NHỮNG CON
THIÊU THÂN TRONG LÀNG BÁO VIỆT
Việt Nam ta từ ngày có nạn giặc cờ đỏ
tung hoành trên đất nước, luôn luôn có những
loài thiêu thân tự nguyện đâm đầu vào đống
lửa (CS) để tự đốt cháy ḿnh và đốt cháy
luôn cả quê hương. Tôi xin nói về những con
thiêu thân trong làng báo, và trước hết là
những con thuộc mấy tờ báo của cái gọi là
Lực-Lương-Thứ-3 tại miền Nam (VNCH) trước
đây.
Hiệp Định Paris 1973 như ta thấy chẳng
giải quyết được vấn đề ǵ. Trái lại chiến
tranh vẫn tiếp diễn và càng ngày càng khốc
liệt hơn. Một mặt Hoa Kỳ rút ra, không những
quân đội, mà c̣n quân trang, quân dụng và
yểm trợ. Mặt khác, mức độ xâm nhập người và
vũ khí của CS miền Bắc đổ vào miền Nam tăng
theo tỷ lệ nghịch. Vấn đề miền Nam rơi vào
t́nh trạng bế tắc và bất lợi trông thấy.
Trước t́nh h́nh đó, một nhóm người gọi là
Lực Lượng Thứ 3 do CS dấu mặt nặn ra để làm
ung thối miền Nam cũng ráo riết gia tăng
hoạt động. Họ đa số là những người trẻ xông
xáo muốn làm công việc đội đá vá trời là
khai sáng con đường để giải quyết vấn đề
chiến tranh. Con đường đó là con đường bắt
tay với bọn Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam
dưới chiêu bài ḥa hợp ḥa giải dân tộc. Một
số những bộ mặt nổi năng nổ nhất nằm trong
các tờ báo Tin Sáng, Điện Tín, và Đại Dân
Tộc như Lư Qúy Chung, Ngô Công Đức, Nguyễn
Văn Binh, Kiều Mộng Thu v.v. Đám này nhân
danh quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí
của miền Nam để tung hoành lũng đoạn. Nhờ
bọn người này, cộng sản miền Bắc mới thôn
tính được miền Nam một cách nhanh chóng và
dễ dàng như đă thấy.
Khi CS xích hóa được miền Nam rồi, bọn
này được ǵ? Điều mơ ước của họ như khoe mẽ
là một mền Nam độc lập (khỏi ảnh hưởng Mỹ)
và trung lập. Nhưng độc lập chẳng thấy.
Trung lập cũng không. Một chế độ CS Marxit
duy nhất phủ chụp lên toàn đất nước sau đó.
Số phận của những con thiêu thân báo chí
cũng chết theo cùng với mảnh đất miền Nam .
Kẻ th́ chạy mối vỉa hè hoặc xoay nghề buôn
lậu kiếm sống. Người th́ lột xác trở thành
bút nô cho chế độ. Có kẻ vỡ mộng nên t́m
đường vượt biên trở thành người tỵ nạn bất
đắc dĩ. Số phận các tờ báo của bọn này tất
nhiên cũng đều cùng chung số phận.
Lịch sử xem chừng lại tái diễn trong
cộng đồng người Việt tỵ nạn trên đất Mỹ. 32
năm rồi, nhiều người cảm thấy là một thời
gian quá dài. Cuộc chống cộng bị coi như
công dă tràng. Không thiếu cá nhân và đoàn
thể đang loay hoay t́m cách khai thông con
đường cứu nước. Họ cho rằng chống cộng là
một lối ṃn vô hiệu quả. Rốt cuộc người ta
thấy rất rơ con đường mà họ đang lăm le bước
vào th́ cũng lại là con đường của nhóm Thành
Phần Thứ 3 trước kia tại Miền Nam mà thôi.
