộc phỏng vấn trên chương
tŕnh «60 Minutes», thú nhận rằng ông đă không nói đúng sự thật
khi cho rằng t́nh h́nh tại Iraq đă an ninh hơn.
Lời tiết lộ của kư giả Andrea Mitchell thật ra không gây ngạc
nhiên chấn động nhiều v́ mọi người gần như đă chấp nhận cái kết
luận tất nhiên của nó, cho dù là trên mặt chính thức phe Cộng
Hoà không thể nào làm bẽ mặt TT Bush quá lộ liễu, ngoại trừ khi
quyền lợi sinh tử của các vị dân cử Cộng Hoà có thể bị tiêu tan
trước ngày bầu cử. Thật ra các vị dân cử, dù là theo Cộng Hoà
hay Dân Chủ, cũng đều phản ảnh quan điểm của đa số cử tri mà họ
đại diện. Trong bối cảnh năm 2002, cho dù không biết rơ về mối
nguy của chế độ Saddam Hussein hay nghi ngờ về mưu đồ của chính
quyền Bush, đa số các vị dân cử phe Dân Chủ cũng không dám lên
tiếng chống đối mà phải hùa theo, cùng kư tên cho phép hành pháp
Bush được quyền tấn công Iraq. Và ngày nay th́ t́nh thế đă đổi
khác, đa số cử tri Mỹ đă hết c̣n tin tưởng vào một tương lai
sáng sủa tại Iraq, nên đă quyết định rút lui v́ không muốn thấy
con em của họ tiếp tục bị hy sinh trên một vùng đất xa lạ, trở
thành nạn nhân của một cuộc nội chiến đẫm máu của hai sắc dân
Hồi giáo Sunni và Shiite. Chính quan điểm đổi chiều của cử tri
đă khiến cho các vị dân cử phe Dân Chủ không c̣n ngần ngại khi
lên tiếng chỉ trích chính quyền Bush về cuộc chiến Iraq mà không
sợ bị cử tri bất tín nhiệm.
Thành ra khi bàn đến chuyện rút lui hay không quân đội Mỹ ra
khỏi chiến trường Iraq, chúng ta nên nh́n dưới lăng kính của
người Mỹ nói chung chứ không nên lầm tưởng vào cái «huyền thoại»
(myth) là «Cộng Hoà cứng rắn, Dân Chủ mềm yếu» mà bộ máy tuyên
truyền của phe Cộng Hoà đă t́m cách duy tŕ măi. Chẳng thế mà
một uỷ ban lưỡng đảng có tên là «Nhóm Nghiên Cứu Iraq» (Iraq
Study Group) do hai ông Jim Baker và Lee Hamilton đồng chủ toạ
và quy tụ những tên tuổi uy tín trong chính trường Hoa Kỳ bao
gồm 5 thành viên Dân Chủ và 5 thành viên Cộng Hoà, vào đầu năm
nay đă đưa ra một loạt những đề nghị lên TT Bush để giải quyết
hồ sơ Iraq, trong đó có việc khuyến khích nên rút quân ra khỏi
Iraq, trễ lắm là vào năm 2008.
Cái huyền thoại sai lầm «Cộng Hoà cứng rắn, Dân Chủ mềm yếu» có
lẽ cũng tương tự như cái cliché cũ rích «Cộng Hoà chống Cộng,
Dân Chủ phản chiến» mà nhiều người Việt cao niên vẫn c̣n lầm lẫn,
cũng như tiếp tục bị nhiều chính trị gia dụ dỗ. V́ hậu quả tai
hại của việc Hoa Kỳ bỏ rơi miền Nam Việt Nam sau khi bắt tay
được với Trung Cộng vào năm 1972 để đạt được thế chia ba hầu kềm
giữ đối thủ Liên Sô, một số người Việt vẫn c̣n tin rằng đó là
việc làm tắc trách của Quốc Hội Mỹ (mà đa số phe Dân Chủ) chỉ
đ̣i rút quân và cắt đứt viện trợ cho Việt Nam Cộng Hoà và trói
tay hành pháp Mỹ dưới thời Nixon và Ford.
