Tết con Chó
- Tản mạn đôi chuyện vui buồn
Đề tài: Văn hóa - Nghệ thuật
Vương Văn
Quang
Date:
22-01-2006
Một triệu tám
trăm ngàn đô-la Mỹ là bao nhiêu tiền ḿnh? Lẩn thẩn nghĩ và
tôi liền rút chiếc điện thoại di động ra để sử dụng chức
năng máy tính. Màn h́nh hiện lên ḍng chữ: “Ngoài phạm vi”.
Tôi bèn tính nhẩm, nhưng bất lực. Đành lọ mọ lấy giấy, bút
mà nhân lên theo cách thủ công. Kết quả là con số mà phải
đọc măi mới ra. Hai-mươi-tám-tỷ-tám-trăm-triệu đồng Việt
Nam.
Con số này một người làm công ăn lương loại trung b́nh ở
những thành phố lớn, như Hà Nội, Sài G̣n …, làm bao nhiêu
lâu th́ có? Sẵn giấy bút, lại tiếp tục lọ mọ tính toán. Kết
quả: nếu như tính mức thu nhập trung b́nh người làm công ăn
lương ở những thành phố lớn (chứ tỉnh nhỏ hay nông thôn th́
quên đi, nhé!) là khoảng hai triệu đồng Việt Nam, th́ người
đó phải lao động trong 1200 năm, mà là lao động từ lúc lọt
ḷng mẹ cho tới khi chết, và nhớ là chỉ làm ra cất đi chứ
tuyệt đối không được tiêu pha ǵ đấy nhá.
Tất nhiên, đây chỉ là những phép tính và so sánh rất lẩm cẩm,
cho vui mà thôi. Vậy cái con số một triệu tám đô Mỹ mà tôi
mất công nghĩ ngợi tính toán kia nó là số tiền của cơ quan
hay tổ chức nào? Đầu tư từ nguồn vốn nào? Vào công tŕnh ǵ?
Chẳng to tát quan trọng thế đâu, nó chỉ là món tiền mà ông
tổng giám đốc của một ban quản lí dự án nào đó thuộc bộ Giao
thông – Vận tải, quăng vào mấy trận cá độ đá banh thôi mà.
Báo chí những ngày cuối năm này đưa tin, nhưng h́nh như dư
luận xă hội không mấy giật ḿnh, bởi những chuyện như thế
này có vẻ như không c̣n quá giật gân ở Việt Nam. Bản thân
tôi cũng không lấy ǵ làm ngạc nhiên (cơ chế này, xă hội này,
con người này, không có những chuyện đó mới là lạ), nhưng
tôi chợt liên tưởng tới việc một số cầu thủ bóng đá trong
đội tuyển U-23 Việt Nam tham gia cá độ, và số tiền c̣m các
chàng trai trẻ này thu lợi từ bán độ. Thật quá nhỏ nhoi.
Nhưng tại sao báo chí lại làm ồn ă, dư luận căm phẫn kích
động hàng tháng nay chưa nguội như vậy [1]? Có thể lư giải,
rằng người mọi người đă đặt niềm tin vào các cầu thủ, và khi
niềm tin của họ bị phản bội, họ sẽ phẫn nộ? Không hẳn. Cách
lư giải này, có thể đúng, nhưng chưa đủ. Nếu đủ, cần bổ
sung, ở Việt Nam chỉ được phẫn nộ khi được phép. Thực tế cho
thấy, rất nhiều vụ việc bị d́m đi, ngay cả khi ban đầu báo
chí có đưa tin, nhưng sau đó, “quyền lực thứ nhất” chỉ đạo
stop là cái “quyền lực thứ tư” ở Việt Nam câm như hến liền
[2]. Và dư luận xă hội có muốn th́ cũng chả có điều kiện mà
phẫn với chả nộ. Cùng để ư nhé, rồi xem cái vụ ông “tổng”
kia sẽ được báo chí mổ xẻ phanh phui tới đâu. Tôi th́ đoán,
nó sẽ chẳng đi xa hơn vụ Lương Quốc Dũng.
|
Cây mai giá 650 triệu đồng |
Cây mai thế (dạng
bon-sai) giá sáu-trăm-năm-mươi-triệu, là tin mà một số báo
trong nước trong những ngày giáp Tết con Chó, hoan hỉ đưa
tin. Ừ, quả là đẹp thật. Sáu trăm năm mươi triệu mà không
đẹp th́ có … họa điên! (Logic này tuyệt đối đúng trong bối
cảnh xă hội chỉ c̣n một thước đo giá trị duy nhất: Tiền).
