Khát Nước

Việt Bào – Phạm Văn Bản

Trích Bách Khoa Tháng 7, 1996, trang 7 của Hội Chuyên Gia Việt Nam (Vietnamese Professional Society):

 

LTS: Thân hữu Phạm Văn Bản là một cựu Sĩ Quan Không Quân QLVNCH, trước 1975 từng du học và tốt nghiệp phi công phản lực tại Hoa Kỳ. Ông vượt biên và định cư tại Everett (WA) từ 12 năm qua. Hiện sắp hoàn tất chương tŕnh Chính Trị Học tại trường Western Washington University, nhưng theo một số người biết qúa tŕnh hoạt động của ông, th́ ông đă là một chuyên gia về chính trị từ nhiều năm qua, từng tham gia các tổ chức đấu tranh: “Đoàn Thanh Niên Việt Nam,” “Liên Minh Toàn Dân Việt Nam,” và “Lực Lượng Tiên Rồng.” Bài viết Khát Nước dưới đây, mà ông cho biết chưa hề gởi đăng báo nào, là một tổng hợp giữa nguyên lư về khoa học và chính trị, hay nói cách khác, là một biện chứng về sự khan hiếm tài nguyên thiên nhiên, sự mất thăng bằng môi sinh, và sự thiển cận của những người Cộng Sản đang cầm quyền. Bách Khoa trân trọng giới thiệu đến độc gỉa bài tham luận “Khát Nước” và cảm tạ sự cộng tác nhiệt t́nh của tác gỉa Phạm Văn Bản.

 
* * * *
 
Đất nước là nhu cầu sống thực của con người. Đất dụng canh và nước sinh cư, tạo ra lương thực dồi dào nuôi dưỡng người trong hệ hoàn vũ. Theo công kỹ nghệ gia nhận xét th́ ngành nông nghiệp hiện nay tiêu thụ với tỷ lệ 65% lượng nước, kỹ nghệ 25%, gia cư 10% và khối nước hao cạn toàn cầu. Bởi thế nước đă là nước (state) nói chung, là nước ngọt (fresh water), và dân không có nước th́ đói khát.
 
Tháng 5 năm 1995, chính quyền Mễ Tây Cơ làm đơn vay nước sông Rio Grande Hoa Kỳ với khối lượng 2.8 triệu thước khối đă làm dư luận quốc tế bàn tán xôn xao. Nguyên nhân v́ vùng Bắc Mễ gặp hạn hán ba năm, chăn nuôi và mùa màng bị hủy hoại, đồng thời biển mặn tràn ngập trong sông tiêu diệt toàn bộ ngư sản nước ngọt. Theo chương tŕnh ngư nghiệp của hiệp ước 1944, Mễ kư kết với Mỹ được phép dùng 5% lượng nước Rio Grande River kiểm soát do hệ thống đập thủy điện-lợi “hydro” trên thượng nguồn tiểu bang Texas. Và sự kiện mượn thêm nước của Mễ cũng làm chính phủ Mỹ lo ngại v́ nạn thiếu nước ảnh hưởng tới nông dân Texas. Trên thế giới có hơn 210 sông lớn đă xây đập trong vài thập niên, ít nhất cũng từ 25 năm nay. Thực tại, các xứ thượng nguồn (upstream) thường trở thành giàu có, lại có thêm ưu thế quân sự hóa cái đập nên họ cầm quyền phát nước (water control) và trị nước của những xứ nghèo nàn hạ nguồn (downstream).
 
Theo tài liệu Liên Hiệp Quốc 1996, Tổ Chức Lương Nông Thế Giới (The U.N. Food and Agriculture Organization), những tiến bộ khoa học công nghệ như khám phá hạt giống mới, phân bón, thuốc trừ sâu, hay hệ thống phun tưới làm gia tăng sản lượng lương thực, tạo cho gía thành giảm hạ và tỷ lệ chết đói của nhân loại xuống mức thấp hơn để b́nh quân khẩu phần mỗi người 300 kilograms như hiện nay. Nhưng với điều kiện trên chưa phải là niềm vui cho nhân loại v́ vấn nạn thiếu nước, khan hiếm nước qủa là mối đe dọa con người. Thiếu nước, mất nước đều dẫn tới t́nh trạng khủng hoảng an ninh: yếu kém sức dân, bất an xă hội, biến loạn chính trị, và xụp đổ đất nước.
 