Khách quan mà nói, chính TT Johnson của đảng Dân Chủ, vào giữa
thập niên 60, khi biết rằng chính quyền quân đội tại Sàig̣n vẫn
chỉ lo tranh giành quyền bính qua các cuộc đảo chính thay v́ chú
tâm đề pḥng trước sự xâm nhập lớn mạnh của Cộng sản Bắc Việt,
nên đă quyết định gia tăng con số khổng lồ cả nửa triệu binh sĩ
Mỹ đến tham chiến tại Việt Nam để giữ cho tiền đồn chống Cộng
này khỏi rơi vào tay kẻ thù phương bắc cho dù biết rằng điều này
sẽ gây tốn kém cho ngân quỹ của nhà nước cũng như sẽ tạo sự
chống đối của dân chúng Mỹ. Hành động can đảm của ông Johnson đă
mang lại một kết quả thất vọng cho chính cá nhân ông sau đó, là
phải quyết định không ra tái tranh cử vào năm 1968 v́ chính sách
đưa quân tham chiến của ḿnh đă gây chia rẽ trầm trọng trong dân
chúng Hoa Kỳ. Và ngay cả ông Nixon, khi ra tranh cử tổng thống
vào năm 1968, cũng đă đưa ra lời hứa hẹn là sẽ t́m cách rút quân
Mỹ khỏi Việt Nam, và rồi cuối cùng cũng thực hiện xong lời hứa
này, dưới chiêu bài «Việt-Nam-hoá chiến tranh» vào đầu năm 1973.
Quyết định bỏ rơi VNCH cho dù có tàn nhẫn cho thân phận của miền
Nam nhược tiểu này, cũng chỉ phản ảnh quan điểm ích kỷ hiển
nhiên của đa số dân chúng Mỹ, mà nếu tự đặt ḿnh trong trường
hợp đó, có thể chúng ta cũng sẽ có cùng quan điểm như vậy. Thử
tưởng tượng nếu như chế độ quân dịch (draft) c̣n hiện hữu ngày
nay khiến cho tất cả các thanh niên trên 18 tuổi đều phải bị
nhập ngũ để ra chiến trường Iraq (như chuyện đă xảy ra tại Hoa
Kỳ 40 năm về trước), và đa số con em chúng ta, người Mỹ gốc Việt,
đều phải lên đường ra chiến trận và có thể bỏ mạng tại một vùng
đất xa lạ, khác phong tục và văn hoá, thay v́ có cuộc sống êm ấm
và thoải mái tại nội địa nước Mỹ, liệu các gia đ́nh người Việt
có t́m cách cho con em trốn sang Gia Nă Đại (Canada) hay Âu Châu
để khỏi phải bị bắt đi lính hay không? Và liệu lúc đó tỉ lệ
người Mỹ gốc Việt chống chiến tranh Iraq có lên cao hay không?
Hỏi tức là trả lời.
Hơn nữa, nếu chịu khó đọc kỹ lại tài liệu, chúng ta sẽ thấy rằng
quyết định bỏ rơi miền Nam Việt Nam đă được thực hiện từ lâu mà
các vị lănh tụ hay đại diện của VNCH đều thiếu sáng suốt và hiểu
biết để nh́n thấy và có phản ứng kịp thời. Thật vậy, việc bỏ rơi
đồng minh Việt Nam với quyêát định chấm dứt can thiệp vào cuộc
chiến, đă được thể hiện qua một đạo luật, gọi là Case-Church
Amendment dựa theo tên của 2 vị nghị sĩ Mỹ thời đó, được thông
qua vào ngày 19 tháng 6 năm 1973, trong đó nói rơ quyết định cấm
chính quyền Mỹ can thiệp quân sự tại Đông Nam Á nếu như không có
sự ưng thuận của Quốc Hội, bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày 15
tháng 8 năm 1973. Đạo luật này có nghĩa là TT Mỹ đă không c̣n
quyền quyết định để điều hành về cuộc chiến tại Việt Nam nữa, và
đă được thông qua với một tỉ lệ đa số áp đảo 278-124 tại Hạ Viện,
và 64-26 tại Thượng Viện. Nghĩa là ngay cả như Tổng thống muốn
phủ quyết (veto) th́ Quốc Hội cũng dư túc số để bỏ phiếu để vượt
qua (override) một lần nữa. Trong số các dân biểu và nghị sĩ bỏ
phiếu thông qua, cho dù đa số thuộc phe Dân Chủ, nhưng vẫn có
khá nhiều các vị phe Cộng Hoà ủng hộ nên mới đạt được tỉ lệ áp
đảo để có thể vượt qua quyền phủ quyết này của TT. Nếu hiểu ra
điều này đúng nghĩa và đúng lúc th́ có lẽ các viên chức cao cấp
của VNCH thời ấy như quư ông tổng trưởng kế hoạch N. T. H.