Nhưng liệu có mấy ai chịu nghĩ, cây mai này phục vụ ai, ai
đủ tiền chơi nó? C̣n ai vào đây ngoài những ông “tổng” kia.
Công bằng mà nói, từ khi cơ cấu kinh tế có nhúc nhích thay
đổi, cũng có những người bằng tài năng mà làm giầu một cách
chân chính đáng tự hào; nhưng tôi dám cá (lại cá độ) mười ăn
một, rằng không có ai giầu có một cách chân chính ở Việt Nam
lại động rồ bỏ ra ngần ấy tiền chỉ để chơi hoa mấy ngày Tết.
Tiêu tiền kiểu ấy, nếu không là lợi dụng quyền chức tham
nhũng th́ cũng là thứ dựa vào những thế lực kia để bán buôn,
làm ăn bất hợp pháp, kiểu mafia.
Khi viết những ḍng này, th́ của đáng tội, tôi chưa biết cây
mai “sáu trăm năm chục triệu” kia đă bán chưa và bán cho ai,
nhưng tôi biết chắc, giờ phút này khối người đă sắm sửa
những chậu mai giá vài ba, dăm bẩy chục triệu. Nhưng cũng
theo sự hiểu biết của tôi (và tôi tin chắc vào sự hiểu biết
của ḿnh trong trường hợp này), trong số những người chơi
những cây mai cỡ “thường thường bậc trung” đó, chưa có người
nào là chủ doanh nghiệp tư nhân và làm ăn hoàn toàn “sạch”.
Vài năm gần đây, thú chơi đào thế, mai bon-sai đă trở nên
khá phổ biến trong tầng lớp thượng lưu thành thị; đó là hiện
tượng lành mạnh, nếu sự giầu có này là lành mạnh. Nếu không
thế, nó chỉ là thú chơi lố bịch của một lớp trọc phú, trưởng
giả mà thôi.
Nói tới hoa, lại nhớ về một Hà Nội thời “tiền chiến”, tức là
trước 1954. Qua những tản văn xuất sắc của nhà văn Vũ Bằng,
ta có thể thấy, người Hà Nội phần nào có lư khi tự nhận ḿnh
là thanh lịch. Cách ăn, cách mặc, cách chơi …v.v, trong đó
có chơi hoa ngày Tết . Có thể kể ra đây, thú chơi hoa Thủy
Tiên (Ăn Tết Thủy Tiên – Vũ Bằng), thú đi chợ hoa Hàng Lược
(Hàng Lược giờ đi bộ xuống ḷng đường c̣n chả có chỗ chen
chân, nói ǵ chợ hoa chợ hoét), thú chọn đào bên Nhật Tân (Hỡi
ôi, Nhật Tân, Quảng Bá, Nghi Tàm, giờ biệt thự chóp củ hành,
khách sạn mi-ni phục vụ “hoa người”, mọc lên hết đất rồi c̣n
đâu cho đào với chả quất) … v.v, nhiều lắm, nhiều cách ăn
cách chơi, tao nhă có, cầu ḱ có, nhưng không thấy cách chơi
nào đặt nặng giá trị tiền bạc như bây giờ. Có lẽ, v́ khi đó
phần lớn mọi người cả giầu lẫn nghèo đều làm ra tiền bằng mồ
hôi nước mắt chăng?
|
Đào Trung Quốc trên vỉa hè Sài G̣n |
Tôi không sinh
ra ở miền Nam, nên không biết xưa kia, người Sài G̣n (miền
Nam) chơi hoa thế nào, nhưng bây giờ th́, cũng như Hà Nội,
thật là …buồn . Ngoài những trọc phú chơi những chậu mai vài
chục triệu đă nói bên trên, th́ người b́nh dân chơi ǵ? Ở
những khu dân cư truyền thống (nhà riêng, trong hẻm, diện
tích nhỏ) nhà nào cầu ḱ th́ làm vài cành đào… Trung Quốc
vẫn bán ở bất cứ đâu, hoặc đôi chậu cúc vạn thọ mà xe ba gác
đạp bán tận nhà. Ở những khu chung cư th́ … lôi chậu hoa
ni-lon ra rửa cho sạch bụi cũng xong. Không ai có th́ giờ và
kiên nhẫn để chăm chút gọt gị Thủy Tiên, hay xuống vườn
chọn từng bông ưng ư. Cái sự chơi bời giờ đây cũng trở nên
thực dụng đến thô thiển. Trong nhà th́ thế, c̣n ngoài phố
th́ sao? Ở những con phố chính, những ngày này bắt đầu rợp
những đèn và hoa. Đèn th́ dễ rồi, cứ chăng lên và cắm điện
là xong; nhưng c̣n hoa? Mới chỉ vài hôm trước chỗ đó c̣n là
dải phân cách bằng bê-tông cơ mà? Mùa xuân tới hoa chen nhau
đua nở chăng? Quên đi nhé, người ta có sáng kiến rất độc,
trồng hoa vào chậu hoặc giỏ, rồi mang ra những địa điểm được
chọn và xếp ra, muốn h́nh thù ǵ cũng có. Thế là “thành phố
muôn sắc hoa”. Nghĩ mà đau khi biết rằng Việt
Nam ta, một
nước nông nghiệp (theo lí mà suy th́ nông nghiệp tức là phải
nhiều cây xanh, nhiều hoa hoét chứ nhỉ?) nhưng tính theo tỉ
lệ dân, lại có diện tích cây xanh thấp nhất thế giới.
