|
Một ngàn tỷ đô la để làm gi ?
Ngô Nhân Dụng
Trong
tuần này nhiều người Mỹ chăm chú nh́n coi lúc
nào th́ chỉ số Dow Jones lên trên số 12,000. C̣n
ở Bắc Kinh người ta chú ư đến con số khác.
Trong khi quư vị đang đọc bài này, những người
ngồi đếm tiền trong Ngân Hàng Nhân Dân tại Bắc
Kinh đang nh́n con số 1,000,000,000,000 qua
trước mặt. Số ngoại tệ dự trữ của Trung Quốc đă
lên trên một ngàn tỷ đô la, có thể gọi là một
triệu triệu đô la Mỹ. Kết toán ngày 30 Tháng
Chín năm 2006 họ đă có gần 988 tỷ, mà mỗi tháng
ngoại tệ chảy vào thêm chừng 20 tỷ nữa. Nếu quư
vị sống ở Mỹ th́ nên cảm ơn chính sách tích trữ
tiền, ôm lấy đống tiền ngày càng cao thêm của
chính phủ Trung Quốc. Trong phần sau sẽ xin giải
thích tại sao nên cảm ơn.
Trước hết, tại sao Bắc Kinh có nhiều tiền để
dành như vậy? Nước họ có trên một tỷ người, coi
như mọi người đă làm việc suốt đời nên mỗi người
dành dụm được một ngàn Mỹ kim! Họ để dành mà
không biết, v́ có người khác cất giữ hộ. Nhiều
người dân Trung Quốc đang đổ mồ hôi làm việc với
đồng lương rất thấp, họ không có tiền tiêu v́
người khác cất giữ hộ rồi. Phần lớn công nhân
không được bảo hiểm khi ốm đau, cũng không có
bảo hiểm khi mất việc. Nhờ thế, hàng hóa bán ra
với giá rẻ được cả thế giới mua. Hàng bán ra,
thu vào những đô la Mỹ, đồng Euro của Âu Châu
hay đồng Yen của Nhật Bản, đem tiền về rồi các
xí nghiệp làm ǵ? Nếu tất cả đều đem đổi đô la
lấy tiền Trung Quốc th́ giá đồng Nguyên sẽ tăng
lên theo luật cung cầu. Chính phủ Bắc Kinh không
muốn như vậy, phải thu đồng đô la lại. Nhà nước
sẽ giữ hộ những món tiền thuộc loại “giá trị
thặng dư” đó. Để làm ǵ th́ xin coi hồi sau sẽ
rơ.
Một ḍng tiền khác cũng chảy vào, cần phải xử lư
nữa, là đầu tư của người nước ngoài. Mỗi năm
người ngoài đem 40, 50 tỷ Mỹ kim vào Trung Quốc
để mua nhà cửa mở cơ xưởng. Cũng v́ thấy ở Trung
Quốc trả công cho nhân dân lao động rẻ quá, tư
bản quốc tế không vào khai thác cũng uổng. Những
món tiền chảy vô đó cũng phải đổi sang nhân dân
tệ để các nhà tư bản thuê nhà, mua tiếp liệu và
trả lương công nhân. Chính phủ Bắc Kinh không
muốn giá “nhân dân tệ” tăng, v́ nếu đồng Nguyên
lên giá th́ hàng hóa bán ra ngoài sẽ tăng giá
theo, xuất cảng sẽ khó khăn. Cho nên Ngân Hàng
Nhân Dân in thêm tiền để mua các ngoại tệ đó. Cứ
như vậy, Bắc Kinh đă tích lũy tiền ngoại quốc,
bây giờ đă lên tới 1,000 tỷ đô la, tiếng Anh
viết là US$ trillion. Đó là quỹ ngoại tệ lớn
nhất thế giới, vượt qua con số gần 900 tỷ đô la
của Nhật Bản.