(Nguyễn Tiến Hưng), đại sứ tại Mỹ B. D. (Bùi Diễm), bí thư phụ
tá tổng thống H. Đ. N. (Hoàng Đức Nhă), những người thường được
đánh giá như là những chuyên viên rành rơi về nội t́nh Hoa Kỳ,
đă phải gióng lên tiếng chuông báo động cho toàn thể quân dân và
chính phủ miền Nam lúc bấy giờ biết tin để mà liệu đường xoay xở
hay t́m phương cứu văn, chứ không phải chỉ ngồi im để cho một
ḿnh ông tổng thống Thiệu ngây thơ tin tưởng vào những lời hứa
hẹn bảo vệ trên những lá thư riêng của TT Nixon và cứ tưởng như
là những lá bùa hộ mệnh hữu hiệu, để rồi cuối cùng lại quay ra
trách cứ là bị đồng minh phản bội và bỏ rơi (như đă kể lại trong
cuốn sách ăn khách Khi Đồng Minh Tháo Chạy).
Giới cầm quyền thời Đệ Nhị Cộng Hoà thường tự tin vào sự ủng hộ
đắc lực của TT Nixon (đảng Cộng Hoà) nhưng chính phụ tá của ông
là Henry Kissinger đă đi đêm với Lê Đức Thọ để thành h́nh Hiệp
Định Paris vào đầu năm 1973 hầu dọn đường tháo lui của quân đội
Mỹ khỏi VN sau khi đă bắt tay được với Trung Cộng và không c̣n
sợ đến ảnh hưởng toàn thắng của Liên Sô ở Á Châu. Hành động phản
bội này của ông Kissinger và đảng Cộng Hoà, dẫn đến cuộc di tản
đau thương vào ngày 30 tháng 4 oan nghiệt sau đó không lâu,
nhiều người vẫn c̣n biện minh cho rằng v́ có sự chống đối của
các dân biểu và nghị sĩ thuộc phe đa số Dân Chủ thời bấy giờ. Ai
cũng biết, việc điều hành chiến tranh và đối ngoại thuộc về đặc
quyền của ngành hành pháp, chính quyền Mỹ và Ngũ Giác Đài đă dọn
đường sẵn cho cuộc tháo chạy này cả năm trời trước đó khi cho
dựng sẵn từ trước các trại lều tiếp cư ở đảo Guam để đón tiếp số
lượng di dân tị nạn đông đảo vào mùa hè năm 1975.