Bên trên, tôi có nhắc tới “hoa người”, vậy nhân dịp “xuân về
muôn hoa khoe sắc thắm”, tưởng cũng nên ṭ ṃ một chút về
thứ hoa đặc biệt (và “liên tục phát triển” trong những năm
gần đây) này. Cũng cần nói ngay, tôi sẽ chỉ t́m hiểu loại
hoa “hàng chợ”, là thứ b́nh dân, kiểu như đào, mai Trung
Quốc chứ không/chưa có ư định t́m hiểu loại hoa trong nhà
kính, tức là trong các quán bia ôm cao cấp, quán tắm hơi
mat-xa cấp cao; hay trong cuốn sổ điện thoại nào đó của các
Tú Bà hiện đại, kiểu mai sáu-trăm-năm-chục-triệu.
Trước đây, nói tới “chợ hoa” này, th́ người Sài G̣n thường
nghĩ ngay về khu vực Huyền Trân Công Chúa (phía sau ṭa soạn
báo Công An TP HCM), hoặc trước cửa công viên Tao Đàn, đường
Xô Viết – Nghệ Tĩnh; c̣n người Hà Nội th́ nghĩ về “chợ” trên
mạn Hồ Tây, hoặc hồ Thiền Quang. Bây giờ th́ không hẳn như
vậy. Chẳng ai chấp nhận cảnh “họp chợ” công khai và tấp nập
như thế giữa ḷng Thủ đô hay thành phố mang tên Bác. Bây giờ
chợ tản mát đi khắp nơi, quận nào cũng có vài cái “chợ” kiểu
này. Ừ th́ chợ b́nh thường có “chợ cóc”, “chợ chồm hổm”; vậy
dại ǵ chợ chị em ta không phát huy mô h́nh này? Nó mang đầy
đủ mọi ưu thế của những “chợ cóc” b́nh thường: rẻ, tiện lợi,
dễ dàng di chuyển khi có lực lượng truy bắt. Ngay gần chỗ
tôi ở, khoảng ba năm nay, cũng xuất hiện một cái chợ như thế
(cuối con đường Đào Duy Anh lối đi tắt sang sân bay Tân Sân
Nhất, và di động lác đác trong khu vực công viên Gia Định –
Q. Phú Nhuận), có nàng đi bộ, có nàng lượn lờ ṿng ṿng
quanh “chợ” bằng xe đạp hoặc xe gắn máy (nghe nói các nàng
đi thuê). Tôi rủ một anh bạn đi thăm thú cái “chợ cóc” này.
Không đông vui tấp nập như các chợ b́nh thường ngày giáp Tết,
chợ “hoa người” có vẻ đ́u hiu. Sau vài cú ṿng xe, chúng tôi
tiến lại gần một “bông hoa”. Nàng nhoẻn miệng cười – không
biết nên viết, rằng đây là nụ cười kiểu ǵ – không chờ chúng
tôi hỏi, nàng nói (giọng Bắc Kỳ nhà quê chiêm trũng. Cũng
chỉ là ngẫu nhiên thôi, chứ đội ngũ này giờ rất “liên hợp
quốc”, tỉnh, thành, vùng, miền, nào cũng có): “Dù đôi tám
chục. Dù một năm chục. Bao pḥng”. Thấy chúng tôi mắt vẫn
láo liên, nàng nói tiếp: “Gía thế là hạ lắm rồi, gần Tết ít
người đi chơi nên mới thế, chứ b́nh thường là bẩy chục, dù
một”. Tôi hỏi: “Sao Tết lại ít khách?”. “Th́ Tết nhất người
ta lo về quê, lo sắm sửa, lo bao nhiêu việc khác nữa. Vừa
thiếu tiền vừa thiếu thời gian mà”. Tôi hỏi tiếp: “Dù đôi và
dù một là thế nào”. Nàng liếc xéo (khá dễ thương): “Th́ các
ông đi hai người đấy thôi”. Thấy chúng tôi rút thuốc ra hút,
không nói ǵ, nàng ḍ xét: “Các anh chơi được bao nhiêu?”.