Nghĩa là con đường đầu hàng CS. Trong làng
báo và truyền thông, một số mới liệng ḥn đó
ḍ đường bằng những bài báo nửa nạc nửa mỡ
chứ chưa dám công khai chối bỏ thân phận tỵ
nạn CS của ḿnh. Nhưng mới đây tờ tuần báo
VietWeekly tại miền nam Cali đă công khai xé
rào tính chuyện lớn. So với nhóm Tin Sáng,
Điện Tín, và Đại Dân Tộc trước kia,
VietWeekly có rất nhiều điểm kể là tương
đồng. Cả hai đều gồm những thành phần trẻ
năng động và có căn bản học vấn. Cả hai đều
cho ḿnh là những tiên phong đứng ra mở
đường khai lối cho bế tắc của thời cuộc. Cả
hai cùng tự xác nhận căn cước
(identification) không phải là CS, cũng
không thân cộng. Nhưng lối làm truyền thông
của họ lại để ḷi cái đuôi con chồn, chẳng
khác ǵ tự ḿnh hô lên “lậy ông tôi ở bụi
này”, chứ chẳng ai vu vạ đổ oan. Cả hai đều
trương bảng hiệu tự do ngôn luận, tự do báo
chí khi hành động. Dư luận tin chắc cả hai
nếu thật sự thành tâm th́ đúng là họ chẳng
hiểu CS, nhất là CSVN là cái ǵ. Từ nhược
điểm này, nhóm truyền thông của Thành Phần
Thứ 3 đă không ngờ tự biến thành công cụ của
CS. Điều hết sức đau đớn xẩy đến cho họ là
những mơ ước ngây thơ của họ đă chết tức
khắc và tức tưởi ngay sau khi CS chiếm đoạt
được miền Nam. Không một lời điếu. Không một
ṿng hoa. Không một người thân đưa tiễn.
Hoàn toàn im lặng. Chó chết hết chuyện. Các
người trẻ của tờ Viet Weekly không biết có
nh́n ra được điểm này không?
Thú thực tôi chưa bao giờ đọc tờ Viet
Weekly. Tôi chỉ chú ư tới tờ báo này sau khi
có cuộc họp báo của một số nhân vật dưới nam
Cali tố cáo VietWeekly thân cộng, bôi xấu
chế độ VNCH, cổ vơ khủng bố v.v. Rất may một
hôm cuối tuần đi ăn sáng với bạn bè, tôi
lượm được một số báo VietWeekly nên mới có
dịp để đọc nó. Trong số này hầu như các bài
vở đều tập trung vào việc phản biện các điều
tố cáo kia, đồng thời gián tiếp nêu lên chủ
trương, đường lối của tờ báo đối với độc
giả. Nhờ đó tôi mới có thể có được một nhận
xét khái quát về tờ báo này.
Luận điểm của VietWeekly đưa ra để tự
biện hộ là chủ trương tự do ngôn luận, thông
tin hai chiều (Lê Vũ: Chúng tôi chủ trương
tự do ngôn luận). Phương pháp VietWeekly áp
dụng để t́m ra giải pháp cho vấn đề của đất
nước hiện nay là đối thoại (Đông Duy: Điều
chính yếu là sự đối thoại. Chính trong đối
thoại rốt ráo người ta sẽ t́m ra được một
giải pháp đứng đắn). Và quan trọng hơn hết,
niềm tin hỗ tương của hai bên đối thoại, tức
VietWeekly và nhà cầm quyền CSVN là cần
thiết (Đông Duy: Mặt khác là những tia hy
vọng đầu tiên qua sự bầy tỏ thiện chí của
phía bên kia như trong lời tuyên bố mới đây
nhất của chủ tịch nhà nước Nguyễn Minh Triết
với báo chí Đức “Chúng tôi đă làm ḥa với dĩ
văng”. Đây là một câu nói mà người ta chờ
đợi từ hơn nửa thế kỷ qua ….). Tôi xin khái
quát đi vào 3 điểm trên.
Trước hết về vấn đề đối thoại. Trên mục
Thư Ṭa Soạn của số báo tôi có trong tay,
Viet Weekly viết: Chuyến đi của ông Triết
đánh dấu sự sẵn sàng tiếp cận, đối chất,
tranh luận với những vấn đề nhậy cảm của
phía cộng đồng hải ngoại đưa ra. Có thể coi
đó là một tiến bộ chung.
Đối thoại. Đối thoại. Nếu cứ nói khơi
khơi không chừng sẽ lại là việc nói chuyện
với đầu gối. Trong các vấn đề xung khắc giữa
con người với con người, chủ trương đối
thoại là điều tốt. Nhưng chuyện ǵ cũng phải
có cái lư của nó. Cần thiết phải biết đối
thoại là ǵ, đối thoại với ai, đối thoại về
vấn đề ǵ, và nhất là đối thoại trên tinh
thần nào. Người b́nh dân hiểu một cách nôm
na, chữ đối thoại (dialog) là nói chuyện
giữa hai người hoặc hai bên. Mục đích cuả
đối thoại là t́m ra một chân lư đồng thuận.
