GS Nguyễn Mạnh Hùng.
Phạm
Trần
GS Nguyễn Mạnh Hùng: Nếu bị Trung Quốc tấn công th́ Việt Nam
không thể trông cậy vào ai. Hoa Kỳ không có lư do chính đáng
để bênh vực Việt Nam v́ Việt Nam không phải là đồng minh của Hoa
Kỳ.
Hoa Thịnh Đốn.- Tổng thống George W. Bush sẽ măn nhiệm ngày
20-1-2009 sau Tám năm cầm quyền. Thành công và thất bại của ông
sẽ được các Nhà viết sử phán xét, nhưng trước ngày ông rời Ṭa
bạch Ốc, Tổng thống Bush chỉ c̣n được 26 phần trăm dân chúng
tín nhiệm trong khi có tới gần 90 phần trăm số phần trăm cho
rằng nước Mỹ đang đi sai đường.
Trong số phầm trăm dân chúng không hài ḷng về đường lối ngoại
giao của Tổng thống Bush, kể cả việc theo đưổi hai cuộc chiến
tranh chưa thấy đường ra tại
Iraq từ năm 2003 và tại
Afghanistan từ năm 2001, đa số 3 trên 4 người dân coi cuộc
khủng hỏang kinh tế - tài chính hiện nay là hậu qủa của chính
sách chi tiêu không kiểm sóat được cho ngân sách Quốc pḥng của chính quyền Bush.
Giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng, chuyên gia Chính trị và Ngoại giao của
Đại học George Mason đă dành cho Tác giả viết bài này (Phạm
Trần) Cuộc phỏng vấn nhằm phân tích thành công và thất bại của
TT Bush trong lĩnh vực ngoại giao trong 8 năm cấm quyền của ông.
Cuộc phỏng vấn này cũng được phát h́nh trên hệ thống truyền
h́nh SBTN.
Dưới đây là nguyên văn Cuộc phỏng vấn :
NH̀N TỔNG QUÁT
H: Khi nói về chính sách Ngoại giao của chính quyền Bush, hầu
như mọi người đều đồng ư Tổng thống Bush đă ḥan ṭan thất bại
và làm mất uy tín của nước Mỹ trên chính trường Quốc tế từ khi
ông lên cầm quyền năm 2000.
Giáo sư có thấy như thế không và nguyên do từ đâu : Chiến tranh
Iraq, Chiến tranh ở Afghanistan hay v́ ông Bush đă theo đuổi
một đường lối ngoại giao độc tài nên đă làm mất ḷng nhiều
nước bạn vốn có truyền thống đ̣an kết mật thiết với Mỹ như Pháp
và Đức ?
Đ: Khi George W. Bush lên cầm quyền th́ chiến tranh lạnh đă hết,
nước Nga đang gặp khó khăn, Mỹ là siêu cường duy nhất, kinh tế
phát triển, ngân sách thặng dư, được các đồng minh kính nể, kẻ
thù e ngại. Khi ông Bush sắp ra đi, kinh tế bị suy thoái, ngân
sách thâm thủng nặng nề, quân đội bị cầm chân trong hai cuộc
chiến tranh chưa có lối ra, uy tín trên thế giới suy giảm trầm
trọng, mất sự kính nể của đồng minh và bị kẻ thù coi thường.
