NHAI  LẠI

(Góp ý với một giáo sư đại học chung quanh vấn đề thống nhất đất nước, hòa giải hòa hợp dân tộc, căm thù và chống đối chế độ).

Cách đây không lâu, đài RFI (Pháp) đã cho phát thanh trực tiếp cuộc phỏng vấn một vị giáo sư đại học qua chủ đề thống nhất đất nước, hòa giải hòa hợp dân tộc và các hoạt động chống chế độ Cộng sản của người Việt hải ngoại. Nhiều thính giả vùng Paris, Cali, Úc châu cũng như tại quốc nội đã theo dõi chương trình phát thanh nầy.

Theo tôi, phát biểu quan điểm chính trị cá nhân là quyền tự do của mỗi người. Nhưng thật đáng tiếc, trong dịp nầy vị giáo sư đã vô tình hay hữu ý khi dùng hai chữ ‘nhai lại‘ để ám chỉ hành động chống đối của cộng đồng hải ngoại, những người đang dấn thân cho nhân quyền, tự do và ấm no của dân tộc.

Trong suốt chương trình kéo dài khoảng gần hai mươi phút, nội dung những câu hỏi và trả lời chỉ quay quanh ba vấn đề :

- Thống nhất đất nước.
- Hòa giải hòa hợp dân tộc.
- Căm thù và chống đối.

Tôi thấy vị giáo sư quá mạnh miệng khi đề cập nhiều lần hai chữ nhai lại, một từ ngữ để diễn tả những hành động không mấy đẹp mắt của loài thú (trâu bò…), chúng thường đưa ngược thức ăn từ dạ dày, cổ, họng ra nhai…lại, để đồng hóa những nỗ lực chống cọng sản của cộng đồng người Việt tự do trên khắp thế giới. (Trích một trong những câu trả lời, ‘Người tỵ nạn còn căm thù chế độ và thường đem vấn đề chống đối ra nhai lại).

Dùng phương tiện truyền thông và mượn hai chữ ‘nhai lại‘ của trâu bò để ám chỉ việc tranh đấu cho tự do dân chủ của người đồng hương là một mỉa mai thiếu văn minh. Hơn nữa, những lời vàng ngọc nầy lại phát xuất từ miệng lưỡi của một giáo sư đại học.

Thật đau lòng khi trở lại vấn đề nầy, nhưng không cách nào hơn, tôi xin phép mượn diễn đàn báo chí để trình bày một vài thiển ý với giáo sư và đài RFI cũng như quý vị độc giả bốn phương.

Những ý tưởng trình bày dưới đây có thể trùng hợp một phần nào những gì mà đa số người đã viết. Tuy nhiên tôi muốn nhân cơ hội, trước hết đáp lại nội dung cuộc phỏng vấn trên đài RFI, và sau, bổ túc thêm một vài khía cạnh đồng thời nêu rõ lý do cũng như chính nghĩa việc tranh đấu chống cọng từ trên ba mươi năm của người Việt hải ngoại tự do.

Tôi không thuộc bất cứ một thành phần đảng phái hay hội đoàn nào, không mưu đồ chính trị hay lợi ích riêng tư mà chỉ nhân danh một người mất nước, để trả lời thẳng với bất cứ ai, đến giờ nầy vẫn còn ca tụng Cộng sản, hô hào hòa giải hòa hợp dân tộc.

Thống nhất đất nước :

Cầu Hiền Lương bắc qua sông Bến Hải đã thực sự mở cửa để hai miền Nam Bắc thông thương sau ngày 30.4.1975. Giang sơn gấm vóc mà tổ tiên đã tốn bao xương máu gầy dựng, ngày nay đã gom về một mối. Dân Việt dù ở đâu cũng hân hoan chào đón hai miền và mở rộng vòng tay ôm lấy đồng bào máu mủ ruột thịt sau trên hai mươi năm trời chia cách. Nhưng thật sự người Việt nam hoàn toàn thất vọng sau ngày được gọi là giải phóng và thống nhất đất nước.

Về phương diện địa lý, quả thật Việt nam đã tự do lưu thông từ Nam quan đến tận Cà Mau, nhưng  thực tế, việc thống nhất đất nước chỉ là hình thức ngụy tạo gượng ép bằng vũ lực sau khi Cộng sản chiếm được Sàigòn.  Xin nói rõ điều nầy, thống nhất đất nước thực chất là một cuộc xâm lăng đẫm máu. Cọng sản đã xua quân vượt biên giới, chà đạp lên những quy ước quốc tế về chủ quyền lãnh thổ cũng như các hiệp định đã được ký kết.

Vừa chiếm xong miền Nam, cọng sản miền Bắc áp đặt ngay một chế độ cai trị tàn bạo và thâm độc còn hơn những gì đã xảy ra dưới ngàn năm đô hộ của Tàu và trăm năm xâm chiếm của Tây. Như vậy cứ hùa theo luận điệu Cộng sản ca tụng việc thống nhất hai miền Nam Bắc thì thật buồn cười, nếu xét vấn đề thống nhất trên căn bản quốc tế công pháp cũng như việc đáp ứng ước vọng của toàn dân hai miền.

Để thấy sự mỉa mai chua chát, xin dành vài phút nhìn lại những gì đã xảy ra cho dân miền Nam sau ba mươi năm sống dưới ách độc tài đảng trị.

Như tất cả chúng ta đều thấy, Cộng sản đã chiếm miền Nam dưới chiêu bài thống nhất đất nước bằng tất cả mọi giá, nhưng trong ba mươi năm qua đã làm được gì ? Không có gì hơn ngoài việc cứu đói miền Bắc, vơ vét tài nguyên bỏ túi và trả nợ cho đàn anh Xã hội chủ nghĩa. Thật vậy, ấm no hạnh phúc đâu chẳng thấy, tiền của tài nguyên của miền Nam đã bị tập đoàn cọng sản vét sạch để chuyển ra nước ngoài làm của riêng và trả dần những món nợ khổng lồ của đàn anh. Trước đây miền Bắc đã mua chịu súng đạn và các phương tiện chiến tranh mang vào Nam giết hại đồng bào ruột thịt của mình, nay thẳng tay vơ vét tài nguyên miền Nam và móc túi nạn nhân để trả nợ !