Cuộc đối thoại phải dựa trên tinh thần hiểu
biết, bao dung, tương kính, và tôn trọng lẫn
nhau. Nếu không dựa trên tinh thần đó th́
đối thoại không thể gọi là đối thoại thực
sư. Căn cứ vào các tiêu chuẩn trên về đối
thoại, chúng ta có thể khẳng định VC không
hề biết đối thoại là ǵ. Trong mỗi kỳ họp
đại hội đảng, VC luôn kêu gọi người dân đóng
góp ư kiến. Dân chúng đóng góp ư kiến rất
nhiều và là những ư kiến xây dựng cho CS. Đó
là một h́nh thức đối thoại. Nhưng có bao giờ
CS lắng nghe những ư kiến đó đâu. VC đă
không nghe ư kiến của người dân trong nước
th́ dễ ǵ chúng lắng nghe người tỵ nạn chúng
ta? Nếu CS muốn đối thoại với với tập thể tỵ
nạn chúng ta th́ tại sao chúng áp lực các
chính phủ Indonesia và Mă Lai đập phá các
bia tưởng niện thuyền nhân? Tại sao trong
khi VC đập phá các bia tưởng niệm thuyền
nhân, chúng lại hứa hẹn cho một số người tỵ
nạn trùng tu nghĩa trang QĐ Biên Ḥa? Giả sử
nếu tập thể chiến sĩ QLVNCH đứng ra nêu yêu
cầu đó, liệu VC có sẵn sàng chấp nhận không?
Tôi tin rằng c̣n khuya. Những đ̣n phép kiểu
đó trong nghề làm chính trị chỉ là những cái
mồi câu để nhử những con cá đói ăn và khờ
dại. Những người trẻ đầy bầu nhiệt huyết của
Viet Weekly có bao giờ thắc mắc để t́m hiểu
những lắt léo trong các vấn đề đại loại như
thế không?
Nguyễn Minh Triết sang Mỹ tiếp xúc với
những cộng đồng người Việt nào để đối chất,
tranh luận về những vấn đề nhậy cảm mà gọi
là một tiến bộ chung. Tin túc cho biết Triết
chỉ gặp một người Việt tại Mỹ là bà Bs Quỳnh
Kiều, và h́nh như có cả Nguyễn Cao Kỳ nữa?
Mà Quỳnh Kiều và Cao Kỳ là ai th́ người
Việt tỵ nạn hẳn đều biết rơ. Sự thể cho thấy
CS chỉ gặp gỡ nói chuyện với những kẻ đă đầu
hàng và phục vụ cho chúng. Một ḿnh Quỳnh
Kiều hay có thêm cả Nguyễn Cao Kỳ nữa cũng
không thể gọi là cộng đồng người Việt tỵ
nạn. Cuộc nói chuyện giữa vài ba người trong
tư thế và thân phận của họ như thế, tôi tin
rằng chỉ là cuộc trao đổi, mặc cả mối làm ăn
giữa các con buôn. Hành động của Triết không
thể coi là dấu chỉ của một tiến bộ nào hết.
Đối thoại với VC c̣n khó hơn là lên sao Hỏa.
Trong ṿng chừng 20 năm nữa có thể con người
sẽ đặt chân lên được Hỏa tinh. Nhưng khẳng
định một triệu năm sau chúng ta vẫn không
thể nào đối thoại ṣng phẳng được với VC. Lư
do rất dễ hiểu. Bản chất của con người CS là
bản chất của quỉ dữ: lưu manh, lừa lọc, phản
trắc và cực kỳ ngoan cố …. C̣n chúng ta dù
sao cũng c̣n là những con người nhân chi sơ
tính bản thiện.
