Ngô Nhân Dụng
Sau khi dân Mỹ đă bỏ phiếu, nhiều nhà phân tích
vẫn hỏi: Tại sao đa số cử tri đă đưa đảng Dân Chủ lên nắm quyền kiểm soát ở Hạ
Viện, sau khi đă tín nhiệm đảng Cộng Ḥa suốt 12 năm qua? Sự thay đổi rất dứt
khoát, chắc phải có những nguyên do rất mạnh mẽ.
Nguyên do được nhắc tới nhiều nhất là Iraq. Tuy
nhiên, dù chiến tranh Iraq là một đề tài sôi bỏng trong những ngày tranh cử,
nhưng thực sự đảng Dân Chủ chưa thấy có một sách lược nào để thay đổi t́nh thế ở
Iraq. Hơn nữa, các dân biểu Hạ Viện không phải là những người quyết định chiến
tranh. Tổng thống Mỹ nắm quyền đó, và Thượng Viện mới là nơi chịu trách nhiệm
giám sát chính phủ về các vấn đề ngoại giao. Mà trong hai năm tới, không chắc
đảng Dân Chủ đă t́m cách buộc Tổng Thống Bush phải theo một chính sách nào đối
với chiến tranh Iraq. Đó là một mớ ḅng bong khó ḷng gỡ được trong một, hai năm.
Đến năm 2008 bầu cử lại Quốc Hội và bầu tổng thống Mỹ, đảng Dân Chủ chắc không
muốn dân chúng phán đoán kết quả của những chính sách do chính họ đưa ra là t́nh
h́nh Iraq vẫn chưa sáng sủa!
Một vấn đề khác thường ảnh hưởng tới lá phiếu của
cử tri là kinh tế. Nhưng trong mấy năm qua kinh tế Mỹ đang trên chu kỳ tăng
trưởng, chỉ có ba tháng thuộc quư thứ ba tỷ số gia tăng của Tổng Sản Lượng Nội
Địa mới tụt xuống 1.6 phần trăm, sau khi đă tăng trên 5 phần trăm trong quư thứ
nhất. Như vậy th́ dân Mỹ cũng không đổ tội cho đảng Cộng Ḥa về kinh tế để thay
đổi những người cầm quyền ở quốc hội.
Có lẽ yếu tố ảnh hưởng đến lá phiếu người dân
nhiều nhất là họ thất vọng về những lời hứa hẹn của đảng Cộng Ḥa trước khi được
dân trao quyền kiểm soát Quốc Hội trong “cuộc cách mạng bảo thủ” năm 1994.
Một trong những khẩu hiệu của bản “Hợp đồng với Mỹ
Quốc” năm 1994 mà ông Newt Gringrich, chủ tịch Hạ Viện đưa ra, là ông hứa hẹn
các đại biểu Cộng Ḥa sẽ hạn chế sự bành trướng của guồng máy chính quyền liên
bang. Sẽ bớt người, sẽ bớt số tiền chi tiêu, sẽ “làm
sạch thủ đô Washington!”
Nhưng tới nay, người ta thấy ngược lại. Trong hai
nhiệm kỳ của Tổng Thống Clinton, số nhân viên chính phủ liên bang đă giảm bớt
200,000, không kể quân đội và các lực lượng an ninh. Trong năm năm qua, khi cả
Hành Pháp lẫn Lập Pháp đều do đảng Cộng Ḥa kiểm soát th́ số nhân viên liên bang
không kể các ngành an ninh quốc pḥng đă tăng thêm 79,000 người.
Về chi tiêu cũng vậy. Các đại biểu Quốc Hội có
quyền biểu quyết ngân sách, họ nắm ch́a khóa tủ đựng tiền.