Nợ súng đạn của đàn anh Xã hội chủ nghĩa sau ba mươi năm vẫn còn chồng chất, nhưng với lòng tham vô đáy của tập đoàn Cộng sản, nay chúng lại xoay qua vay mượn của khối tự do hàng tỷ để lập lờ bỏ túi. Tổng số tiền vay mượn cũ mới nầy con cháu chúng ta phải trả. Những vay mượn cứ tiếp tục chồng chất, biết đến bao giờ các thế hệ sau mới thanh toán xong các món nợ.

Lúc còn sống ông Hồ đã công khai ra lệnh, đảng Cộng sản phải xua toàn bộ nhân lực vật lực từ dân sự, hệ thống kềm kẹp và đội quân chính quy miền Bắc vượt qua vĩ tuyến 17 chiếm cho bằng được Việt nam Cọng hòa dù phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng. Sau nầy, các văn bản của trung ương đảng Cộng sản cũng như bút tích trong các hồi ký của hai ông Võ nguyên Giáp và Văn tiến Dũng đều cho thấy, cọng sản Bắc Việt đã chà đạp lên những điều khoản về chủ quyền lãnh thổ cũng như vi phạm trắng trợn việc đình chiến ngưng bắn. Chính đảng Cộng sản ra lệnh và đã chỉ huy trực tiếp các cuộc tiến quân ồ ạt vượt tuyến 17 tiến thẳng vào miền Nam. Chiến tranh giữa hai ý thức hệ cũng như những trận đụng độ kéo dài hai chục năm tại miền Nam, không phải là cuộc chiến nội bộ giữa Việt nam Cọng hòa và cái bóng ma Mặt trận Giải phóng miền Nam như một số người cũng như một số quốc gia tây phương hiểu lầm hoặc cố ý xuyên tạc để phủi tay rút lui trong danh dự.

Mặt trận giải phóng miền Nam, do vài tên trí thức bù nhìn miền Nam lãnh đạo, là công cụ nòng cốt của Cộng sản miền Bắc dựng nên để thổi phồng với quốc tế, chỉ là một hình thức bình phong đánh lừa dư luận. Thực chất không có một người lính nào của dân quân miền Nam, mà toàn bộ là các toán quân ngụy trang áo bà ba khăn rằn quàng cổ do Bắc việt huấn luyện và đưa vào. Hãy xác định rõ ràng, thống nhất đất nước đã dựa trên nguyện vọng của toàn dân bằng thương thuyết, bằng trưng cầu dân ý hay chính cọng sản dùng vũ lực kéo quân từ miền Bắc trắng trợn xâm lắng một quốc gia có chính thể, có chủ quyền, được quốc tế công nhận và bảo vệ theo hiến chương ?

Một điều quan trọng cần phải nói thêm, Việt nam Cọng hòa sụp đổ chính do sự phản bội của khối tự do. Những quốc gia cầm đầu đã trịnh trọng ký tên, cam kết bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và tự do dân chủ miền Nam theo những điều khoản được ghi rõ ràng trong các văn bản pháp lý. Nhưng cũng chính họ công khai bóp chết Việt nam Cọng hòa bằng quân sự, chính trị cũng như ngoại giao, đồng thời ngầm bật đèn xanh mở cửa cho cộng sản vượt biên giới. Không một phản ứng nào của khối nầy sau khi thỏa thuận ngầm, với mục đích chia vùng hoạt động quân sự cũng như quyền lợi kinh tế, với kẻ thù Trung cọng và Liên sô. Bán đứng Việt nam Cọng hòa, một đồng minh anh dũng với nhiệm vụ tiền đồn của vùng Đông nam Á là một sai lầm chiến lược trầm trọng. Ngày nay người Mỹ phải trả một giá thật đắt để tạo lại thế cân bằng quân sự ở vùng nầy trước tính toán và yêu sách của Trung cọng, của Cọng hòa Nga cũng như trước những trò lì lợm và dối trá của Bắc Hàn trong vấn đề nguyên tử.

 

Nhìn lại những ngày cuối của trận chiến, cọng sản tiến chiếm Sàigon một cách dễ dàng vì miền Nam thật sự đã hết súng đạn, không còn phương tiện đánh trả trong lúc Mỹ làm đủ mọi cách khóa tay quân đội Việt nam Cọng hòa để kịp thời tháo chạy. Dù can trường anh dũng đến mức nào, quân đội Việt nam Cọng hòa cũng không thể chiến đấu bằng tay không và đưa lưng chống đở vũ khí giết người hiện đại nhất của khối cọng. Nếu ngày trước đồng minh vẫn tiếp tục oanh tạc xuống các kho vũ khí lương thực tại miền Bắc thêm một thời gian ngắn, hoặc đừng cản trở không quân Việt Nam ném tiếp vài trái CBU xuống Long khánh vào những phút chót, chắc chắn cọng sản miền Bắc đã đầu hàng vô điều kiện hay những đạo quân xâm lược phải dậm chân tại chỗ và bỏ xác trước sự phản công của quân dân miền Nam. Kết quả chiến thắng thật sự không thần thánh gì như cọng sản thường vỗ ngực khoe khoang, khi các đạo quân tiến xuống miền Nam thật dễ dàng trong bối cảnh nhà không đồn trống, không người chống đở.

Khi quân đội được lệnh di tản, cọng sản chuẩn bị kéo đến, dân miền Nam đã bồng bế đạp lên nhau trốn chạy. Những rừng người từ Pleiku xuống Qui nhơn, từ Buônmêthuột về Nhatrang, từ Đàlat vô Sàigòn, từ Quảng trị dọc theo quốc lộ 1 đến Huế, Đà nẳng rồi qua Phan thiết, vượt rừng lá để tiến về Sàigòn, vùng đất cuối cùng của tự do và cũng là nơi an toàn cho tính mạng. Hình ảnh nầy đã khẳng định cho thế giới thấy rằng miền Nam hoàn toàn không theo cọng sản, không hồ hởi chào đón đoàn quân xâm lược mà còn đạp lên xác nhau trốn chạy. Nhưng cuối cùng thật vô phước, không một ai thoát khỏi nanh vuốt Cọng sản đúng theo  ước nguyện của ông Hồ, lấy xương máu lót đường để tiến vô Nam.