Nguyên nhân chính là tự tin quá đáng, quyết định vội vàng, đơn
phương, và giáo điều của chính quyền Bush
. Đường lối ngoại giao
này và hậu quả của nó được thể hiện qua hai cuộc chiến tranh ở Afghanistan và Iraq. Chiến tranh Aghanistan là cuộc chiến cần
thiết (necessary war) để tự vệ chính đáng nên được sự ủng hộ của
cả đồng minh, của kẻ thù cũ và ngay của cả các quốc gia côn đồ
(rogue countries), như Nga, Trung Quốc, Libya, Cuba, và Bắc
Triều Tiên. Chiến tranh Iraq là cuộc chiến tự chọn
(war of choice) dựa trên những tin tức t́nh báo sai lầm nếu không nói là
ngụy tạo, và một niềm tin không thực tiễn
(muốn biến Iraq và
vùng Trung Đông thành những quốc gia dân chủ)
cho nên không được
các đồng minh lớn ở Âu châu (Đức, Pháp) ủng hộ. Ở Afghanistan, quân Mỹ chiến đấu cùng quân NATO. Ở Iraq, Mỹ hiện nay gần như
chảy máu một ḿnh, các đồng minh thân thiết lúc đầu (Anh, Ba Lan,
Tây Ban Nha) hoặc đă hay đang rút quân về. Cuộc chiến Iraq làm
nước Mỹ mất uy tín, tốn kém nặng nề (khỏang 12 tỷ Mỹ kim một
tháng) mà chưa thấy ánh sáng ở đường hầm, không được nhân dân
ủng hộ, và quân đội bị căng mỏng thiếu khả năng ứng phó với một
cuộc khủng hoảng ở nơi khác.
TRUNG ĐÔNG
H: Về vấn đề ḥa b́nh ở Trung Đông, nhiều người thắc mắc không
hiểu tại sao Tổng thống Bush lại "làm ngơ" trong suốt 7 năm cho
đến tháng 11 năm 2007 mới bắt tay vào việc t́m giải pháp ḥa
b́nh giữa hai dân tộc Israel và Palestinians ? Và cho đến nay,
thỏa hiệp ḥa b́nh mà ông Bush muốn đạt được để cho dân
Palestinians có một quốc gia độc lập và nước Do Thái được khối Ả
Rập nh́n nhận để sống chung ḥa b́nh vẫn c̣n bế tắc sau Hội
nghị ở Annapolis, Maryland tháng 11 năm ngoái. Ông có t́m ra câu
trả lời tại sao không ?
Đ: Giáo sư Aaron David Miller, người đă làm cố vấn về vấn đề
Palestine cho sáu đời tổng thống Mỹ, nhận xét rằng trong việc
t́m giải pháp cho cuộc tranh chấp này, chính quyền Clinton đă
thất bại v́ quá sốt sắng, chính quyền Bush thất bại v́ thiếu cố
gắng.
V́ kinh nghiệm thất bại của Bill Clinton trong việc ép lănh tụ
Tổ Chức Giải Phóng Palestine (PLO) Yasser Arafat và Thủ Tướng Do
Thái Ehud Barak kư thỏa hiệp với nhau trong những tháng cuối của
nhiệm kỳ của ông, nên thoạt đầu chính quyền Bush chủ trương
"dậm
châm tại chỗ" (parking policy) để cho hai phe tự giải quyết lấy.
Đến khi bắt đầu can thiệp th́ chính quyền Bush, v́ ảnh hưởng của
nhóm vận động Do Thái và phe tôn giáo cực đoan, lại thiên vị
chính quyền Do Thái của Ariel Sharon v́ ông này "chống khủng bố." Chính sách thiên vị này không những bị Tổ chức Palestine chống
đối mà c̣n không được sự ủng hộ của ba trong
"nhóm bộ bốn" (the quartet) gồm Liên Hiệp Quốc, Mỹ, Nga, Liên Hiệp Âu Châu lập ra
để làm trung gian t́m giải pháp cho xung đột Do Thái-Palestine.