Nếu như chuyện quá khứ chưa đủ sức thuyết phục th́ những diễn
biến gần đây cũng đủ chứng minh cho cái điệp khúc «Cộng Hoà
chống Cộng» đă hoàn toàn tan vỡ. Trong bài diễn văn nhậm chức ở
đầu nhiệm kỳ hai vào năm 2005, TT Bush đă hùng hồn đề cao lư
tưởng tự do dân chủ và c̣n long trọng tuyên hứa rằng nơi nào
người dân đứng lên chống lại áp bức của bạo quyền, nơi đó sẽ có
sự hỗ trợ của Hoa Kỳ. Những ai thích ông Bush th́ dĩ nhiên t́m
cách ca tụng bài diễn văn này. Thế nhưng thực tế đă xảy ra hoàn
toàn trái ngược, TT Bush và chính phủ Mỹ cũng sẵn sàng thoả hiệp
với những chính phủ độc tài tại Trung Đông và nhiều nơi khác
nhau, cũng như làm ngơ trước những vi phạm nhân quyền của các
chế độ này, miễn là họ chịu hợp tác với Mỹ trong cái gọi là liên
minh chống khủng bố. Và điều làm cho tập thể người Việt bất măn
nhất, có lẽ là quyết định của chính quyền Bush rút tên Việt Nam
ra khỏi danh sách các nước cần quan tâm (CPC) để làm quà chuẩn
bị cho chuyến công du của TT Bush trong hội nghị APEC tổ chức
tại Hà Nội vào cuối năm ngoái. Để rồi trong chuyến viếng thăm
này, ông Bush đă không hề đả động ǵ đến những từ ngữ tự do và
dân chủ, làm ngơ trước việc đàn áp các tiếng nói đấu tranh ở
quốc nội đang bị bộ máy công an kềm kẹp gắt gao. Sự trở mặt và
giả dối đầy thất vọng này đă khiến cho Hoà Thượng Thích Quảng Độ,
một tiếng nói đấu tranh cho tự do và nhân quyền được nể trọng
khắp nơi trên thế giới, cuối cùng cũng phải lên tiếng chỉ trích
hành động phản bội của TT Bush và chính phủ Mỹ về những lư tưởng
cao đẹp mà chính họ đă huyênh hoang đề ra trước đó không
lâu.Tưởng cũng nên nhắc lại là trong kỳ bầu cử năm 2004, những
lời tuyên bố của TT Bush đă tạo ra một sự chấn động trong ḷng
khối người Việt quốc gia.
Đó là trong cuộc phỏng vấn với kư giả Bill
O'Reilly trên đài truyền h́nh Fox News theo khuynh hướng bảo thủ
thiên hữu, ông Bush phấn khởi nói về sự quyết tâm đấu tranh cho
dân chủ, tự do của nhân dân A Phú Hăn trong cuộc bầu cử toàn
quốc. Nhưng khi được hỏi để so
sánh là phải chăng v́ người dân miền Nam Việt Nam trước đây
không chịu đấu tranh cho tự do của họ cho nên ngày nay không có
tự do hay không, TT
Bush đă trả lời gọn lỏn "Yes". Sau đó ông nói tiếp rằng ông
tin chắc chắn rằng (absolutely) dân Iraq sẽ chiến đấu cho lư
tưởng tự do của họ. Nói một cách khác, ông Bush muốn cho thấy
nhiệm vụ thiêng liêng của người Mỹ là ở lại giúp dân Iraq chiến
đấu cho tự do v́ đó là ước muốn cao cả của họ. Ông muốn so sánh
ví dụ là dân miền Nam VN trước đây không chịu chiến đấu cho tự
do của họ nên Mỹ mới rút khỏi VN. C̣n bây giờ, dân Iraq đang
tranh đấu cho tự do của ḿnh nên chính quyền của ông cần phải ở
lại để giúp cho dân Iraq đạt được lư tưởûng này.