Những ngày đầu, người dân chưa hiểu rõ tường tận sự tàn bạo dã man của chế độ cọng sản. Nhưng những hình ảnh giết người trả thù ở những nơi chúng đi qua, cảnh đấu tố man rợ tại miền Bắc cũng như các hố chôn sống tập thể tại Huế đã hối thúc tất cả mọi người phải chạy trốn cộng sản. Không hẳn một số nhỏ người có liên hệ với chế độ cũ mà hàng triệu triệu người dân bình thường cũng bồng bế nhau chạy bộ cả ngàn cây số để tìm cho bằng được tự do và sự sống.

Sau khi chiếm được Việt nam Cọng hòa, miền Bắc reo hò, mừng chiến thắng trên đau khổ, nước mắt và xương máu của hàng triệu người đã đánh đổi mạng sống trong giờ phút hấp hối của miền Nam, giữa lòng đại dương cũng như trong các lao tù cải tạo để đổi lấy hai chữ tự do. Khổ đau, nước mắt và xương máu đã chứng minh ngay từ lúc đầu bộ mặt xảo trá của hành động cướp nước mà cộng sản thường rêu rao là giải phóng, thống nhất đất nước trong tình thân ruột thịt anh em một nhà !

Vừa kéo quân vào miền Nam, Cọng sản đã áp đặt ngay chế độ quản lý tư tưởng, quản lý bao tử song song với chính sách bóc lột và bần cùng hóa để cai trị. Một hệ thống công an chìm được cài vào từng gia đình, trường học, công sở, chợ búa, thôn xóm…để nghe ngóng kiểm soát, xúi dục tố cáo lẫn nhau từ tư tưởng lời ăn tiếng nói đến hành động thường nhật của từng người dân một. Quản chế bao tử để cai trị và sai khiến con người một cách dã man bằng cách bán thực phẩm cho những ai ngoan ngoãn tuân theo mệnh lệnh của chúng. Dù ở những xứ còn lạc hậu kém văn minh cũng chưa có cảnh quân cướp vào nhà tịch thu gạo cơm thực phẩm rồi buộc gia chủ sắp hàng chầu chực để được mua lại từng ăn bữa một. Cũng chưa có cảnh đuổi người ra đường, chiếm đất chiếm nhà, đào nền, đập tường, móc cầu tiêu…để vơ vét tiền bạc như chế độ cộng sản Việt nam mà chúng thường vỗ ngực tự cho là tấm gương của nhân loại và đỉnh cao trí tuệ của loài người.

Hình dung lại những ngày đầu mới đặt chân vô miền Nam, kẻ thắng trận tận tình hôi của vơ vét cướp bóc. Nhà nước ngày đêm xử dụng tối đa các phương tiện hàng không, đường thủy, đường bộ của quân đội cũng như dân sự để chuyển tài sản vàng bạc châu báu của miền Nam ra Bắc. Đảng viên, cán bộ, sĩ quan, công an tùy theo khả năng và quyền lực trong tay, hôi của, cướp giựt rồi chen nhau chở ngược ra hướng Bắc. Từ chiếc quạt máy, cái máy truyền hình đến chiếc xe hơi…đều được kẻ chiến thắng hả hê rinh về làm của riêng một cách tự nhiên. Hoạt cảnh đẹp mắt này chứng minh rõ ràng việc giải phóng và thống nhất của người anh em ruột thịt thật đậm đà và thật thấm thía !

Tiếp đến, ngoài việc đánh tư sản nhắm vào những người có của, cộng sản Việt nam còn áp dụng chính sách móc túi và bần cùng hóa miền Nam rất sáng tạo và khoa học bằng cách thu hồi tiền cũ đổi tiền mới. Ngày đổi tiền được thông báo trước vài giờ và mỗi gia đình chỉ được đổi một số nhỏ, vừa đủ tiền chợ vài bữa. Sau lần đổi tiền, toàn bộ dân miền Nam trở thành trắng tay trong nháy mắt, trên người  chỉ còn lại hàm răng và chiếc quần xà lỏn giống như đoàn quân thắng trận ngày mới bước chân vào miền Nam. Giải phóng để thống nhất đất nước, để bóc lột trả thù hay để đổi đời sau nhưng năm tháng đói khát rách nát trong rừng?  Ngang nhiên tịch thu tất cả tài sản có liên quan đến tôn giáo, tổ chức hiệp hội, cơ sở nước ngoài, những người đã phục vụ dưới chế độ cũ…nghĩa là bất cứ cái gì muốn thì lấy. Hành động nầy thường thấy ở những tên trộm khi đã đào tường vào được nhà thân chủ, chúng không bỏ sót những gì có thể khiêng ra được. Vu khống tư sản tội bóc lột, nhân viên sĩ quan chế độ cũ có nợ máu để lùa tất cả vào các trại tù. Đẩy gia đình họ ra khỏi thành phố đến những vùng hoang vu gọi là kinh tế mới, dành ưu tiên cho bà con giòng họ vào thế chỗ. Thật đúng chủ trương của đảng, giải phóng miền Nam để quản lý ngay vựa gạo, đánh đuổi  ngụy quân ngụy quyền hợp thức hóa tức khắc hành động chiếm đất cướp nhà !