Ai có trong tay hàng ngàn tỷ đô la, thế nào cũng
phải nghĩ đến cách dùng để kiếm lợi. Thí dụ như
một công ty chuyên quản lư tiền đóng góp của
thiên hạ như Fidelity Investments ở Mỹ. Những
nhà quản trị công ty này nắm quyền quyết định
đầu tư 1,200 tỷ Mỹ kim, lớn hơn số ngoại tệ của
Trung Quốc một chút. Số tiền đó là của hàng
triệu người ở Mỹ và ở nước khác góp vào, họ tin
tưởng nên nhờ công ty này đem bỏ vô đâu kiếm
được lời th́ làm. Những công ty đầu tư ở Mỹ đă
nhận được tiền của thiên hạ th́ phải đem sinh
lợi, nếu không th́ ban quản đốc sẽ mất việc v́
các thân chủ rút tiền đem đi nơi khác! Họ phải
chia tiền ra hàng trăm quỹ đầu tư nhỏ khác nhau,
theo ư muốn của thân chủ. Những ai dám chấp nhận
rủi ro với hy vọng được lời nhiều hơn, th́ bỏ
tiền vô các cổ phần nóng hổi. Những ai muốn tiền
của ḿnh được an toàn dù kiếm mức lời thấp cũng
được, th́ có những quỹ chỉ mua trái phiếu. An
toàn nhất là công trái do chính phủ Mỹ phát hành
để vay nợ, v́ không ai lo chính phủ Washington
sẽ khai phá sản để vỡ nợ. V́ công trái Mỹ an
toàn cho nên trả lăi suất rất thấp.
C̣n về phần chính phủ Trung Quốc, họ làm ǵ với
hàng ngàn tỷ Mỹ kim của họ?
Trước hết, xin cải chính, đó không phải là tiền
của họ. Nh́n lại lư do tại sao quỹ ngoại tệ dự
trữ ở Bắc Kinh đă lên th́ chúng ta hiểu ngay quỹ
đó là do mồ hôi nước mắt của dân lao động Trung
Quốc tạo ra, chứ không phải mấy ông ở trong
chính phủ hay Ngân Hàng Nhân Dân tự nhiên kiếm
ra tiền. Những người lao động ở Trung Quốc cũng
giống như các thân chủ của công ty Fidelity
Investments, các quan chức Bắc Kinh giống như
các vị quản đốc của công ty này, đang làm công
cho các thân chủ. Khác nhau một điều, là người
dân Trung Quốc không có quyền hành nào đối với
quư vị quan chức cả. Đối với quỹ Fidelity
Investments th́ mỗi ba tháng các thân chủ đều
nhận được báo cáo kết quả đầu tư, nếu không hài
ḷng th́ cứ rút tiền ra đem đi cho người khác
đầu tư hộ. Nhân dân lao động Trung Quốc không có
cái quyền đó, thực ra không ai công nhận quỹ
ngoại tệ dự trữ đó là tiền của họ.
Vậy th́ các quan chức ở Bắc Kinh làm ǵ với đống
tiền do nhân dân tạo ra? Đây cũng là một điều bí
mật, dân chúng không biết v́ không được thông
báo. Chỉ có các nhà phân tích kinh tế quốc tế họ
quan sát những vụ mua bán trái phiếu trên thị
trường thế giới họ đoán được tiền của ai đang
chạy vào đâu, nên họ biết chút đỉnh.
Theo các người quan sát quốc tế th́ 70% quỹ dự
trữ ngoại tệ của Trung Quốc là đô la Mỹ, khoảng
20% là đồng Euro, số c̣n lại giữ bằng các thứ
quư kim và tiền nước khác như đồng Yen Nhật Bản
hoặc đồng “won” của Đại Hàn.
Người ta làm ǵ với 700 tỷ đô la? Bộ Tài Chính
Mỹ biết rằng chính phủ Bắc Kinh mua 527 tỷ đô la
các trái phiếu ở Mỹ, v́ các món tiền đi lại qua
các ngân hàng đều có sổ sách. Trong số đó có 450
tỷ là trái phiếu dài hạn của chính phủ liên bang
Mỹ, hoặc do các công ty tài trợ mua nhà phát
hành, giấy nợ của các công ty này được chính phủ
Mỹ bảo đảm. Ngoài ra Bắc Kinh cũng mua trái
phiếu của các công ty tư để kiếm tiền lăi cao
hơn. Nhưng ngay chính phủ Mỹ cũng không biết hết
thực sự Trung Quốc c̣n đầu tư vào đâu ở Mỹ. V́
nhiều người mua trái phiếu ở Mỹ qua các nhà môi
giới quốc tế mà không tiết lộ tên.
Nói chung, những món dự trữ ngoại tệ của các
quốc gia giống như tiền để dành, thường đầu tư
vào các giấy nợ khá an toàn, mặc dù lời lăi thấp.
Gần đây có dấu hiệu là Ngân Hàng Trung Ương
Trung Quốc bắt đầu bạo tay hơn một chút, họ cũng
đem tiền đi mua trái phiếu của những quốc gia
nhỏ đang lên, nợ bằng đô la Mỹ. Những thứ nợ này
nhiều rủi ro hơn, nhưng cũng trả lăi cao hơn.