Sở dĩ măi đến tháng 11 năm 2007 chính quyền Bush mới đứng ra tổ
chức hội nghị ở Annapolis, Maryland, đem các phe phái có liên hệ
xa gần với tranh chấp ấy ngồi lại với nhau để bàn về giải pháp
"hai
quốc gia dân chủ sống cạnh nhau trong ḥa b́nh và thịnh vuợng" v́ một tổng hợp các lư do sau đây:
a) Trong cuộc bàu cử quốc hội
cuối năm 2006, đảng Dân Chủ chiếm được quyền kiểm soát cả hai
viện Quốc Hội, họ đ̣i chấm dứt chiến tranh ở Iraq;
b) Mùa Xuân
năm 2007, Ngoại truởng Condi Rice nhiều lần đi Trung Đông để vận
động thành lập một liên minh các nước hồi giáo Sunni
(gồm Ai Cập, Jordan, Saudi Arabia) chống lại liên minh hồi giáo Shia do Iran lănh đạo, nhưng Saudi Arabia không đồng ư mà c̣n gọi sự hiện
diện của quân Mỹ ở Iraq là một sự
"chiếm đóng;"
c) Các quốc
gia Trung Đông coi việc giải quyết tranh chấp Do Thái-Palestine,
chứ không phải chiến tranh Iraq, là ưu tiên số 1, mà Mỹ cần có
sự ủng hộ của họ ở Iraq để khỏi phải bị mang tiếng là một ḿnh
chống thế giới Hồi giáo.
H: Cũng liên quan đến vấn đề Trung Đông, ông có thấy Hoa Kỳ
tiến được bước đi ḥa b́nh nào gần hơn với hai nước Syria và
Iran (Ba Tư) nói riêng và ṭan khối Ả Rập nói chung sau 8 năm
cầm quyền của TT Bush ?
Đ: Không. Ở Syria, t́nh h́nh xấu ngay từ năm 2003 khi Mỹ đổ
quân vào Iraq và tố cáo Syria cho phép các chiến binh hồi giáo
và khí giới vuợt biên giới sang giúp Saddam Hussein. Năm 2005,
sau khi có cuộc đảo chính ở Lebanon lật đổ chính quyến thân
Syria v́ Syria bị nghi là dính líu đến việc ám sát cựu Thủ tướng
Lebanon Rafik Hariri, Mỹ cắt đứt quan hệ ngoại giao với Syria.
Mới mấy hôm trước, việc lực lượng đặc biệt của Mỹ từ Iraq xâm
nhập lănh thổ Syria để tiêu diệt nhóm thân al Qaeda đem lậu vơ
khí và chiến binh vào Iraq th́ t́nh h́nh căng thẳng hơn.
Bang giao Mỹ-Iran đi từ chỗ tốt đến xấu. Lúc khởi đầu chính
quyền Bush, đă có những cố gắng đem hai nuớc sát lại gần nhau:
đại sứ Iran tại Mỹ được mời đến Quốc Hội nói chuyện, Iran hứa
giúp t́m kiếm và cứu các phi công Mỹ bị bắn rơi trong cuộc chiến
tranh ở Afghanistan và cho phép tàu Mỹ đổ lúa ḿ giúp người
Aghanistan tỵ nạn xuống các hải cảng của Iran. T́nh h́nh trở nên
căng thẳng khi Mỹ đ̣i Iran không được ủng hộ Hezbollah và Hamas,
và chấm dứt chuơng tŕnh nguyên tử mà không chịu điều đ́nh trực
tiếp với Iran. Chính sách "thay đối chế độ"
(regime change), cấm
vận, và không điêu đ́nh áp dụng ở Iran đă thất bại.
Các đồng minh của Mỹ trong thế giới Á Rập th́ không hài ḷng với
chính sách thân Israel của chính quyền Bush và thiếu cố gắng
thành thật trong việc đ̣i Israel gỡ bỏ những xây cất mới của
Israel trên vùng đất Palestine và thi hành giải pháp hai quốc
gia sống cạnh nhau trong ḥa b́nh. Họ cũng chẳng thích áp lực
của Mỹ đ̣i họ dân chủ hóa. Dân chủ hóa ở Palestine đă đưa Hamas,
phe chống Israel quá khích lên cầm quyền. Cho tới nay, chính
sách thay đổi chế độ và dân chủ hóa các nước Iraq, Iran, Syria, biến vùng Trung Đông từ một
"ṿng cung bất ổn thành một ṿng
cung dân chủ và ổn định" đă thất bại một cách thảm hại.