Loài người xưa nay, chiến tranh tàn sát lẫn nhau cũng bởi khát nước, điển h́nh như cuộc chiến sáu ngày (Six Day War) của Do Thái 1967, cảm nhận nguy cơ thiếu nước đang khi Syrian phong tỏa sông Banias là một trong ba nhánh của ḍng Jordan River. Do Thái lập tức đánh chiếm hai vùng nước chiến lược là hồ mạch ngầm West Bank và cao nguyên Golan Heights thượng nguồn chảy qua đập Jordanian Dam đổ về hai nhánh Yarmouk và Banias. Đó là chiến tranh v́ nước.
 
Để thêm bằng chứng gía trị của nước, người viết xin trích lời tuyên bố của Syleyman Demired, Thủ Tướng Thổ Nhĩ Kỳ, trả lời yêu sách chia nguồn nước Euphrates Water của Syrian trước Liên Hiệp Quốc năm 1992: “Chúng tôi không nói chúng tôi chia nguồn dầu hỏa của họ. Th́ họ cũng đừng nói muốn chia sẻ nguồn nước của chúng tôi.” (We do not say we should share their oil resources. They cannot say they should share our water resources). Đó là nước hằng sống, v́ con người không nước th́ chết khát. Là nguyên tố nước của nhân loại, của hơn hai triệu người Việt Nam hải ngoại, và của hơn 70 triệu người trong nước, cần suy tính về vận mệnh Nước Việt Nam (The Vietnam State) mà thôi.
 
Có thể v́ di chuyển thuận lợi trong việc định canh định cư nơi vùng đồng bằng hạ nguồn theo điều kiện thiên nhiên và khả năng của con người ngày trước, nhưng hôm nay miền hạ nguồn lâm nạn mất nước v́ bị ngăn bởi đập, trong khi quốc tế chưa thể hiện được một chính sách phát nước nào khả dĩ cân xứng và ḥa đồng theo tiến tŕnh sống chung của con người.
 
Một chứng cớ cụ thể là trường hợp đập Pak Mun, thuộc loại hydro dam trên thượng nguồn sông Cửu Long miền đông bắc Thái Lan, khánh thành sau thập niên 90 do công ty EGAT (Electricity Generating Authority of Thailand) và Ngân Hàng Thế Giới (World Bank) tài trợ. Tiếp đến có thêm những đồ án dựng đập của Trung Cộng, Miến Điện, Lào và Cam Bốt, bằng bấy nhiêu thứ đập thủy điện và thủy lợi, nguồn nước ô uế (contaminated water) sa thải từ nông nghiệp của họ chảy về Miền Nam Việt Nam, vừa là mối đe dọa nạn thiếu nước canh tác, vừa lại ảnh hưởng cho môi trường sinh nhai của đồng bào chúng ta ở tương lai gần. Miền Bắc th́ Trung Cộng luôn luôn sẵn mộng làm quan thái thú đô hộ dân ta qua đồ án “Three Gorges Dam” trên thượng nguồn Yangtze River, th́ hệ qủa Sông Hồng Hà và miền đồng bằng nông nghiệp Việt Nam ắt lâm nguy. Thiếu nước th́ phải vay nước (water loan), và đi vay th́ trở thành con nợ ngập đầu chẳng khi nào trả hết nợ nước.
 