Nhưng sau khi đă hứa hạn sẽ làm cho guồng máy nhà
nước phải “nhỏ lại v́ không nhiều tiền tiêu,” các đại biểu Cộng Ḥa đă để cho
các món chi tăng lên nhanh hơn trước đó. Trong mấy năm thuộc nhiệm kỳ của Tổng
Thống Bush vừa qua, ngân sách liên bang tính trên đầu mỗi người dân đă tăng thêm
trên 3%. Trước đó, trong thời ông Reagan con số đó chỉ tăng 1.7% mỗi năm, thời
ông Clinton, chỉ tăng có 0.3%.
Tại sao dưới một chính quyền Cộng Ḥa ngân sách
chi tiêu lại tăng nhanh như thế, hơn hẳn thời chính quyền Dân Chủ, một đảng vẫn
bị đối thủ coi là chỉ biết “đánh thuế và chi tiêu” (tax & spend)?
Một lư do là các đại biểu Cộng Ḥa biết họ được
nắm quyền gần như hoàn toàn cho nên không e dè nữa.
Mỗi lần biểu quyết ngân sách, họ t́m cách nhét vào những món chi cho địa phương
của ḿnh, gọi là “earmarks.” Thử tưởng tượng một ông dân biểu Alaska đă ghi thêm
vào ngân sách dự án một cây cầu tốn 223 triệu Mỹ kim trong đơn vị của ông, để
chạy từ đất liền ra một ḥn đảo dân số khoảng 50 người! Ông ta sẽ kiếm
được bao nhiêu phiếu nhờ cây cầu đó? Nhưng chắc chắn nhiều người dân có việc làm
sẽ nhớ ơn ông và các nhà thầu xây cất sẽ ủng hộ quỹ tranh cử của ông. Đây là một
hành động được các nhà lập pháp thỏa thuận đồng ư với nhau, không tranh căi.
Năm 1995 khi đảng Cộng Ḥa mới kiểm soát Quốc Hội lần
đầu sau hơn 40 năm, chỉ có 1,439 vụ earmarks chi tiêu như vậy; tới năm ngoái số
earmarks lên tới 13,997 vụ, tăng gần gấp 10 lần.
Những dự án chi tiêu chung của nhà nước cũng quá
lớn. Đạo luật về trợ cấp tiền thuốc cho người già nghỉ hưu sẽ chi 1,200 tỷ Mỹ
kim trong 10 năm đầu, Tổng Thống Bush đưa ra trước kỳ bỏ phiếu năm 2004 để hướng
về 40 triệu cử tri lớn tuổi và rất chăm chỉ đi bầu. Nhưng sau cùng các cụ cũng
không hài ḷng v́ đạo luật rắc rối, những người bệnh ít chi dưới 2,250 đô la
tiền thuốc một năm th́ được giúp, những món chi trên 5,100 đô la v́ bệnh nặng
cũng được giúp, nhưng ở khoảng giữa là những người bệnh vừa phải th́ không! Một
đạo luật chi tiêu thả cửa khác nữa là những món trợ cấp cho nông gia, được Quốc
Hội thông qua năm 2002 trước kỳ bầu cử.
Tổng Thống Bush đă không phủ quyết một khoản chi
nào mà Quốc Hội thông qua. Trong đảng Cộng Ḥa có rất nhiều người chủ trương
chính phủ nhỏ, chi tiêu ít, và họ tự hỏi các nhà chính trị có c̣n tôn trọng
những nguyên tắc đó hay không!
Ngân sách chi tiêu rộng răi cũng tạo cơ hội tham
nhũng. Ông Dân Biểu Randy Cunningham ở San Diego đă thú nhận được các nhà thầu
biếu 2.4 triệu đô la, sau khi ông từ chức v́ báo chí phanh phui. Đó là những nhà
thầu về quốc pḥng được ông khuyến cáo, thầu những món chi phí được ủy ban của
ông chuẩn chi.