Dưới chế độ mới dân được phân biệt rõ ràng thành hai giai cấp. Những người phục vụ dưới chế độ cũ gọi là ngụy, dân miền Nam trở thành thứ yếu. Quyền thống trị nằm trọn trong tay tập đoàn cộng sản từ miền Bắc đi vào, đô hộ từ hạ tầng cơ sở, tạo nên một hệ thống cai trị, kiểm soát, kềm kẹp và bóc lột ngay từ trong khu phố, thôn xóm. Những tên ‘ba mươi’ của gian đoạn đầu cũng như đám bù nhìn đội lốt mặt trận giải phóng miền Nam bị đá tức khắc theo kiểu vắt chanh bỏ vỏ. Một số ít người hiếu kỳ nhẹ dạ, xuống đường tung hô khi quân chính quy Bắc Việt quấn khăn sọc rằn phất cờ giải phóng tiến vào thành phố cũng sáng mắt liền ngay sau đó. Dân miền Bắc thì hồ hởi nhưng lại sửng sờ chóa mắt trước phồn vinh phú quý, ngược hẳn những gì đã bị tuyên truyền nhồi sọ trước đây rằng : Tất cả phải hy sinh, thắt lưng buộc bụng để nuôi miền Nam. Bây giờ tất cả mới vỡ lẽ ra, hột gạo chẻ đôi chia cho anh em ruột thịt miền Nam là như vậy !

Sau ba mươi năm giải phóng, hòa bình độc lập thống nhất, đảng cộng sản đã làm được gì với ‘bàn tay thần thánh’ đổi đá thành cơm, và ‘khối óc siêu việt’ thông minh sáng tạo của chúng ?

Trước tiên phải ghi nhận ngay một điểm son của chế độ, ba triệu người từ đảng viên chí mén đến các tay gộc lãnh đạo đã tiến nhanh tiến mạnh trở nên giàu có một cách thần thánh. Mới ngày nào khố rách áo ôm, nay của chìm của nổi. Lương tháng không đủ một bữa nhậu nhưng cán bộ nhỏ cũng nhà cửa xe cộ thênh thang, lãnh đạo lớn thì tài sản rải rác từ trong Nam ra tận Bắc, chúng còn tậu nhà mua đất ở các xứ tự do. Tiền bạc cất dấu ở nước ngoài tổng cọng trên ba mươi tỷ dollars Mỹ (30 tỷ $US, tài liệu cách đây một năm). Tài sản nầy là mồ hôi, nước mắt, và xương máu của dân miền Nam, của Việt kiều đóng góp cũng như tiền ăn cắp qua các chương trình viện trợ nhân đạo.

Ngược lại Việt nam đã được gì sau ba mươi năm thống nhất ?  Tệ nạn xã hội và tham nhũng đứng hàng đầu thế giới, tự do dân chủ hoàn toàn là một con số không to tướng. Cả một tập đoàn lãnh đạo thối nát và ngoan cố đã đưa Việt nam đi lùi trước những tiến bộ khoa học kỹ thuật cũng như hủy hoại đà phát triển văn minh con người. Chất xám lớp người trẻ không được quyền đề nghị một sáng kiến gì vượt quá tầm hiểu biết của những bộ óc siêu việt xuất thân từ rừng rú. Tự ban cho mình những bằng cấp cao nhất nước, do đó tập đoàn lãnh đạo phải tỏ ra thông minh bằng những chương trình hành động đổi mới, nhưng càng vùng vẫy để thoát ra cái ngu dốt của mình thì càng làm trò cười cho thiên hạ.

Về phương diện kinh tế, đa số dân Việt nam còn sống dưới mức nghèo khó, trong đó phải kể một phần ba dân số còn thiếu ăn thiếu mặc. Đừng nhìn những cao ốc tráng lệ, những ngôi nhà sang trọng, những nhà hàng khách sạn bốn sao tại trung tâm thành phố hay các nơi du lịch để đánh giá phồn vinh của chế độ cộng sản ngày nay. Cũng đừng nhìn những phương tiện ăn ở, di chuyển và cung cách ăn chơi phung phí, du hí cá nhân để đánh giá giàu sang của dân chúng. Những phương tiện nầy cũng như những chốn ăn chơi chỉ dành riêng cho đảng viên, cán bộ, con ông cháu cha, giới kinh doanh đầu cơ bất hợp pháp và một số nhỏ thân nhân Việt kiều. Hãy ra khỏi thành phố để thấy gần năm sáu chục triệu còn lại là thành phần nông công thương, những người thấp cổ bé miệng siêng năng chất phác làm việc vần vật suốt ngày cũng chưa mua đủ gạo ăn và không sắm nổi được vài bộ quần áo. Thu hoạch cuối mùa hay lương lãnh cuối tháng, tính ra chưa bằng một cử chỉ đẹp của cán bộ, khi nhét tiền thưởng vào áo lót các em chiêu đãi trong quán bia ôm.

Những cơ sở sản xuất kinh doanh, xí nghiệp lớn đều nằm gọn trong tay con cháu giòng họ của tập đoàn lãnh đạo cộng sản. Đây chẳng qua là những cơ quan kinh tài, nơi hợp thức hóa việc rút ruột dân chúng và tẩu tán tài nguyên đất nước ra ngoài làm của riêng. Người ta không ngạc nhiên khi công ty xí nghiệp lúc nào cũng báo cáo thua lỗ nhưng vẫn tiếp tục hoạt động hăng say từ hàng chục năm qua. Chúng còn khôn khéo mượn tay những công ty tư nhân đứng mũi chịu sào những vụ làm ăn phi pháp, trót lọt thì chia, đổ bễ thì thí mạng. Mấy ai trong nước ăn nên làm ra mà không bị bắt buộc nằm trong hệ thống kinh tài hoặc phải dâng tiền đút của lót đường hối lộ. Đầu tư nước ngoài, nhất là của Việt kiều, không thể thành công khi đến Việt nam làm ăn trong chương trình mở cửa (!) của cọng sản. Nếu không bị lật lọng ăn cướp đến sạt nghiệp, bị tù tội, ôm đầu máu trở về tay không thì cũng bị gài để phơi thây trên giường vì thượng mã phong hoặc bỏ xác dưới hố khi xe chạy xuống đèo !