PHI CHÂU
H: Tôi có cảm tưởng như vai tṛ bảo vệ
"an ninh và ḥa b́nh
thế giới" của Hoa Kỳ đă không c̣n được tin cậy dưới thời TT Bush
đến nỗi Uy tín của nước Mỹ đă mất ảnh hưởng tại một số nước
đang có khủng hỏang chính trị nội bộ ở Phi Châu như Zimbabwe, Democratic Of Congo (DRC), Sudan
? Tại sao vậy ?
Đ: Lúc đầu chính quyền Bush thiên về phương thức hành động đơn
phương, chú trọng đến quyền lợi quốc gia hơn quyền lợi của
"cộng
đồng thế giới," (hủy bỏ Tokyo protocol về giảm nhiệt môi trường,
không chịu kư hiệp ước thành lập Ṭa án h́nh sự quốc tế và hiệp
uớc cấm vơ khí vi trùng, rút khỏi các chuơng tŕnh của LHQ liên
quan đến việc thành lập các trung tâm giúp phá thai), và từ chối
vai tṛ "cảnh sát quốc tế." Chính sách này đâu có liên hệ ǵ
đến việc "bảo vệ an ninh và ḥa b́nh thế giới"? Từ sau cuộc
khủng bố 09/11/2001, với cuộc chiến tranh Aghanistan và Iraq và
chiến luợc "đánh phủ đầu" (pre-emption), Hoa Kỳ, chứ không phải
Al Qaeda và phe hồi giáo quá khích, bị coi là mối
"đe dọa" của
nhiều nước khác. V́ hành động hung hăng đơn phương của chính
quyền Bush mà Mỹ bị cựu tỗng thống Pháp, Jacques Chirac, chỉ
trích là "cường quốc cowboy hiếu động"
(cowboy hyperpower.)
Khủng hoảng chính trị ở Phi Châu bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân
phức tạp (độc tài, nội chiến, xung đột bộ lạc, vi phạm nhân
quyền) khó giải quyết. Ở vùng đất này, quan tâm của Mỹ chỉ liên
quan đến vấn đề vi phạm nhân quyền chứ không phải là vấn đề
chiến lược ảnh huởng trực tiếp đên an ninh của Mỹ nên chỉ hành
động lơ là, v́ thế không hữu hiệu. Tốt nhất là hành động qua
Liên Hiệp Quốc mà những thành phần bảo thủ cực đoan trong chính
quyền Bush lại không ưa LHQ. Mặt khác, lực lượng ǵn giữ ḥa
b́nh của LHQ lại không hữu hiệu nếu không có sự hỗ trợ của Mỹ.
Hiện nay, Mỹ vẫn là một "quốc gia không có không được"
(indispensable nation), nhưng quân đội và khả năng tài chánh đă
dồn cho hai cuộc chiến ờ Iraq và
Afghanistan rồi nên dù muốn,
Mỹ cũng không có khả năng giúp giải quyết hữu hiệu các khủng
hoảng tại Phi Châu và tạo ảnh hưởng ở đó.
NAM MỸ
H: Trong ít năm cuối của nhiệm kỳ thứ 2 của TT Bush, tôi thấy
Trung Hoa và nước Nga đă tạo được ảnh hưởng kinh tế và quân sự
với một số nước ở Nam Mỹ như Venezuela, Bolivia, El Salvador trong khi Cuba vẫn đứng vững là một nước Cộng sản chỉ
cách bờ biển Miami dưới 100 dặm. Giáo sư có chút lo ngại nào về viễn ảnh nước Mỹ bị Nga và Trung Hoa
"bao vây" ở Nam Mỹ không
?