Lời nói của TT Bush, giống như lời phát ngôn của tổng trưởng
quốc pḥng Donald Rumsfeld trước đó không lâu, cũng tai
hại đớn đau cho sự đấu tranh hy sinh của hàng triệu quân dân cán
chính VNCH trong cuộc chiến vừa qua. Trong một cuộc phỏng vấn
trên chương tŕnh Hardball của đài MSNBC vào ngày 29-04-2004 do
nhà báo Chris Matthews chủ tŕ, khi được hỏi so sánh giữa Iraq
ngày nay và VN lúc trước, ông Rumsfeld, một viên chức chính
quyền cao cấp của ông Bush thời bấy giờ, nổi tiếng với những lời
lẽ và hành động xem thường các đồng minh lâu đời như Pháp và Đức,
cũng đă không tha đồng minh nhỏ bé cũ của ḿnh là VNCH với câu
trả lời như sau: "Ở VN (hồi đó) anh
thấy là có một thành phần có tinh thần quốc gia dân tộc cao độ ở
miền bắc, rồi bọn Việt Cộng cũng là một thành phần đáng kể trong
t́nh thế bấy giờ. . . Rồi anh lại thấy là chúng ta có một chính
quyền (VNCH) không được ḷng dân ở miền Nam. Cái chính phủ miền
Nam này chẳng có hiến pháp, chẳng có bầu cử ǵ cả. Đối với đại
đa số người Việt, họ bị coi là một thứ chính phủ bù nh́n."
Ngoài sự hiểu biết ấu trĩ, ngu xuẩn hoặc chẳng thèm đếm xỉa ǵ
đến sự thật của các chính trị gia Mỹ kiểu ông Rumsfeld hay TT
Bush với những lời phát biểu hay nhận định như trên, những lời
nói đó c̣n là một vết dao đâm thấu tim can của khối quân dân cán
chính VNCH đă sinh sống và tranh đấu, hy sinh trên chiến trường
cũng như bỏ mạng trong ḷng biển sâu trên đường mưu t́m tự do,
mặc dù họ thường bị bó tay hay chèn ép bởi đồng minh khổng lồ
nhưng thiếu chân thật và sẵn ḷng phản bội là Hoa Kỳ. Do đó,
việc lựa chọn hay ủng hộ theo phe Dân Chủ hay Cộng Hoà cần phải
được cân nhắc kỹ lưỡng hơn tuỳ theo quyền lợi của mỗi cá nhân,
và cũng áp dụng khác nhau ở từng thời điểm và địa phương riêng
biệt chứ không thể áp dụng một cách nhất quán, và mù quáng tin
vào cái luận điệu cũ rích “Cộng Hoà chống Cộng, Dân Chủ phản
chiến” đă hoàn toàn sai bét.
Trở về với chuyện tranh luận về lợi hay hại của việc rút quân Mỹ
ra khỏi Iraq, có lẽ tinh thần chia rẽ trầm trọng trong hai khối
Dân Chủ và Cộng Hoà đă khiến cho đa số của mỗi bên đều cố giữ
vững lập trường của ḿnh, tức là cử tri Dân Chủ hoàn toàn bất
tín nhiệm TT Bush nên càng muốn thay đổi hay chấm dứt chính sách
chiến tranh của Hoa Kỳ hiện nay; và cử tri Cộng Hoà th́ vẫn tiếp
tục ủng hộ chính sách này, cho dù rằng mức đa số bên Dân Chủ
càng ngày càng tăng cao, trong khi tỉ lệ đa số bên Cộng Hoà càng
ngày càng tụt dần. Tuy nhiên, một ư kiến chuyên môn cũng cần
được lắng nghe, v́ nó giúp cho ta nh́n rơ được vấn đề dưới nhiều
khía cạnh khác nhau mà không bị ảnh hưởng bởi tính thiên vị theo
đảng phái. Đó là nhận định của ông William Odom, qua một bài
viết đăng trên tờ Washington Post ngày 11/02. Ông Odom là một
chuyên viên theo kiểu văn vơ song toàn, đă phục vụ trong quân
đội và lên đến cấp bậc trung tướng, tốt nghiệp tiến sĩ tại
trường Đại học Columbia, hiện giảng dạy tại trường Đại học Yale
và cũng là một chuyên gia nghiên cứu của Viện Hudson. Ông đă
từng nắm những chức vụ quan trọng như Cục trưởng Cục An Ninh Lục
Quân Mỹ, Giám đốc Cơ quan Thu thập T́nh báo NSA dưới thời TT
Reagan.