Tôi đưa nàng hai chục ngh́n, bảo rằng biếu nàng và chỉ muốn
được chụp h́nh. Nàng nhẩy cẫng lên, gạt cái máy h́nh, thái
độ rặt Bin Laden: “Thôi biến mẹ các ông đi cho tôi nhờ. Xúi
quá”. Đi một quăng, quay lại nh́n, tôi thấy nàng đang bật
hộp quẹt gí vào … háng.
Như vậy, giá “dù đơn” ở “chợ cóc” là bẩy chục ngh́n ngày
thường, và năm chục ngày giáp Tết có bao luôn pḥng. Theo
một số thông tin trên các báo, th́ giá này vẫn thuộc hàng
“trung lưu”, v́ giá thật bèo để phục vụ loại khách như mấy
anh giai đứng ở chợ người Giảng Vơ chẳng hạn, là tương đương
tô phở Ḥa (Sài G̣n), tức là từ hai chục tới hai lăm ngh́n
đồng … một phát.
Cùng là “hoa” nhưng rơ ràng, “hoa người” không phải là nhu
cầu của thị trường trong những ngày giáp Tết. Tôi chợt chạnh
ḷng khi nhớ lại truyện ngắn “Người ngựa, ngựa người” của
nhà văn Nguyễn Công Hoan. Nhưng đó chỉ là “hoa” ở thị trường
b́nh dân thôi nhá, c̣n khu vực quí tộc tôi chẳng muốn bàn (giá
chót ở thị trường này là 500 ngh́n một “bông”, “tầu nhanh”.
C̣n hàng sang nữa th́ …vô giá. Có thể tương đương với cây
mai sáu-trăm-năm-chục-triệu. Mà cũng có thể hơn), v́ bàn sẽ
vừa buồn vừa …ấm ức. Nghe nói, thị trường này cuối năm, giáp
Tết hoạt động vẫn sôi nổi chẳng kém ngày thường, có khi c̣n
sôi động hơn, v́ các đại gia mafia, các quan lớn cần dùng
“hoa” để “xả xui” cuối năm mà. Không biết, nếu Nguyễn Công
Hoan c̣n sống, liệu ông có viết về “làng hoa” và khách “chơi
hoa” quí tộc không? Và ông sẽ có câu chuyện với tiêu đề thế
nào? (Dựa theo văn phong và cách nh́n của nhà văn này, tôi
đồ rằng, rất có thể tên truyện ngắn đó là …[2] )
Dịp Tết là lúc mà nhiều mặt hàng ở Việt Nam vào mùa “sale
off”, như quần áo, đồ dùng gia đ́nh …; ngược lại, cũng nhiều
mặt hàng lợi dụng cơ hội để tăng giá vô tội vạ, như rượu Tây
(để biếu xén), bia, thực phẩm …v.v. Nhưng chẳng có mặt hàng
nào như món “hoa người”, vừa hạ giá đ́u hiu, lại vừa rộn
ràng nâng giá.