Sự thật Bắc Kinh có cần giữ nhiều ngoại tệ để
dành như vậy hay không? Không cần. Các quốc gia
tiên tiến không ai giữ nhiều tiền như vậy để làm
ǵ cả. Chính phủ Bắc Kinh có vay nợ ngắn hạn,
cũng cần giữ tiền dự pḥng khi cần trả gấp,
nhưng một ngàn tỷ Mỹ kim lớn bằng 6 lần số nợ đó,
nhiều quá. Tổng cộng tiền mua hàng nhập cảng của
Trung Quốc mỗi năm cũng chỉ bằng hai phần ba số
dự trữ đó, đâu cần giữ nhiều. Số tiền lớn được
tích trữ bao nhiêu năm nay thực ra lại đem qua
giúp dân Mỹ tiêu xài!
Khi Bắc Kinh đem tiền mua trái phiếu của chính
phủ Mỹ và các công ty chuyên tài trợ địa ốc tại
Mỹ, dân Mỹ nên bày tỏ ḷng biết ơn. Chính nhờ
những món tiền cho vay lấy lăi rất ít đó cho nên
lăi suất ở nước Mỹ giữ được ở mức rất thấp trong
cả thập niên vừa qua. Người Mỹ vay được tiền với
“giá rẻ” (lăi suất là cái giá phải trả để được
dùng tiền của người khác) cho nên họ tiêu thụ
thoải mái, nhất là mua nhà cửa, xe cộ thoải mái.
Cách đây 20 năm, có lúc muốn mua nhà ở Mỹ phải
vay tiền với lăi suất từ 10 đến 20 phần trăm!
Bây giờ lăi suất lên trên 6% là người Mỹ đă than
là cao quá rồi. Tại sao dân Mỹ được nuông ch́u
như vậy? Chính là nhờ các quan chức ở Bắc Kinh
đem đô la trở về Mỹ mà cho vay. Theo luật cung
cầu tự nhiên “giá” vay nợ giảm bớt. Do đó, dân
mua nhà ở Mỹ nên biết ơn quư vị quan chức Bắc
Kinh!
Nhưng c̣n một lư do khác nữa khiến dân Mỹ c̣n
phải biết ơn thêm. Họ được mua hàng hóa rẻ do
nhân dân lao động Trung Quốc làm và xuất cảng
sang Mỹ. Nhiều người Mỹ, nhất là các chính trị
gia trong mùa bầu cử, thường than phiền rằng
chính phủ Bắc Kinh ḱm giá đồng Nguyên cốt để
bán hàng rẻ, gây ra hai hậu quả: Cán cân thương
mại của Mỹ khiếm hụt mỗi năm v́ mua bán với
Trung Quốc; và nhiều công ty sản xuất ở Mỹ không
cạnh tranh nổi đă phải đóng cửa. Nhưng phải nh́n
vấn đề từ một góc cạnh khác mới được.
Trong năm 2005, Mỹ mua hàng từ Trung Quốc tổng
cộng 243 tỷ Mỹ kim, bán sang Trung Quốc được 42
tỷ, chênh lệch hơn 200 tỷ. Nhưng dân Mỹ được mua
hàng giá rẻ. Những người Mỹ nghèo hoặc trung lưu
chỉ biết là vào chợ mua quần áo cho con được giá
rẻ là mừng rồi, họ không cần biết đang được
chính phủ Bắc Kinh “tài trợ” bằng chính sách giữ
giá đồng Nguyên và bắt công nhân Trung Quốc lănh
lương thấp. Cán cân thương mại khiếm hụt mà
người dân được hưởng lợi, c̣n than phiền nỗi ǵ?
Nếu người Trung Quốc có nhiều tiền hơn, họ cũng
sẽ mua hàng hóa và dịch vụ của Mỹ, bằng cớ là
trong mấy năm qua càng ngày họ càng mua nhiều
hơn, không phải là tưởng tượng. Từ năm 2000 đến
nay, số hàng Trung Quốc bán sang Mỹ tăng thêm
155%, tức là tăng gấp hai lần rưỡi; nhưng số
hàng Mỹ bán sang đó đă tăng gấp ba lần. Riêng
trong sáu tháng đầu năm 2006 số hàng Mỹ xuất
cảng sang Trung Quốc đă tăng 40% so với năm
ngoái, và năm nay tổng số sẽ lên tới 60 tỷ đô la
chứ không phải 42 tỷ như năm ngoái.