Bài viết của ông tướng hồi hưu Odom có tựa đề là “Victory
Is Not An Option” (Chiến thắng Không c̣n là một chọn
lựa khả thi nữa). Theo ông, có bốn lập luận đầy huyền thoại biện
minh cho việc tiếp tục cuộc chiến mà chúng ta cần phải t́m hiểu
và phân tích kỹ lưỡng để thấy v́ sao cần phải dứt bỏ nó:
1. Chúng ta phải tiếp tục cuộc chiến này
để ngăn chặn cho t́nh h́nh tồi tệ không xảy ra nếu như quân đội
Mỹ rút quân ra khỏi Iraq bây giờ. Lập luận này đầy mâu thuẫn:
Hoa Kỳ đang chiến đấu để ngăn chặn một t́nh huống mà tự nó đă
được tạo ra do cuộc tấn công của quân đội Mỹ. Trước sau ǵ th́
t́nh h́nh tại Iraq cũng sẽ hỗn loạn, một sự hỗn loạn do chính
Hoa Kỳ tạo ra, và càng ngày càng tệ hơn nếu như quân đội Mỹ tiếp
tục có mặt tại đây. Nhiều chính trị gia thích lên tiếng rằng họ
lo sơ việc rút quân Mỹ sẽ tạo ra một t́nh trạng hỗn loạn, nhưng
thật ra theo ông Odom, th́ cái t́nh trạng đó đă hiện hữu từ lâu
rồi tại Iraq, v́ thế nên nói chuyện ngăn chặn cho nó đừng xảy ra
(bằng cách để cho quân Mỹ tiếp tục chiếm đóng tại Iraq) tự nó đă
là một nhận định hoang tưởng và thiếu thực tế.
2. Chúng ta phải tiếp tục cuộc chiến này để ngăn chặn không cho
ảnh hưởng của Ba Tư (Iran) mỗi ngày lớn mạnh hơn tại Iraq. Đây
cũng là một nghịch lư khác v́ một trong mục tiêu của cuộc chiến
do TT Bush chủ xướng lúc ban đầu là nhằm thiết lập một thể chế
dân chủ tại Iraq. Điều này dẫn đến việc đa số dân Shiite tại
Iraq sẽ nắm thế thượng phong, giành lại quyền hành từ phía Sunni
thuộc thiểu số dưới thời Saddam Hussein. Mà dân Shiite tại Iraq
lại vốn gần gũi hơn với Iran, một số lớn các giáo sĩ Shiite đă
được Iran giúp đỡ trong lúc tị nạn trong thời kỳ bị đàn áp bởi
chế độ Saddam. Do đó, ảnh hưởng của Iran chắc chắn phải lớn mạnh
ở Iraq một khi chế độ Saddam bị lật đổ. Chẳng lẽ mọi người lại
quên rằng Saddam là kẻ thù của chế độ thần quyền ở Iran trong
cuộc chiến đẫm máu giữa hai nước kéo dài 8 năm (1980-1988) mà
Hoa Kỳ và các nước Ả Rập Sunni trong vùng đều ủng hộ mạnh mẽ và
tiếp sức cho Iraq. Và do đó việc tiếp tục ở lại Iraq không thể
nào ngăn chặn được sự lớn mạnh về ảnh hưởng của Iran, bởi v́
điều này đă tự nó là hậu quả đầu tiên của phát súng lệnh đổ bộ
lính Mỹ lên Iraq.