Hơn nữa, việc xây dựng được một niềm
tin đối với CS trong việc đối thoại hoàn
toàn là điều không tưởng. Thực tế và lịch sử
VN đă chứng minh. Những Hiệp Ước và cam kết
quốc tế mà VC c̣n dám xé giục thùng rác,
những lời hứa nhăng hứa cuộc của chúng lại
đáng tin sao. Thật là vô lư. Chỉ cần ôn lại
một chút lịch sử chúng ta sẽ thấy ngay đó là
một điều không tưởng. Năm 1946, một chính
phủ liên hiệp mới thành h́nh chưa kịp đi vào
sinh hoạt ổn định th́ CS đă tiên hạ thủ vi
cường các đảng phái quốc gia trong chính phủ
đó. Năm 1973 Hiệp Định Paris kư chưa ráo mực
th́ CS Bắc Việt đă ồ ạt xua quân vào miền
Nam bởi chúng bết rơ HK rút ra không c̣n bao
giờ trở lại. Mỗi năm tết đến hai bên đều có
tuyên bố ngưng chiến, nhưng không năm nào VC
không vi phạm lệnh ngưng bắn. Hành động vi
phạm trắng trợn, thô bạo, và đẫm máu nhất
xẩy ra dịp tết Mậu Thân 1968. Những sĩ quan
và viên chức hành chánh VNCH nghe lời phỉnh
gạt đi học tập cải tạo 10 ngày, nhưng thực
tế là trung b́nh trên 10 năm. Những tṛ lừa
gạt trắng trợn như thế bảo sao mà c̣n tin
tưởng được nữa! Chỉ bằng vào việc Nguyễn
Minh Triết tuyên bố với báo chí Đức “Chúng
tôi đă làm ḥa với dĩ văng” mà ViêtWeekly
cho rằng CS có thiện chí, đáng tin th́ quả
thực các người trẻ tuổi này là những người
điếc không sợ súng. CS có đáng tin hay
không, đưa ra những lư luận hùng biện mấy
cũng không bằng nh́n vào tấm gương của những
con người thực cả đời đă tin vào CS. Các
người trẻ Viet Weekly về trí đă chắc ǵ bằng
những Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường. Về
công cán hẳn không thể nào qua mặt được bà
Cát Thanh Long, người đàn bà được CS tôn
vinh là bà mẹ kháng chiến. Những người này
đều là những nạn nhân của ḷng tin của ḿnh
vào CS. Với CS chỉ có một chân lư là “thuận
ta th́ sống, nghịch ta phải chết”. Đó là một
chân lư bất biến. C̣n chuyện tin hay không
tin, với CS đều không phải là vấn đề.
Nói đến chủ trương tự do ngôn luận của
Viet Weekly mà không nói đến Tu Chính Án Số
1 (TCA1) th́ hẳn là một thiếu sót.
Người viết c̣n nhớ rơ. Cách đây khoảng
10 năm khi ông Vũ B́nh Nghi đăng bài phỏng
vấn lănh sự CS Nguyễn Xuân Phong trên tờ
Thời Báo rồi bị công luận lên án gắt quá,
ông bèn đưa TCA1 ra làm bia đỡ đạn. Ông biện
luận rất triết lư như sau: Tự do báo chí là
tự do báo chí. Theo Hiến Pháp nước Mỹ, người
làm báo có quyền muốn viết ǵ th́ viết, muốn
đăng ǵ th́ đăng, v́ đó là tự do báo chí.
Sự thực, theo TCA1, người làm báo có
được hoàn toàn thoải mái trong khi hành nghề
như nhiều người nghĩ không? Câu trả lời sẽ
không đơn giản. Ta hăy nghe thẩm phán Oliver
W. Holmes giải thích bằng một thí dụ dí dỏm
nhưng rất hàm xúc như sau: Việc đảm bảo tự
do ngôn luận không cho phép một công dân đùa
giỡn la lối cháy nhà, cháy nhà trong một căn
pḥng đang có đông người hội họp. Anh ta rất
xứng đáng bị trừng phạt.
TCA1 bảo đảm các quyền tự do tôn giáo,
tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do báo
chí v.v. Dựa trên sự giải thích của thẩm
phán Oliver W. Holmes, nếu ai nói nhà báo có
toàn quyền muốn viết ǵ th́ viết, muốn đăng
ǵ th́ đăng là lối nói lấy được. Tự do báo
chí cũng có cái giới hạn của tự do báo chí.