Vụ truy tố nhà vận động hành lang Jack Abramoff
làm cho nhiều dân biểu Cộng Ḥa bị liên lụy v́ đă nhận những món quà tặng của
ông Abramoff. Ông Tom Delay, chủ tịch khối Cộng Ḥa ở
Hạ Viện bị tai tiếng phải từ chức dân biểu. Dân Biểu Bob Ney liên can cũng từ
chức và có thể bị tù 10 năm nếu bị kết án. Dân Biểu Curt Weldon đưa mấy công ty
năng lượng Nga tới làm khách hàng cho công ty vận động của con gái ông.
Vụ tai tiếng làm đảng Cộng Ḥa mất uy tín gần ngày
bầu cử nhất là Dân Biểu Mark Foley bị bắt quả tang gửi điện thư có tính chất dâm
ô cho một thanh niên đă từng làm việc tập sự ở Quốc Hội, dưới sự giám sát của
chính ông. Một người bị liên lụy nặng nhất là Dân
Biểu Dennis Hastert, chủ tịch Hạ Viện từ khi ông Newt Gingrich từ chức. V́ ông
Haster đă được báo động về các hành vi thân mật của ông Foley với các thiếu niên
tập sự mà không tích cực ngăn cản, ít nhất không cho ông ta giám sát chương
tŕnh các tập sự viên nữa.
Báo Chicago Tribune lại tiết lộ những hành động
khả nghi của ông Haster. Năm 2002 và năm 2004 ông Hastert đă mua mấy mẫu đất ở
Illinois, tiểu bang mà ông đại diện. Năm 2005, Tổng Thống Bush đă kư một đạo
luật xây dựng đường sá chi 286 tỷ đô la; nhân dịp biểu quyết ông Hastert đă ghi
thêm một khoản chi 207 triệu đô la, làm một con đường trong tiểu bang của ông.
Sau khi đạo luật ban hành, giá đất trong vùng xây xa lộ tăng vọt. Xa lộ mới chạy
cách khu đất mà ông Haster mới mua chỉ có dăm cây số. Tháng Mười Hai năm 2005,
ông Hastert bán mấy khu đất của ḿnh, được lời 2 triệu đô la.
Khi đảng Cộng Ḥa tranh cử năm 1994 họ hô khẩu
hiệu sẽ làm sạch sẽ Washington. Nhiều cử tri Cộng Ḥa
thất vọng về các hành động của các dân biểu.
Vụ Dân Biểu Foley c̣n làm một khối cử tri Cộng Ḥa
khác chán nản, đó là những người sùng đạo. Suốt những
năm qua nhiều nhà chính trị Cộng Ḥa thắng cử nhờ đă hô hào sửa hiến pháp Mỹ để
ghi rơ không chấp nhận hôn nhân của những người đồng tính ái. Nay chính các
người lănh đạo đảng trong Hạ Viện đă t́m cách che chở cho một dân biểu đồng
tính, không những thế, không ngăn cản ông ta khi ông ve văn những thiếu niên 16
tuổi làm việc dưới quyền. Những người đạo đức không chấp nhận được thái độ đó,
và một con sâu có thể làm rầu cả nồi canh, đảng Cộng Ḥa lănh hậu quả.
Một bài học của cuộc bầu cử năm nay tại Mỹ là bất
cứ đảng chính trị nào, khi cầm quyền lâu quá th́ cũng dễ bị “sinh hư.” Chế độ
dân chủ tạo cơ hội không những cho người dân được thay đổi những người cầm quyền
khi họ không vừa ư, mà cơ chế dân chủ c̣n giúp cho các chính đảng có cơ hội tẩy
rửa lại nội bộ của ḿnh để không quên những chủ trương cơ bản và lư tưởng họ nêu
lên lúc ban đầu. Đây là một bài học cho những nước c̣n chưa biết thế nào là bầu
cử tự do. Cứ để cho một đảng cầm quyền tuyệt đối năm này qua năm khác th́ không
những dân không được hưởng quyền tự do bỏ phiếu mà c̣n khiến cho cái đảng cầm
quyền cũng sinh hư không thuốc nào chữa nổi!
Ngô Nhân Dụng