3. Chúng ta phải tiếp tục cuộc chiến này để ngăn chặn không cho
tổ chức khủng bố al-Qaeda có thể dùng Iraq làm một sào huyệt trú
ẩn. Điều này cũng lại là một nghịch lư với quyết định tấn công
Iraq lúc ban đầu. Dưới thời Saddam, al-Qaeda không thể nào hoạt
động tại đây, và chỉ sau khi quân đội Mỹ tiến chiếm Iraq th́ các
toán thánh chiến khắp nơi mới đổ xô về đây để tiếp tục lăn ḿnh
vào những vụ nổ bom cảm tử. Việc al-Qaeda hiện hữu nhiều hơn ở
những vùng có đông dân Sunni cũng không thay đổi hệ quả này, cho
dù là hai bên (al Qaeda và phe Sunni) đều có chung kẻ thù là phe
Shiite và Hoa Kỳ. Nếu như ba phe Sunni, Shiite và Kurd có thể đi
đến một giải pháp chính trị sau này để giải quyết ổn thoả cuộc
nội chiến, liệu họ có cùng đoàn kết để chống lại những thành
phần quá khích của al Qaeda (thuộc các quốc gia khác xâm nhập
vào Iraq) hay không, hiện nay khó ai có thể đưa ra câu trả lời
chính xác. Tuy nhiên, điều mọi người có thể nh́n thấy là ngày
nào c̣n có sự hiện diện của lính Mỹ ở Iraq, th́ sự căm thù lính
Mỹ sẽ là chất keo giúp cho các thành phần quá khích cùng hợp tác
và giúp cho al Qaeda càng lớn mạnh.
4. Chúng ta phải tiếp tục cuộc chiến này để hỗ trợ cho các quân
nhân Mỹ đă hy sinh xương máu tại đây. Chính lập luận này đă
khiến cho nhiều nhà dân cử, tuy nh́n thấy cái hậu quả tệ hại của
chính sách tiếp tục duy tŕ cuộc chiến, cũng không dám dứt khoát
về việc rút quân ngay lập tức v́ không muốn bị mang tiếng là bỏ
rơi các quân nhân Hoa Kỳ. Thật ra đă có ai hỏi thăm ư kiến của
đa số các quân nhân Mỹ để biết họ đang thực sự nghĩ như thế nào?
Có lẽ trong thời gian đầu của cuộc chiến, phần đông đều tin
tưởng là sự hiện hữu của ḿnh sẽ đem lại một kết quả tốt đẹp.
Thế nhưng sau khi đă bị trưng dụng để trở lại chiến trường một
lần thứ hai, rồi lần thứ ba, và rồi đến lần thứ tư nữa, th́ chắc
chắn là tâm lư của những chiến binh này đă bắt đầu bị giao động.
Hơn nữa, việc hỗ trợ quân nhân Mỹ không có nghĩa là tiếp tục chi
tiền ra để cho họ tiếp tục hy sinh tại chiến trường khốc liệt và
dai dẳng này. Việc kêu gọi rút quân ra khỏi Iraq không phải là
một hành động đâm sau lưng chiến sĩ, v́ nó có thể giúp cho nhiều
sinh mạng binh lính khỏi phải tiếp tục bị hy sinh một cách hoang
phí, mà thay vào đó có thể được điều động đến những nơi khác cần
thiết cho chiến dịch chống khủng bố toàn cầu, như tại chiến
trường A Phú Hăn (Afghanistan), vùng giáp ranh với Hồi Quốc
(Pakistan), nơi mà phe Taliban đang dần dần phục hồi lại thế lực
và có cơ nguy trở thành một mối nguy to lớn cho quyền lợi của
Hoa Kỳ trong vùng.
Để kết luận, theo ông
Odom, chúng ta cần phải sớm nhận thức rằng việc tiếp tục cuộc
chiến hiện nay chỉ càng ngày càng gia tăng con số quân nhân Mỹ
thiệt mạng hay thương vong, cũng như không giúp tạo điều kiện
cho một chiến lược mới. Việc Hoa Kỳ rút quân ra khỏi Iraq sẽ là
điều kiện tiên quyết, nó sẽ khiến cho nhiều kẻ thù của Mỹ sẽ
không c̣n cơ hội để ngồi hưởng lợi trước sự tốn hao và tiêu ṃn
của quân đội Mỹ. Nó cũng sẽ khiến cho nhiều quốc gia Âu Châu c̣n
lưng chừng sẽ ư thức mức nguy hại cho quyền lợi và nền an ninh
của chính quốc gia họ một khi Hoa Kỳ rút quân ra khỏi đây, để từ
đó sẽ thực sự cùng hợp tác để giải quyết hồ sơ Iraq cũng như cho
cả vùng Trung Đông. |