Ta có thể kể ra các hạn chế sau đây:
1. Do Luật Pháp Qui Định – TCA1 bảo đảm
các quyền tự do tôn giáo, hội họp, báo chí
v.v. nhưng người làm báo không thể dựa vào
đó để phỉ bang, mạ lị người khác. Không được
phép xâm phạm vào đời tư người khác. Không
được phép tiết lộ bí mật quốc gia, an ninh
quốc pḥng v.v. Tóm lại, nhà báo không được
phép đi quá giới hạn mà luật pháp quốc gia,
tiểu bang, hay địa phương qui định trong khi
hành nghề. Những hạn chế này đặt ra cốt để
bảo đảm trật tự xă hội và an ninh của quốc
gia.
2. Nguyên Tắc Hỗ Tương Cam Kết – Đây là
một thứ luật bất thành văn, nghĩa là chỉ dựa
vào sự tin tưởng lẫn nhau, hay một sự cam
kết mặc nhiên giữa một bên là nguồn tin và
một bên là người kư giả. Chẳng hạn trong
thời Đệ Nhị Thế Chiến, các kư giả thường
được cho biết trước một thời gian ngắn nào
đó ngày quân đội đồng minh mở cuộc tấn công.
Hoặc trong chiến tranh VN, các kư giả Mỹ
nhiều khi cũng được thuyết tŕnh trước khi
một cuộc hành quân bắt đầu khởi diễn. Đó là
thứ tin tức tuyệt mật. Các phóng viên được
yêu cầu giữ kín cho đến sau khi cuộc hành
quân xẩy ra.
3. Lương Tâm Nghề Nghiệp – Không thể viện
dẫn TCA1 để đăng h́nh một em bé gái trần
truồng trên trang b́a của một tờ báo thiếu
nhi. Lương tâm của người làm báo không cho
phép họ làm chuyện đó. Lương Tâm nghề nghiệp
là một phạm vi rất khó phân định ranh giới,
nhất là trong nghề làm truyền thông. Nhà báo
có lương tâm phải tự hạn chế bớt tự do của
ḿnh khi lẽ phải đ̣i hỏi. Theo tiêu chuẩn
của nghề làm truyền thông Tây phương, người
kư giả phải là người có khả năng, nghĩa là
được huấn luyện đầy đủ và chu đáo. Để bảo
đảm cho việc thông tin được trung thực, họ
c̣n phải là người có lương tâm. Tuy nhiên,
lư thuyết th́ vậy, nhưng c̣n thực tế th́ lại
là chuyện khác. Báo chí HK vẫn được coi là
một mẫu mực tuyệt hảo của một nền truyền
thông tự do và trung thực mà qua đó, người
dân HK được biết một cách đầy đủ mọi sự việc
xẩy ra và mọi diễn biến trên khắp thế giới
mà không sợ bị lừa gạt. Thật sự là một sai
lầm lớn nếu chúng ta tin như thế. Chúng ta
thấy rơ sự thật là trong chiến tranh VN,
người dân HK đă bị báo chí của họ lừa gạt
thê thảm như thế nào. Hầu như tất cả các báo
chí Mỹ, kể cả đài phát thanh BBC của Anh
Quốc lúc đó đều cố ư đưa tin sai lạc và
tường thuật một cách thiên lệch về cuộc
chiến với một dụng ư xấu. Ngày nay chúng ta
đă biết rằng dụng ư đó là để hỗ trợ cho một
âm mưu của một số chính quyền HK chủ trương
triệt hạ cho bằng được chính phủ VNCH. Kết
quả là những dối trá và những điều nói láo
của cả một chiến dịch thông tin bất lương đă
làm nghiêng cán cân quyết định cuộc chiến về
cho phe CS Hanoi. Câu nói của Paul Joseph
Goebbels, bộ trưởng tuyên truyền của Đức
Quốc Xă áp dụng vào trường hợp này không c̣n
ǵ đúng cho bằng: Nói láo một lần th́ không
ai tin, nhưng nói láo một triệu lần th́ điều
dối trá sẽ trở thành sự thật. Ai tin th́ cứ
tin. Bằng vào kinh nghiệm đau thương của dân
tộc, người tỵ nạn VN dứt khoát không nên
hoàn toàn tin tưởng vào tính trung thực và
sự lương thiện của ngành truyền thông HK để
khỏi bị lầm. Cái ǵ cũng cần phải t́m hiểu,
phân tích rồi mới lượng định được. Một người
bạn tôi thường đùa dỡn và châm biếm rằng các
ông nhà báo Mỹ thường cất cái lương tâm của
họ vào tủ sắt trước khi anh ta rời nhà để
tới ṭa soạn làm việc. Như thế th́ chẳng bao
giờ anh ta sợ bị đánh mất lương tâm được.