Để trấn an dư luận quốc tế, phong trào bài trừ tham nhũng được đánh chuông gõ mõ từ trung ương xuống địa phương nhưng chỉ là một trò hề độc diễn không có khán giả. Hối lộ bắt nguồn ngay từ trong thôn xóm đến cơ quan quyền lực trung ương. Từ một tên gác cửa cầu xí cho đến tổng bí thư đảng, chủ tịch nhà nước, mỗi người có quyền móc túi người dân tùy theo địa vị và quyền lực trong tay. Bày trò thành lập các ủy ban bài trừ tham nhũng và dàn cảnh thí một vài cán bộ cấp nhỏ chỉ làm trò bịp trẻ con. Tiếp đến việc kê khai tài sản cán bộ, xin hỏi có ai khai tiền bạc, nhà cửa, đất đai do vợ con, dâu rể, cháu chắt, họ hàng đứng tên từ nội địa ra đến nước ngoài không ? Ba chục tỷ dollars đang cất dấu tại ngoại quốc, các ông lãnh đạo đảng và chính phủ có khai không ? Tôi mớm tin cho ủy ban bài trừ tham nhũng, thử xem có ai can đảm chất vấn việc nầy với các lãnh tụ để làm sáng tỏ vấn đề hay tất cả đều sợ mất chức, ngồi tù hoặc thủ tiêu ? Hỏi để đùa vậy thôi chứ những người được đưa vào ủy ban bài trừ tham nhũng là những ai, tất cả mọi người đều biết rồi !

Trò hề độc diễn tiếp theo trong khối cọng sản nói chung và Việt nam nói riêng, đó là quốc hội. ‘Tuyệt đại đa số nhất trí‘ chứ không bao giờ được chống những gì đảng và nhà nước đã chỉ thị trước. Những bộ mặt trong những cơ quan lập pháp nầy không ai ngoài đảng viên hoặc những tên đội lốt tôn giáo đoàn thể do mặt trận tổ quốc tuyển chọn rồi lùa người dân đến địa điểm bầu cử hay tự tay vác thùng phiếu đến tận nhà cho ra vẽ dân chủ. Dù kết quả phiếu như thế nào, từ trong nước cho đến quốc tế đều nghe một câu trước sau như một, ‘trăm phần trăm nhất trí’.

Thượng tầng đảng áp đặt chủ kêu tớ dạ, hạ tầng thì gồm cả triệu công an chìm nổi đêm ngày bám sát người dân từ trong bữa ăn giấc ngủ đến các giao dịch hoạt động hằng ngày. Tự do ở đâu để tập đoàn cọng sản rêu rao theo sách lược tuyên truyền của chúng, nhân quyền đâu khi người dân vừa có ý kiến xây dựng đã bị tra vấn quản chế hoặc đưa ngay vào tù.

Hòa Giải Hòa hợp.

Cũng phải công nhận, có một vài thành phần đã ra nước ngoài tìm tự do nhưng vẫn còn ca tụng cọng sản và thường kêu gọi hòa giải hòa hợp. Họ là những ai ?

Trước tiên có thể họ, một số nhỏ, những người yêu nước thương đồng bào thật sự, muốn trở về bắt tay kẻ thù xây dựng lại quê hương. Tôi kính phục những người có tâm huyết nhưng tiếc thay họ vẫn còn quá ngây thơ và chưa lường được những cạm bẫy cọng sản dương ra. Tôi không vơ đũa cả nắm mà phân định rõ ràng, hoan hô thành phần trí thức trẻ với tâm huyết, muốn đem kiến thức khoa học kỷ thuật về phục vụ cho quê hương xứ sở. Nhưng xin lưu ý rằng, đừng để những xảo trá của chúng biến công lao trí óc và quả tim của mình thành công cụ phục vụ cho lợi ích riêng tư cho chúng.

Tiếp đến, vài ba người đã được huấn luyện nằm vùng, cọng sản đưa ra nước ngoài để thi hành mệnh lệnh của chúng thông qua các tòa đại sứ. Chúng đã lộ diện ngay qua các hành động còn quá vụng về và ấu trĩ. Ngoài ra trong số cộng đồng người Việt định cư lâu năm, một vài người cũng được cọng sản móc nối bằng tiền bạc, bằng hăm dọa hoặc bằng những hứa hẹn suông để phá hoại cộng đồng người Việt tự do bằng mọi cách. Cộng đồng hải ngoại không lạ gì thành phần nầy, từng vạch mặt chỉ tên vài người mà trước đây đã một thời sống chung đụng với cọng sản tại địa phương hay trong các trại tù cải tạo, nay đã trở thành công cụ đắc lực của kẻ thù. Tôi nghĩ, một người dân bình thường, họ có thể cúi đầu vâng lệnh một cách dễ dàng nhưng đối với một số người đã nín thở qua sông từ năm nầy qua năm khác trong các trại tù thì thật là một ngạc nhiên lớn.

Thật vậy, ai từng sống ở các trại tù cải tạo đều sáng mắt trước hành động xảo trá và thâm hiểm phản ảnh trực tiếp qua những hành động vụng về và hiểu biết thiển cận của quản giáo, công an cũng như cán bộ chính trị. Nhất là sau những năm dài bị nhét vào tai những bài học ấu trĩ, láo khoét, dấu đầu lòi đuôi mà đối với cọng sản, những bài học nầy là một kho tàng tư tưởng vô giá, là khuôn vàng thước ngọc đã dùng để nhồi sọ dân miền Bắc từ sáu chục năm nay. Ngày bước chân lên xe đi ‘học tập cải tạo’, nói theo danh từ cọng sản, có những sĩ quan công chức còn ngây thơ tin tưởng vào sự độ lượng khoan hồng của chế độ mới. Nhưng khi cầm được tấm giấy ra trại, triệu người như một đã thấy rõ bộ mặt của chúng, thấm thía cái thiên đường giả tạo cũng như chủ nghĩa tốt đẹp của cộng sản qua lời nói và hành động của chúng. Đến đây xin nhắc lại câu nói lịch sử của cựu tổng thống Nguyễn văn Thiệu ‘Đừng tin những gì cọng sản nói mà hãy nhìn kỹ những gì cọng sản làm’.