C̣n công việc của các xí nghiệp sản xuất ở Mỹ
th́ sao? Công nhân Trung Quốc có “cướp” mất việc
làm của dân Mỹ hay không? Nhiều xí nghiệp sản
xuất, chế tạo (manufacturing) ở Mỹ phải đóng cửa
thật, nhưng đó là những ngành lời lăi rất thấp,
công việc trả lương thấp, nếu không v́ bị hàng
Trung Quốc cạnh tranh th́ cũng bị các nước khác
cạnh tranh. Ngành sản xuất ở Mỹ đă bỏ các công
nghiệp cũ, rẻ tiền, chuyển sang các công việc
mới, lương bổng và lợi nhuận cao hơn. Trong 12
năm qua, trị giá số sản xuất ở Mỹ vẫn tăng lên
50% mặc dù nhiều nhà máy cũ kỹ đă đóng cửa. Theo
Hội Các Nhà Sản Xuất (National Association of
Manufacturers) th́ Tháng Tám vừa qua số xuất
cảng hàng chế hóa ở Mỹ đă tăng với tỷ lệ cao hơn
hàng nhập cảng, suốt 10 tháng liền. Nghĩa là
ngành sản xuất, chế tạo ở Mỹ không chết, cũng
không yếu đi v́ hàng nhập cảng.
Một điều nhiều người Mỹ không để ư là nhiều món
hàng gọi là “nhập cảng từ Trung Quốc” thực ra do
chính các công ty Mỹ sang bên đó mở nhà máy, mua
nguyên liệu từ Mỹ hoặc từ các nơi khác, ráp
thành hàng hóa rồi bán lại cho công ty mẹ ở Mỹ,
nhờ thế dân Mỹ được mua giá rẻ. Nhưng như vậy có
phải là các xí nghiệp Mỹ đă “xuất cảng công việc”
của người Mỹ sang cho người Trung Quốc làm hay
không? Đúng như vậy. Đó là hậu quả của kinh tế
toàn cầu hóa, khi lực lượng lao động ở những
nước như Ấn Độ, Trung Hoa bước vào thị trường
thế giới, cạnh tranh với công nhân ở các nước
giàu. Người Mỹ phải t́m những việc làm mới không
bị họ cạnh tranh mà kiếm nhiều tiền hơn. Cũng
giống như bây giờ một gia đ́nh thuê người hàng
xóm trông con giúp, để bà nội trợ có thời giờ đi
dậy học, kiếm thêm tiền vậy. Nhưng dù đă “xuất
cảng” rất nhiều công việc ra nước ngoài, tỷ lệ
thất nghiệp ở Mỹ hiện giờ vẫn thấp hơn thời gian
hai mươi năm trước.
Mặt khác, tuy nước Mỹ bị khiếm hụt trong cán cân
chi phó nhưng ngược lại mỗi năm vẫn có cả đống
tiền do người nước khác đem đến đầu tư ở Mỹ, để
bù lại. Mỗi năm tiền đầu tư nước ngoài vào Mỹ
lên trên 500 tỷ Mỹ kim. Tại sao? V́ người ta vẫn
thấy làm ăn ở Mỹ tốt. Mà đó không phải là chính
sách của ông nhà nước nào cả. Chỉ cần để cho dân
tự do làm ăn, họ sẽ đi t́m những cơ hội đầu tư
có lợi nhất.
Tóm lại th́ chính sách của chính phủ Bắc Kinh đă
giúp cho người tiêu thụ và người mua nhà ở Mỹ
được lợi rất nhiều. Cho nên khi thấy quỹ ngoại
tệ dự trữ ở Bắc Kinh tăng lên tới 1,000 tỷ Mỹ
kim, người Mỹ nên cảm ơn sự hy sinh của người
dân Trung Quốc. Chính phủ Bắc Kinh có thể đem số
tiền ngàn tỷ đó cải thiện đời sống của dân, nâng
cao dịch vụ y tế, tu bổ trường học ở nông thôn,
và bảo đảm người dân thành phố có hưu bổng khi
về già. Nhưng nếu họ nghĩ tới người dân như vậy
th́ họ đâu c̣n dư tiền để cho nước Mỹ vay, cho
dân Mỹ chi tiêu thong thả như những năm qua?
Ngô Nhân Dụng
(Nhân dân Trung
Quốc tài trợ Mỹ Quốc!) |
|
|
|