Nếu cứ đem cái tiêu chuẩn trung thực của nền
báo chí Mỹ ra làm thước đo để biện minh cho
việc làm của ḿnh th́ e rằng có ngày mất cả
ch́ lẫn chài.
Nếu thực sự có lương tâm nghề nghiệp,
người kư giả hẳn không nên biện giải hoặc đề
cao những cuộc thiêu sống tập thể
(holocaust) của Đức Quốc Xă trước một cộng
đồng Do Thái. Nếu thực sự có lương tâm nghề
nghiệp, người kư giả tỵ nạn không nên biện
minh hoặc cho phép người khác biện minh về
vụ VC thủ tiêu hoặc chôn sống đồng bào hàng
loạt hồi tết Mậu Thân tại Huế trong cộng
đồng tỵ nạn chúng ta như Viêt Weekly đă làm.
Nếu chủ trương truyền thông trung thực th́
tại sao VietWeekly không cho đăng h́nh cha
Lư bị công an bịt miệng. Có nên nói rằng đó
là lối tờ báo này kiểm duyệt thông tin? Vậy
có chi khác với truyền thông CS? VietWeekly
giải thích thế nào th́ cũng không bịt miệng
được tiếng nói lương tâm của chính ḿnh. Tự
nhiên khi không Viet Weekly moi ra một bài
cũ rích từ diễn đàn điện tử Talawas đă hai
năm rồi của một cán bộ CS ở trong nước chửi
bới đủ thứ một chính thể đă chết, rồi bảo
rằng ḿnh làm truyền thông hai chiều. Vậy
chứ c̣n chiều kia đâu không moi ra cho đủ
cặp? Có ẩn ư ǵ đây? Liệu Viet Weekly có che
giấu nổi ẩn ư này trước lương tâm nghề
nghiệp của ḿnh không? Những người trẻ làm
thông tin trung thực và hai chiều là chuyện
rất đáng khen, nhưng chỉ làm cho cộng đồng
tỵ nạn thôi th́ có ǵ là công bằng, chính
đáng và thiết thực. Người Việt tỵ nạn ở hải
ngoại thực tế không thiếu bất cứ một thứ
thông tin nào, thừa mứa nữa là khác. Đồng
bào trong nước mới là những người đói khát
thông tin. Tại sao VietWeekly không gởi
những tin tức và bài vở của người Việt hải
ngoại về cho đồng bào trong nước đọc? Sợ VC
không cho? Nếu đă thông tin hai chiều cho
người Việt hải ngoại th́ tai sao lại cúi
ḿnh chấp nhận thông tin một chiều ở trong
nước? Đường lối truyền thông như thế mà dám
tự hào là truyền thông trung thực và hai
chiều sao? VietWeekly làm truyền thông kiểu
này cho người tỵ nạn có lẽ xứng đáng được
thẩm phán Oliver W. Holmes ra phán quyết như
sau: Việc bảo đảm tự do ngôn luận không cho
phép một nhà báo tỵ nạn CS trực tiếp hay
gián tiếp tuyên truyền cho chế độ đă từng
đàn áp và tước bỏ các quyền tự do của anh
ta. Anh ta rất xứng đáng bị đuổi cổ về nước.
Khi đă ư thức được bổn phận và trách
nhiệm đối với Dân Tộc th́ tự nhiên người kư
giả sẽ biết được ḿnh nên làm ǵ và nên
tránh những ǵ trong khi hành nghề. Không
thiếu ǵ những kinh nghiệm xương máu và nước
mắt trong vấn đề hành sử quyền tự do ngôn
luận. Khi tên nhà báo Vũ Hạnh bị bắt v́ tội
viết lách tuyên truyền cho CS, báo chí
Saigon nhao nhao lên phản đối. Lm Thanh Lăng
dám nhân danh quyền tự do báo chí, lấy cái
áo chùng thâm che chắn để đưa tên này ra
khỏi khám Chí Ḥa. Một chuyện cá nhân khác
nữa cũng tại Saigon, một anh nhà báo lớn,
Phạm Xuân Ẩn, chuyên kết giao với các tổng
bộ trưởng, tướng tá, và những cây cổ thụ báo
chí trong làng. Được cái dù tự do báo chí
che chở, hắn ngày ngày ngồi phét lác ở nhà
hàng Continental trên đường Tự Do, vừa nhâm
nhi cà phê vừa gởi tin ra Rờ (R, trung ương
cục miền Nam của CS). Sáng ngày 30-4-75 ,
hắn hiện nguyên h́nh là một tên đại tá VC
với dép râu nón cối. Ẩn đă núp kỹ dưới cái
dù tự do ngôn luận để bán đứng miền Nam cho
CS. Các tờ Tin Sáng, Điện Tín, Đại Dân Tộc
với một lô các nhà báo trẻ tuổi tài cao cũng
đă nhân danh quyền tự do ngôn luận để rước
CS vô Saigon. Những câu chuyện về báo chí
như thế th́ rất nhiều dưới chế độ VNCH.