Đ: Không. Nga và Trung Quốc hành động ở Nam Mỹ v́ quyền lợi của
họ cũng như hành động của Mỹ tạo đồng minh
ở Âu châu và Á châu
sát nách với hai nước đó. Dù sao, Mỹ vẫn là một siêu cường duy
nhất. Khả năng Mỹ bao vây Nga qua việc nới rộng NATO và gây ảnh
hưởng tại các quốc gia Trung Á, và bao vây TQ bằng cách tăng
cường quan hệ với các quốc gia Đông Á, Nam Á, và Đông Nam
Á nhiều hơn là khả năng Nga và Trung Quốc bao vây Mỹ ở Nam Mỹ.
Ngoài ra, Nga và Trung Quốc không có chung quyền lợi với nhau,
và không có một quốc gia hay một liên minh quốc gia nào ở Nam Mỹ
có thể đối đầu với Mỹ đuợc.
Á CHÂU-VIỆT NAM
H: Đối vớI t́nh h́nh ở
Á Châu th́ Giáo sư cũng biết Trung Hoa
đang bành trước sức mạnh Quân sự của họ để cạnh tranh ảnh hưởng
với Mỹ trong vùng Thái B́nh Dương và Ấn Độ Dương. Việt Nam, tuy
là một nước bé nhưng lại có một bờ biển dài trên 3,000 cây số và
đang tranh chấp chủ quyền lănh hải và quyền lợi kinh tế với
Trung Hoa và một số nước trong khu vực Đông Nam Á, trong đó có
nguồn dư trữ dầu hỏa và khí đốt là chính . Nếu bị tấn công trên
biển th́ Việt Nam trông cậy vào ai ? Hoa Kỳ có thể đứng yên nh́n
Việt Nam lâm nạn được không, hay phải nhảy vào để bảo vệ đường
lưu thông cho tầu bè trên biển Nam Hải ?
Đ: Hiện nay, nếu bị Trung Quốc tấn công th́ Việt Nam không thể
trông cậy vào ai. Hoa Kỳ muốn duy tŕ tự do lưu thông trên biển
Nam Hải, nhưng không có lư do chính đáng để bênh vực Việt Nam v́
Việt Nam không phải là đồng minh của Hoa Kỳ. Ngoài ra, Hoa Kỳ
vẫn có thể trông cậy vào Úc, Nhật, Đài Loan, Thái Lan, có thể cả
Nam Dương nữa trong việc duy tŕ sự hiện diện hải quân của ḿnh
ở Thái B́nh Dương.
H: Bắc Hàn ngày nay có c̣n là mối hiểm họa nguyên tử ở Á Châu
nữa không hay khối 6 thành phần gồm Mỹ, Nam Hàn, Nhật,
Nga,Liên Hiệp Quốc và Trung Hoa đă "mua đứt" lănh tụ Kim Jong Il
để giúp TT Bush đạt được một thành tích ngoại giao trước khi
ông rời Ṭa Bạch Ốc, hay đây là thành công ngoại giao duy nhất
của chính quyền Bush sau 8 năm cầm quyền ?
Đ : Việc mua bán này chưa ngă ngũ. Bắc Hàn chỉ bắt buộc phải
chấm dứt chương tŕnh nguyên tử của họ nếu Trung Quốc thực sự
muốn như thế và ra tay hành động. Việc Bắc Hàn từ lúc không có
vơ khí nguyên tử cho đến lúc có vơ khí nguyên tử là thất bại của
chính sách thiên về "thay đổi chế độ" trong khi Mỹ không có khả
năng ấy, và từ chối thương thuyết đơn phương với Bắc Hàn.
CHỖ ĐỨNG LỊCH SỬ
H: Tổng thống Bush sẽ một chỗ đứng như thế nào trong lịch sử Ngoại giao của nước Mỹ ?
Đ : C̣n quá sớm để đưa ra một phán đoán cuối cùng về chỗ đứng
của chính quyền Bush trong lịch sử Mỹ. Ông Johnson bị nguời
đương thời chỉ trích rất nhiều v́ cuộc chiến ở Việt Nam, nhưng
lịch sử đă đối xử tốt hơn với ông và cho ông thành tích thực
hiện một cuộc cách mạng xă hội không đổ máu, tạo thay đổi lớn
lao trong thân phận người da đen và trong quan hệ chủng tộc ở
Mỹ.