Chúng nó biết rõ, trò cải tạo đã thành gậy ông đập lưng ông, tạo thêm bất mãn, thù hận càng ngày càng sâu đậm trong lòng người dân miền Nam. Chưa biết giải quyết thế nào cho gần nửa triệu tù nhân phải thả về vì áp lực của quốc tế, nay mai sẽ thành một hiểm họa lớn, thì cơ may lại đến khi Mỹ đưa ra chương trình nhân đạo HO với một đổi chác ngầm nào đó. Cơ hội ngàn vàng để chúng làm một công hai việc, vừa tránh được hậu họa vừa được tiếng thơm đối với thế giới cũng như cho những ai còn có lối nhìn nông cạn.

Sau cùng những người vì ham danh ham lợi, trở lại cúi đầu phục tùng cọng sản để mưu cầu lợi ích riêng tư cho gia đình và bản thân với hy vọng một ngày nào đó được cọng sản trọng dụng, trở lại thời vàng son ngày trước. Mưu cầu lợi ích riêng tư, có thể được cọng sản bố thí chút cơm thừa canh cặn để phô trương với thế giới trò bịp hòa giải hòa hợp đồng thời làm chiêu bài dụ dỗ những con thiêu thân khác. Nhưng để được trọng dụng theo tinh thần hòa giải hòa hợp dân tộc, tìm lại chút hư danh ngày xưa thì thật quá viễn vông ! Chính bọn chúng với nhau cũng kèm cựa, tranh giành từng miếng ăn. Người cọng sản thâm độc và nghi ngờ, không chấp nhận người ngoài cuộc dính máu ăn phần để chúng độc quyền cai trị. Ngay từ lúc tranh đấu chống ngại xâm, ông Hồ đã dùng đủ thủ đoạn thâm độc để loại trừ những người yêu nước bằng những hành động phản bội tồi bại nhất lịch sử. Những anh hùng dân tộc thuộc các phong trào đảng phái, có tinh thần quốc gia được toàn dân ủng hộ mà vẫn còn bị cọng sản sát hại thê thảm hoặc bị vu khống bỉ ổi. Mượn tay người Pháp thanh toán để chúng rảnh tay đem búa liềm gỏ đầu cắt cổ dân tộc Việt nam.

Những anh hùng ngày trước với chính nghĩa đứng lên chống ngoại xâm vì tự do ấm no của dân tộc còn bị ám hại. Hạng vô liêm sĩ ngày nay chẳng ra gì nhưng cũng múa may quay cuồng, trở về Việt nam ăn mày lòng thương hại của cọng sản, chỉ là những tên già phản bội đồng đội, ung nhọt của cộng đồng. Đại diện sáng giá nhất của nhóm nầy là một nhân vật thứ hai của miền Nam trước đây, đối với đa số, chỉ là tên cao bồi mất nết. Lúc miền Nam hấp hối nhân vật nầy còn tuyên bố lếu láo đủ điều, dối gạt đồng bào rồi ôm tiền của lên máy bay thẳng ra hạm đội. Qua xứ người vẫn tiếp tục trò múa rối, tự chôn đời mình xuống vực thẳm, thân bại danh liệt mà vẫn cứ tưởng đời còn sáng giá. Mới đây còn xin về Việt nam, quỳ gối trước mặt kẻ thù hy vọng được trở lại làm tôi mọi ! Đáng phỉ nhổ nhất là những người đã từng đau khổ từ trại nầy qua trại khác, trên dưới chục năm ‘nín thở qua sông’, trong tù thì đâm sau lưng chiến sĩ bán đứng đồng đội, qua đến xứ ngoài vẫn còn hăng say làm tay sai cho giặc để hy vọng chút hư danh ngày xưa.

Tóm lại ngoài số nhỏ nêu trên, còn lại toàn bộ người Việt đã bỏ nhà cửa gia đình bạn bè quê hương vượt trùng dương đi tìm tự do, những người đã bị kết đủ thứ tội, lột sạch tài sản xong rồi đày lên vùng kinh tế mới, những người đã ‘nín thở qua sông’ trong lao tù cải tạo… đều có lập trường dứt khoát, không bao giờ bị mắc mưu hòa giải hòa hợp với quân cộng sản. Ngày nay đã an toàn đặt chân lên các vùng tự do bằng hình thức di tản, vượt biên, đoàn tụ hay ra đi theo diện HO… tất cả đều xem cọng sản là kẻ thù không đội trời chung.

Trong quá khứ, các xứ cộng sản có thể gọi văn minh như Liên Sô hay các nước Đông Âu cũng chưa bao giờ xảy ra việc hòa giải hòa hợp dân tộc giữa hai kẻ thù đối nghịch nhau. Chỉ có đấu tranh, con đường duy nhất của những người yêu tự do đã đưa xứ sở của họ ra khỏi nanh vuốt quỷ đỏ bằng những cách mạng hồng cánh mạng xanh. Tại Việt nam, trên ba mươi năm nay những hoạt động trong ngoài nước liên tục tranh đấu cho tự do ấm no hạnh phúc nhưng vẫn chưa xoay hẳn được thế cờ. Nhưng mấy năm gần đây, nhiều biến cố trọng đại đã bộc phát mạnh mẽ trong nước, như phát súng lệnh mở đường cho những hoạt động bí mật vùng dậy đòi nhân quyền và tự do con người. Với những phương tiện eo hẹp nhưng những người trong nước đã can đảm nói lên những bất công, thối nát của chế độ và chấp nhận tù tội để mở đường một cuộc cách mạng đang ở vào giai đoạn cuối. Trước những cao trào càng ngày càng bành trướng, cộng sản đã bịt miệng, đàn áp, giam cầm để bảo vệ độc quyền lãnh đạo của chúng. Đối với cọng sản, chỉ có bàn tay sắt máu của độc đảng, tập đoàn lãnh đạo mới có thể độc quyền thao túng bóc lột và lì lợm bảo vệ ngai vàng, luân phiên nhau từ chức vụ nầy đến chức vụ khác, năm nầy qua năm khác và truyền từ đời cha đến đời con đời cháu. Bánh vẽ hòa giải hòa hợp dân tộc đang được những cán bộ nằm vùng tuyên truyền cổ võ bằng nhiều phương tiện và dưới nhiều hình thức khác nhau không mua chuộc được ai. Đã đến lúc không thể ngồi yên, tất cả chúng ta phải xông vào trận tiếp tay cho những người trong nước.