Năm 1994 tôi có dịp sang Trung Quốc, khi đó nước này đă có
lệnh cấm đốt pháo [3]. Trong một bữa tiệc nhà hàng tại một
huyện nọ, tôi chứng kiến một đám cưới; và họ đốt pháo th́
thật khủng khiếp (Ôi, nhắc tới pháo, tôi nhớ nôn nao, nhớ
cồn cào cái không khí đêm giao thừa! Nhang trầm và khói pháo,
đó là Tết). Băng pháo không tính bằng mét như ta, mà tính
bằng “bành”[4] (một “bành” có đường kính 1m, băng pháo cuộn
lại có đường kính một mét là một “bành”. Tôi nhớ khi đó, ở
Việt Nam, tết nhất, cưới xin đốt cỡ 2, 3 mét pháo là ghê lắm
rồi). Chứng kiến cảnh đốt pháo đó cùng chúng tôi có ông chủ
tịch huyện (là chủ bữa tiệc ấy- huyện này thuộc tỉnh Triết
Giang, tôi không nhớ tên), ông ta rất khoái chí và tỏ ra tự
hào khi chúng tôi tỏ vẻ thán phục. Như vậy, có thể thấy, mặc
dù có lệnh cấm đốt pháo từ Trung ương, nhưng người Trung
Quốc không hề chấp hành triệt để lệnh này. Tại các tỉnh,
huyện nhỏ, thậm chí những thành phố không thuộc Trung ương,
người ta vẫn đốt. Và do đó, ngành sản xuất pháo của họ vẫn
duy tŕ. Bằng chứng là những ngày cuối năm nay, báo chí
trong nước có đưa tin về những vụ bắt pháo lậu, mà nguồn
hàng th́ 100% là từ Trung Quốc. Rất có thể, trong tương lai
gần, nhà nước ta sẽ gỡ bỏ lệnh cấm pháo (v́ ta luôn theo
đuôi người “anh hai”[5] này mà. Chẳng phải lệnh cấm pháo là
bắt chước Trung Quốc đó sao?); lúc đó dân Việt ta sẽ tha hồ
mà đốt pháo Tầu. Người dân miền Bắc (và cả nước?) chắc hẳn
chưa quên làng pháo B́nh Đà nổi tiếng một thời; khi nhà nước
cấm pháo, họ bị mất cân bằng cuộc sống trong nhiều năm, bởi
bỏ đi một nghề có tính gia truyền hàng trăm năm đâu phải
chuyện chơi. Làng nghề là một nét văn hóa, phá th́ dễ mà xây
th́ khó. Bằng chứng là những cuộc phát động khôi phục làng
nghề trong những năm gần đây nó nhem nhuốc lôi thôi thế nào.
Chỉ thương cho dân làng B́nh Đà, nghề nghiệp từ đời ông tằng
tổ phút chốc vứt đi cho những đồng nghiệp bên Tầu hưởng lợi,
chỉ v́ những quyết định bốc đồng, ngớ ngẩn!
Chẳng phải đặt vấn đề hoài (niệm, cảm, cổ) như Tưởng Năng
Tiến chân nhân, mà rơ ràng, ngày Tết, với người Việt là
khoảnh khắc thời gian người ta thường nhớ về những điều tốt
đẹp trong quá khứ và hy vọng, chờ đợi những điều tốt đẹp
trong tương lai. Trong hai vế vừa nêu, dường như vế thứ nhất
(hoài niệm) luôn hiện diện rất rơ nét trong tâm thức người
Việt, nhất là những người già. Có lẽ chính tâm thức này phản
ánh và lí giải tục thờ cúng tổ tiên của người Việt?
Không phải là ngoại lệ, Tết đến gần, tôi cũng thường dành
chút thời gian mà trầm tư mặc tưởng, ngẫm sự đời, sự người,
sự ḿnh. Nhưng lạ một điều, dù chưa già nhưng tôi luôn tơ
tưởng theo kiểu rất ông cụ: “Ôi, bao giờ cho tới ngày xưa!”.
Và cái tơ tưởng kia của tôi không phải không có lí của nó,
cứ nh́n hiện tại mà xem …, cái hiện tại này có điều ǵ, dù
là rất nhỏ, để tôi hy vọng ở tương lai?
Nói vậy thôi, chứ tôi vẫn luôn hy vọng, nhất là vào thời
khắc cuối năm này.
Sài G̣n - Ngày ông Táo về trời, 23 tháng Chạp 2006
-------------
Ghi chú:
[1] Tôi hiểu và chia sẻ nỗi bức xúc của mọi người, nhưng
tôi không hiểu và đặc biệt khó chịu với thái độ của báo chí
“mậu dịch”, khi họ hùa vào lên án các cầu thủ này (thậm chí,
họ nâng quan điểm, coi những cầu thủ này là … bán nước) mà
không hề trăn trở để lí giải tại sao các cầu thủ kia có thể
làm những việc dại dột đến vậy. Họ có biết rằng, những cậu
trai mới lớn (dưới 23 tuổi) kia đa phần đều thất học? (Văn
Quyến là một đứa trẻ trâu, được phát hiện khi mới 11, 12
tuổi, và từ đó chỉ biết có đá bóng). Trong khi đó, xă hội
đầy rẫy những kẻ lớn đầu, học hành bằng cấp đầy đủ, nắm
quyền cao chức trọng, chúng sẵn sàng bán bất cứ thứ ǵ miễn
là được giá, vậy th́ trách cái ǵ mấy đứa trẻ con ít học bán
độ?
[2] Tôi đoán rằng, tên truyện ngắn đó sẽ là: “Địt mẹ đời”.
[3] Trung Quốc chính thức cấm đốt pháo trước Việt
Nam 1
năm.
[4] “Thuật ngữ” này tôi nhớ không chính xác lắm.
[5] Bác Hồ gọi Liên Xô là “Anh cả”. Trung Quốc là “Anh
hai”.