T́nh trạng này lại đang thấy xuất hiện
trong các cộng đồng tỵ nạn của chúng ta.
Người ta vẫn bài bản cũ dưới cái dù tự do
ngôn luận. Chính sự lạm dụng tự do ngôn luận
của một số người đă làm chúng ta mất nước.
Bây giờ bọn báo chí bất lương được chỉ đạo
bởi Nghị Quyết 36 của CS cũng đang âm mưu
thôn tính các cộng đồng tỵ nạn của chúng ta
dâng vào tay CS. Một ngàn năm giặc Tầu đô
hộ, cha ông ta kiên tŕ chiến đấu hết thế hệ
này qua thế hệ khác mà không kể là lâu. Một
trăm năm nô lệ giặc Pháp, cha ông ta cũng đă
kiên tŕ chiến đấu cũng vẫn không kể là lâu.
32 năm so sánh xem đă thấm vào đâu. Sao tuổi
trẻ nóng ḷng và chóng mất kiên nhẫn thế!
Cha ông ta chống giặc, có kiếm dùng kiếm, có
giáo dùng giáo, có gậy dùng gậy. Ngày nay
người Việt tỵ nạn chúng ta chỉ c̣n thứ vũ
khí là biểu t́nh, kiến nghị, vận động v.v.
Tại sao các người trẻ VietWeekly lại bắt
đồng bào của ḿnh liệng những vũ khí này đi:
“Đấu tranh không phải là hô hào đả đảo lỗ
miệng …..” Ôi nhát giao oan nghiệt của tuổi
trẻ chém xuống thân thể Mẹ VN! Với cái nh́n
thiển cận của ḿnh, người viết thực sự nghĩ
rằng nếu không có các cuộc xuống đường biểu
t́nh th́ lá cờ máu của CS đă cắm tràn lan
trong cộng đồng chúng ta rồi, và Nguyễn Minh
Triết sang Mỹ đă có thể thong dong ra vào
khu Phước-Lộc-Thọ như chỗ không người.
Tự do ví như một căn nhà mở toang cửa.
Trên đất nước tự do này, cánh cửa của căn
nhà tự do càng mở rộng hơn. Chúng ta vô được
th́ CS cũng vô được. CS nó không phải lẻn vô
mà nó vô một cách công khai và dễ dàng hơn
người làm báo chống cộng nhiều, v́ nó có
nhiều tiền, và có khi c̣n có cả bùa hộ mạng
của Mỹ nữa. Nếu nó mang dép râu, quấn khăn
rằn, đội nón cối th́ rất dễ nhận ra. Nhưng
bây giờ nó cũng đă biết mặc đồ lớn, xách
samsonite, và c̣n có thể cặp kè một anh Mẽo
có bề thế nhởn nhơ đi vô làng báo một cách
rất thoải mái nữa là khác. Biết đấy, nhưng
ai dám chận lại đ̣i xem chứng minh nhân dân
của nó. Làm thế nào mà điểm mặt nó đây? Chỉ
c̣n cách dựa vào kinh nghiệm và trực giác mà
thôi. Đ̣i bằng chứng th́ xin chịu. Đem lương
tâm, dân tộc, đất nước ra mà biện bạch liệu
có tin nổi không? Nguyễn Cao Kỳ không phải
là CS, hắn chỉ là một tên điếm đàng. Khi
khom lưng đầu hàng bọn điếm CS, hắn cũng đưa
chiêu bài tổ quốc tổ và dân tộc ra để lừa
bịp. Từ ngày đem thân về làm tôi cho CS, hắn
đă làm được ǵ cho Dân Tộc, cho đất nước?