Lịch sử cũng cho thấy các xứ văn minh trong quá khứ đã phạm nhiều lỗi lầm khi đem quân xâm chiếm đất đai, cai trị độc ác và vơ vét tài nguyên của cải. Nhưng cuối cùng, muốn tiến tới việc hàn gắn đổ vỡ hòa giải hận thù, họ đã chính thức nhận lấy lỗi lầm và trách nhiệm hàn gắn vết thương bằng danh dự, bằng vật chất… Trong khi đó, sau ba mươi năm xâm chiếm, cọng sản Việt nam vẫn còn xem người miền Nam là ngụy, xếp vào những người bại trận vào hạng thứ yếu. Chúng vẫn căm thù chế độ cũ qua tuyên truyền, sách vở. Nhất là qua những bài học vỡ lòng, một hình thức thâm độc bằng cách nhồi nhét vào đầu óc trẻ thơ những hận thù ngay từ lúc vừa cắp sách đến trường. Chúng vẫn xử dụng công khai các cơ sở văn hóa để trưng bày tội ác Mỹ-Ngụy. Tệ hơn nữa, còn chà đạp trên những ngôi mộ của những người đã anh dũng bảo vệ tự do… Những tượng hình kỷ niệm thuyền nhân xa hàng vạn dặm trên vùng đất tự do Mã Lai và Nam Dương cũng phải đập phá cho bằng được qua những trao đổi có điều kiện ngoại giao và thương mãi. Xin hỏi giáo sư và những cò mồi cọng sản, ai căm thù ai ?

Bản chất cộng sản là xảo trá lật lọng, ngày nay không còn lừa gạt được bất cứ người nào. Bắt chước đàn anh Trung cọng, tập đoàn lãnh đạo dựng thêm một trò mới bằng cách mở rộng cửa tiếp nhận thành phần tư bản vào đảng. Đây là âm mưu hợp thức hóa thành phần giàu có trong một chế độ hết thời, được mệnh danh là vô sản chuyên chính, đồng thời mượn uy quyền của đảng để bảo vệ tài sản vơ vét được do con cháu, bà con giòng họ đứng tên. Điều nầy không lạ gì đối với trong xứ cũng như thế giới tự do, chúng ta đều thấy bộ mặt thật dù chúng có bày ra trăm nghìn trò ảo thuật khác nhau.

Đối với người Việt nước ngoài, hơn ba tỷ dollars gởi về hàng năm, Việt kiều được gọi một cách âu yếm ‘khúc ruột ngàn dặm’ và thân nhân trong nước được nâng niu chiều chuộng như gà đẻ trứng vàng. Nếu không có số tiền nầy, cọng sản sẽ mạt sát ngay Việt kiều là ‘kẻ thù ngàn dặm’, thân nhân trong nước trở thành sâu bọ phá hoại, dĩ nhiên bị tống ngay lên các vùng kinh tế mới để cho thành phần thống trị kéo vào thế chỗ. Số tiền khổng lồ nầy chui vào túi tập đoàn lãnh đạo dưới hình thức nầy hay hình thức khác, rốt cuộc cũng công khai chạy ngược ra ngoài để tạo dựng một số cơ sở kinh tài, mua lại những ngôi nhà to lớn ngay trong lòng thủ đô người Việt tỵ nạn tại Mỹ cũng như trong các khu vực đắt tiền, nơi dành riêng cho triệu phú tỷ phú trên đất Pháp, Canada, Đức, Ý…

Từ một vài năm nay nhiều cơ sở và nhà cửa tại Little Sàigòn đang rầm rộ đổi chủ từ tay những người tỵ nạn vào tay cán bộ đảng viên cọng sản. Không chừng một ngày nào đó thủ đô tỵ nạn sẽ bị cọng sản ngự trị. Chúng mua không cần thương lượng và phá giá thị trường địa ốc bằng những số tiền kiếm được mà không mất một giọt mồ hôi.

Tóm lại, bắt tay hòa giải hòa hợp dân tộc với cọng sản là một sai lầm không thể chấp nhận. Trước tiên chính là tiếp tay với kẻ thù bóp chết tự do ấm no hạnh phúc của toàn dân. Tiếp đến là ủng hộ chúng đắp mô xây thành cho độc đảng cọng sản càng ngày càng vững mạnh để chúng độc quyền cai trị, vơ vét, tham nhũng. Cuối cùng vô cùng quan trọng, hòa giải hòa hợp là phản bội trắng trợn những người đang hoạt động chống đối cọng sản trong nước.

Căm thù và Tranh đấu :

Cộng đồng hải ngoại ngày đêm quan tâm đến tự do đất nước và ấm no hạnh phúc của người Việt đang sống dưới chế độ cọng sản. Thật vậy, từ Bắc chí Nam ở đâu cũng là đất nước chung, người đâu cũng anh em một nhà, không cần căm thù bất cứ một ai vì mạng sống và miếng cơm manh áo, cho dù cán bộ, công an hay những người đang phục vụ trong đội quân kềm kẹp. Nhưng cứ theo luận điệu cọng sản cho rằng chúng tôi giờ nầy vẫn còn căm thù chế độ thì không đúng. Thật vậy, căm thù làm gì thêm bận tâm vô ích mà phải mạnh tay đập chết những tên đầu sỏ đảng cộng sản, không chừa một mạng nào trong hàng ngũ lãnh đạo thì mới thật sự chính xác. Cần phân biệt căm thù và tranh đấu là hai hành động khác nhau, đừng mập mờ để rơi vào mê hồn trận chữ nghĩa. Tập đoàn lãnh đạo Cộng sản Việt nam bây giờ thực chất chỉ là những con đỉa bụng đầy máu, đang ngất ngư bên miệng hố, không phải là đối thủ để phí sức căm thù làm gì thêm mất thời giờ. Người Việt tự do trong và ngoài nước chỉ cần hợp lực gấp rút, đạp chúng nó xuống bằng tất cả mọi hình thức tranh đấu để chấm dứt sớm chế độ kềm kẹp bóc lột và tham nhũng. Chúng tôi không mưu cầu chính trị cũng như danh lợi riêng tư, mục đích chính, xả thân tranh đấu cho tự do mà trên tám chục triệu người đang khao khát mong đợi. Do đó, Người Việt hải ngoại dứt khoát với cọng sản, một mất một còn không bao giờ bắt tay hòa giải.