Theo tài liệu Liên Hiệp Quốc, thế giới đang có hơn 38,000 đập thủy-điện-lợi, riêng Trung Cộng chiếm tới hơn nửa số đập. Chúng ta thấy ngay cái cảnh thiếu nước và tiền đồ nguy ngập chừng nào. Trong khi Việt Cộng lại huyênh hoang khoe khoang nông nghiệp Việt Nam phát triển cao nhờ chương tŕnh điện-khí-hóa và cải cách ruộng đất theo nền “kinh tế xă hội chủ nghĩa Mác-Lê), họ hống hách bắt nạt dân lành. Nhưng thiếu tiền th́ đi vay (money loan), c̣n cái cảnh thiếu nước hiện thời th́ nông sản chỉ thâu hoạch hàng vụ, Việt Cộng đành ngậm bồ ḥn mà đội lúa gạo sang triều cống cho quan thày Bắc Kinh để trả nợ vay nước. Đương nhiên là họ chỉ được lănh gía đền bù rẻ mạt và trả lại bằng phân bón, thuốc trừ sâu hiệu “dổm” của cái made in China. Hèn chi mà Việt Cộng khoe khoang với Liên Hiệp Quốc rằng đă sản xuất nhiều lương thực xếp hạng thứ tư về tài trợ cho nhân dân “Trung Quốc vĩ đại,” vừa lừa bịp dư luận thế giới đeo mặt nạ đạo đức cách mạng, và làm cho đồng bào trong nước phải ăn đói triền miên (theo tài liệu State of World 1996 của nhóm WorldWatch Institute Report).
 
Công cuộc đấu tranh cho an sinh của người Việt Nam được ghi nhận rơ ràng là mục tiêu nước. Nghiên cứu tài liệu nông ngư Việt Nam, chúng ta thấy rằng chính sách việc nước Việt Cộng không đủ khả năng giải quyết, v́ họ đă thiếu cái nh́n tổng hợp chính trị hoàn cầu qua nguyên tắc góp phần an ninh sống chung hay trật tự mới thế giới (collective security, new world order), đặc biệt sau thời kỳ chiến tranh lạnh (post cold war) ngày nay có những suy tư khám phá mới mang tính chất đúng đắn và nguyên tắc khác biệt. Bất hạnh thay, con người Cộng Sản Việt Nam vẫn say mê với quan niệm lạc hậu của Châu Âu “Westphalia,” nào là quân b́nh quyền lực, độc lập, tự do, dân chủ, chủ quyền (sovereign), dân tộc tự quyết (self-determination for people), quốc gia, dân tộc, văn hóa, tôn giáo, và ngay cả nhân quyền… từ thời 1648 mệnh danh là “nước cha trị đến: Chistendom” cho tới Thế Chiến II. Những điều răn tổ chức chính trị ấy, theo như Boutro Ghali, Tổng Thư Kư Liên Hiệp Quốc kết luận rằng chỉ là đại họa chiến tranh, gây phiền toái cho loài người trên bước đường xây dựng và phát huy cuộc sống tốt đẹp (xin đọc Paths to Peace, 1992).
 
Ghali cũng tuyên bố rằng: “Cánh cửa Liên Hiệp Quốc c̣n rộng mở, chưa đóng,” và ông nhắn nhủ tổ chức nên đặt yêu sách nước (claimed state) chớ đừng đặt yêu sách “nước cha” gọi chung là claimed statehood. Từ đó chúng ta hiểu lời ông để góp phần nỗ lực của ḿnh vào công cuộc thực hiện việc chung trên con đường đấu tranh cho an sinh của người Việt Nam. Theo tài liệu LHQ, chúng ta biết rằng đang có hơn 4000 đơn yêu sách lập nước, lập chính phủ, hay quan sát viên, trong đó chẳng phải chỉ có 184 nước và những tổ chức không nước (non-state organization) hay phi chính quyền (non-government organization) mà c̣n nhiều tổ chức khác nữa.
 