Mặt nạ nào rồi cũng rớt xuống để trơ cái mặt
thịt ra cho người đời nguyền rủa.
Báo chí HK thường ví nhà báo như người
lính gác của công ích. Trong khi có những cơ
quan truyền thông chăm lo phục vụ cộng đồng,
th́ cũng không thiếu cơ quan truyền thông
khác lợi dụng quyền tự do báo chí để phục vụ
cho tham vọng riêng tư. Sức mạnh của một cơ
quan truyền thông là sự ủng hộ rộng răi của
quần chúng, chứ không phải thu được nhiều
quảng cáo. Như vậy đúng ra một tờ báo càng
hăng say và tận tâm phục vụ lợi ích của cộng
đồng bao nhiêu th́ càng có nhiều độc giả bấy
nhiêu mới phải. Nhưng thực tế thường xẩy ra
khác hẳn. Thật đáng buồn khi có những tờ báo
cố ư câu độc giả bằng cách tạo biến cố. Ông
Vũ B́nh Nghi của tờ Thời Báo ở San Jose
trước đây đă xác nhận điều đó. Chính ông ta
đă tiết lộ với kư giả của tờ San Jose
Mercury News là mỗi khi ông gây chuyện trong
cộng đồng th́ tờ báo của ông lại tăng thêm
trang. Người đọc có khi không thích tờ báo
của ông, nhưng vẫn t́m nó để đọc v́ ṭ ṃ.
Tôi thực sự không muốn tin tờ VietWeekly bắt
chước làm báo theo cung cách đó.
“Đối với những người trẻ này (nhóm
VietWeekly), cũng xin đừng khoe, đừng dậy họ
thế nào là cộng sản, tại sao phải tranh đấu
cho tự do và phải tranh đấu như thế nào.Tuy
nhiên, v́ là những người trẻ được huấn luyện
trong không khí cởi mở đa dạng và dung nạp
của Hoa Kỳ, họ không sợ hay thù ghét cộng
sản theo cung cách cũ ṃn, phản xạ của thế
hệ trước.”
Trích đoạn trên rút ra từ bài viết của
tác giả Đông Duy trên số VietWeekly thượng
dẫn, người viết muốn lấy nó làm gợi ư cho
phần kết luận của bài này. Đọc trích đoạn
trên người viết rút ra được nhận xét là
những người trẻ VietWeekly đă học đưọc rất
nhiều từ nhà trường và xă hội Mỹ, học được
cả tinh thần, cách suy nghĩ, và lối sống của
lớp thanh niên, sinh viên Mỹ hồi cuối thập
niên 60 đầu 70; có tinh thần tự tin rất cao
và có thể cả tự phụ nữa, rất xứng đáng được
khen câu “hậu sinh khả úy”. Nền giáo dục Hoa
Kỳ sản sinh được những con người tự tin, tài
giỏi, tháo vát, và hào khí như thế mà không
hiểu tại sao người Mỹ đi đến đâu cũng bị coi
thường, khinh khi và xua đuổi. Đó là một sự
thực hiển nhiên. Thiết nghĩ sự khác biệt
giữa hai nền giáo dục Việt Mỹ có thể giải
thích được hiện tượng này. Người VN trọng lễ
nên bao giờ cũng tiên học lễ đă, rồi mới hậu
học văn. Người Mỹ trái lại họ lấy đồng
dollar làm quí nên trước sau và tiên hậu ǵ
cũng chỉ có học cách làm tiền mà thiếu mất
hẳn phần học lễ giáo. Việc học làm người rất
khác với việc học làm tiền. Có người nói
nước Mỹ thừa văn minh nhưng thiếu văn hóa là
v́ vậy. Một thắc mắc nữa đáng nêu lên để mà
học hỏi là nước Mỹ hùng mạnh và tài giỏi như
rứa mà sao lại phải thất bại tại Việt Nam,
và hiện nay đang bị sa lầy tại Irak, không
t́m được lối thoát? C̣n những thất bại nào
khác nữa bạn đọc nào biết xin cứ tự ư thêm
vào và cũng xin tự t́m lấy giải đáp. Người
viết xin chân thành cám ơn.
|