Trên đây tôi nêu lên một vài điểm chính để trả lời vị giáo sư đáng kính cũng như những tay sai cọng sản, đồng thời xác định rõ nguyên nhân và mục đích tranh đấu một cách minh bạch như sau :

1. Tranh đấu chống cọng để dứt khoát rằng Người Việt tự do không bao giờ tiếp tay nối giáo cho giặc để chúng tiếp tục độc quyền cai trị, hà hiếp dân lành, bóc lột, tham nhũng trên mồ hôi và xương máu đồng bào.

2. Tranh đấu để tiếp tay hổ trợ tinh thần tất cả cá nhân, đảng viên, phong trào, hội đoàn, sắc tộc, tôn giáo… đang âm thầm và công khai chống đối tập đoàn lãnh đạo cọng sản. Tranh đấu để cổ võ tất cả hình thức chống đối trong cũng như ngoài nước và kêu gọi các thành phần trong nước nổi dậy để tạo một sức mạnh, rút ngắn thời gian, đưa chủ nghĩa cộng sản vào sọt rác một cách nhẹ nhàng và mau chóng như những cuộc cách mạng vừa qua tại liên bang Nga cũng như các xứ Đông âu.

3. Tranh đấu để cho thế hệ trẻ trong nước, đã bị cọng sản bóp méo lịch sữ dưới hình thức đầu độc và nhồi sọ, hiểu được rằng trên một triệu người bỏ xứ ra đi, ba mươi năm sau vẫn xả thân tranh đấu đến cùng. Người Việt nước ngoài quyết tâm đánh gục quân thù, góp phần đem tự do ấm no hạnh phúc cho những người bất hạnh dưới ách đô hộ của tập đoàn cọng sản. Tranh đấu để cho con cháu chúng tôi, trưởng thành tại Âu-Mỹ, thấy được hiểm họa cọng sản, thấm nhuần tình yêu quê hương dân tộc và biết chia sớt những khổ đau cùng đồng bào ruột thịt đang sống dưới chế độ cọng sản.

4. Tranh đấu liên tục để nhắc nhở dư luận quốc tế và luôn sát cánh bên cạnh các tổ chức, đòi hỏi tự do, công lý, nhân quyền cho tám chục triệu người Việt nam đang bị một thiểu số độc quyền cai trị, đàn áp nhân quyền và tham nhũng. Tố cáo hành động bỏ túi tiền vay mượn cũng như ăn chận tiền viện trợ nhân đạo.

5. Tranh đấu để lấy lại công đạo cho hàng triệu người đã nằm xuống trong cuộc chiến, ngã gục trong lúc trốn chạy, chìm sâu dưới đáy biển hay bỏ xác trong các lao tù cải tạo mà xưa nay vẫn bị cọng sản phỉ báng bôi nhọ bằng những danh từ hạ cấp của chúng. Tranh đấu để vinh danh những chiến sĩ bỏ mình vì tổ quốc, thân xác đã mục nát nhưng vẫn còn bị nhục mạ, nghĩa trang bị quật mã lấp mồ, bị cào thành bình địa để tập đoàn lãnh đạo cọng sản xây lâu đài trên vong hồn những người đã chết.

Chính những đau thương chết chóc nầy đã thức tỉnh mọi người hiểu rõ thế nào là cộng sản đồng thời là tiếng chuông đánh thức lương tâm và lòng nhân đạo của thế giới. Nhờ xương máu của những người đã chết, người Việt tại hải ngoại có được tự do no ấm ngày hôm nay cũng như tương lai của con cháu sau nầy, trong đó dĩ nhiên có bản thân và gia đình của những người thường hô hào hòa giải hòa hợp với cọng sản !

Tôi nghĩ rằng, giáo sư và gia đình thoát được thiên đường cộng sản dưới hình thức nào đi nữa cũng là một điều may mắn. Ngày nay thành công tại xứ tự do, giáo sư và gia đình cũng đã thừa hưởng gia sản đau thương và xương máu của hàng triệu đồng bào Việt nam. Sao giáo sư nhẫn tâm dùng tài năng để châm biếm đồng hương của mình đang tranh đấu cho những người bất hạnh còn tại quê nhà ?

Trường hợp giáo sư đã quên nghĩa hai chữ ‘nhai lại‘, tôi đề nghị thính giả đài RFI nên bỏ qua, xem như lời phát biểu của một nhà trí thức lúc thiếu bình tĩnh. Ngược lại giáo sư dụng ý dùng hai chữ nầy để ám chỉ hành động chống cọng của cộng đồng người Việt hải ngoại, trân trọng kính mời giáo sư lên tiếng để mọi người được hân hạnh học hỏi thêm. Tôi hy vọng đài RFI cũng sẵn sàng cho phát thanh lại một cách trung thực buổi phỏng vấn đặc biệt giữa quý đài và vị giáo sư, để tất cả mọi người rộng đường tham khảo.

Vì kính trọng một nhà trí thức, xin phép không nêu rõ trong bài viết tên người được phỏng vấn cũng như nơi giảng dạy. Nhưng tôi nghĩ rằng, khi những giòng nầy xuất hiện trên internet hay trên báo chí, vị giáo sư đáng kính sẽ lên tiếng.

Đinh Lâm Thanh, Hè 2005