Một kết toán tạm thời về những thành công và thất bại của TT
Bush có thể như sau:
* Về thành quả, ông Bush đă chuyển nhanh
chóng từ một TT thời b́nh sang TT thời chiến sau biến cố 9/11
(2001) xảy ra, và trong hơn bảy năm qua đă giữ cho không có một
hành động khủng bố nào xảy ra trên lănh thổ Mỹ. Tại Aghanistan
và Iraq, quân Mỹ đă đánh gục địch thủ một cách nhanh chóng và
gọn ghẽ.
*
Ông thành công trong chiến tranh, nhưng thất bại trong ḥa b́nh;
việc quản lư Iraq một cách vụng về sau chiến thắng tiên khởi đă
đưa nước Mỹ vào một chiến tranh lâu dài, tốn kém mà triển vọng
thành công c̣n xa vời, quân đội Mỹ phải căng một cách tối đa
không có khả năng tranh dành ảnh hưởng với các quốc gia đang
lên, ngân sách quốc gia thâm thủng nặng nề, uy tín trên thế giới
xuống thấp, bạn không nể, thù không sợ.
* Ở trong nước, chính sách
kinh tế tài chánh của của TT Bush đă góp phần đưa đến một cuộc
khủng hoảng tài chánh trầm trọng. Chính sách xă hội giáo điều
dựa vào niềm tin tôn giáo bảo thủ cực đoan của ông thay v́ tạo
đoàn kêt dân tộc như ông hứa đă đưa đến sự chia rẽ dân tộc.
*
Nhưng, nếu v́ một phép mầu nào đó mà các nhà lănh đạo Iraq ngồi
lại đuợc với nhau để xây được một nuớc Iraq dân chủ ổn cố th́
lịch sử nuớc Mỹ sẽ dành cho TT Bush một cho ngồi xứng đáng với
viễn kiến của ông.
H: Mỗi vị Tổng thống Mỹ khi hết nhiệm kỳ đều để lại cho hậu thế
một kỷ niệm khó quên. Kỷ niệm ấy có thề xấu hay tốt hay lẫn lộn.
Vậy hai ông có dành cho Tổng thống Bush một chỗ đứng nào trong
trái tim ḿnh không?
Đ: Tổng Thống Bush là người có một niềm tin lớn lao cả về phương
diện lư thuyết kinh tế lẫn tôn giáo; ông thuờng suy nghĩ và hành
động một cách giáo điều, v́ thế đă đưa đến các khó khăn ngoại
giao và kinh tế trầm trọng cho nước Mỹ.
Trong trái tim tôi, có hai h́nh ảnh của Tổng Thống Bush: một bên
là h́nh ảnh của một nhà lănh đạo thất bại v́ bướng bỉnh quyết
định theo niềm tin hơn là lư trí (faith-based not reason-based), bên kia là h́nh ảnh của một con nguời tốt bụng, thành thật, dễ
tin, và có tinh thần trách nhiệm đă v́ quyền lợi quốc gia mà hy
sinh niềm tin của ḿnh vào ư thức hệ bảo thủ tôn sùng kinh tế
thị truờng để áp dụng những biện pháp cứu nguy kinh tế mà phe
bảo thủ quá khích cho là đi vào con đuờng xă hội chủ nghĩa.
H: Trách nhiệm ngọai giao và gánh nặng kinh tế của vị Tổng
thống kế nhiệm ông Bush lớn lao như thế nào ?
Đ: Tất cả những khó khăn kinh tế và ngoại giao đều xảy ra duới
chính quyền Bush và bắt nguồn từ chính sách của chính quyền
Bush. Ông Bush phải chịu trách nhiệm này.
Phạm Trần (11-2-08)