Nơi đây, người viết cũng muốn thưa: Chữ “state” khác nghĩa với “nation” trong khái niệm cổ điển như “phi quốc gia: non-nation hay non-state nation.” Và trong danh sách Liên Hiệp Quốc chưa có tổ chức “Nước Vietnam: The Vietnam State” như “The United States,” mà chỉ có đại loại nation hay statehood mang tính chất Westphalian… và hệ qủa không chính danh như “Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam” đang làm cho dân tộc ta đói nghèo, buồn thay! Mặt khác, cũng xin phân biệt những chữ nationalism: chủ nghĩa quốc gia, chủ nghĩa dân tộc, nguyên lư hay thúc đẩy ḷng yêu nước th́ khác biệt với patriotism là ḷng người yêu thương dân nước và sẵn sàng bảo vệ.
 
Như dẫn chứng trên, nước là nhu cầu sinh thái (ecosystem) của thực vật, động vật và con người, là tác động chung phần (collective security) bao quanh môi trường sống, dùng nhiều ắt cạn. Ngành nông nghiệp tuy có thể đóng giếng phun tưới hoặc thuộc miền có nhiều mưa; nhưng tai ương, cái đập hydro đă tạo ra sự thay đổi từ thời tiết cho chí mạch ngầm, giếng phun lên chỉ sẵn độ phèn biển mặn như trường hợp Mễ Tây Cơ và nhiều nơi khác.
 
Chung quanh hoàn cầu, phẩm chất trung thực của hệ động vật với nước bị đe dọa qua hành động tác liên trong sinh hoạt con người, mối ưu tư đó như biến thể cư dân, đấu tranh nguồn nước, diệt trừ ngư sinh, bùng phát thương mại, và thay đổi khí hậu thiên nhiên. C̣n đặt vấn đề bảo vệ môi sinh th́ nhiều nhà soạn định chính sách (policy decision maker) mới chỉ có khái niệm công b́nh, đặt căn cứ tư tưởng nhân quyền để bảo vệ, chưa giải quyết “con người toàn vẹn” [người viết xin dùng ư trong bài essay của ḿnh là “It brings everyone to the level of shared depend on an intact, health evironment”].
 
Ch́a khóa tâm tư mở cánh cửa ḷng người ngày nay lại qúa mới mẻ với thế giới bao quanh qua nhu cầu nước, xin hỏi bạn nghĩ ǵ về chính sách phát nước toàn cầu? Theo tài liệu nhóm nghiên cứu ngư sinh Hoa Kỳ (American Fisheries Society) lượng nước ẩm trong đất bị tiêu hao từ thời lập quốc vào những năm 1780 đến 1980 trung b́nh mất 24 mẫu đất ẩm mỗi giờ (The amounted of wetlands lost between the 1780s and 1980s averaged more than 24 hectares – 60 acres – an hour for every hour of those 200 years) là bằng chứng cụ thể cho việc dùng nhiều ắt cạn.
 
Như đất canh tác nhiều th́ đất chai (soil degradation) và nước bị ô nhiễm (pollution) bởi đất khi con người khai thác khoáng mỏ, lâm sản, vùng chăn nuôi gia súc, kỹ nghệ, thành thị, và tác hại nhất là đất canh nông sa thải những độc tố vào nguồn nước như organochlorines, DDT, toxic chemicals… nước không c̣n tinh khiết, các dân hạ nguồn lănh đủ mọi độc hại.
 
Tóm lại, nước (water, state) là nhu cầu cấp thiết của đồng bào chúng ta cũng như mục tiêu chung của loài người đang sống (universal long-range objectives). Từ khởi điểm mất nước đó qua hành tŕnh sáng tạo “dựng nước,” chúng ta có thể đặt ra yêu sách một Nước Việt Nam (The Vietnam State) trước cộng đồng nhân loại để thành h́nh một tổ chức chính danh – chớ không phải là thành lập một chính phủ lưu vong – dầu có hay không có chính quyền. Tổ chức này sẽ làm một quan sát viên tranh đấu cho quyền sống của dân tộc ḿnh, v́ Việt Cộng chỉ là một loại Westphalian nên đă mất nước!
 
Không ai có thể ăn nồi canh với nước dơ cặn và nhiều sâu bọ, dầu cho có được nấu chín. Nồi canh đó là tập đoàn cầm quyền Việt Cộng hiện nay.
 
Việt Bào – Phạm Văn Bản