Hoàng Sa và Trường Sa thuộc Việt Nam
Friday, December 07, 2007

Ngô Nhân Dụng

Viện Viễn Đông Bác Cổ của Pháp mới thực hiện một đĩa CD-Rom chụp h́nh toàn bộ các số Tập San Sử Địa, một tạp chí xuất bản ở Sài G̣n từ năm 1969 đến năm 1975. Đĩa này ra đời với sự hợp tác của Ṭa Đại Sứ Pháp ở Hà Nội và Hội Sử Học Việt Nam. Số sau cùng của Tập San Sử Địa đề ngày 1 tháng 3 năm 1975 gồm những bài nghiên cứu đặc biệt về Hoàng Sa và Trường Sa. Đây là một nỗ lực của tư nhân ở miền Nam Việt Nam, của các sinh viên và giáo sư môn Sử; cho thấy trong chế độ Việt Nam Cộng Ḥa một xă hội công dân năng động đă thành h́nh. Khi được tự do, người dân tự động làm những việc công ích không chờ đợi guồng máy chính quyền cho phép.

Người chủ trương tạp chí này từ lúc là sinh viên mới ra trường Đại Học Sư Phạm Sài G̣n, Tiến Sĩ Nguyễn Nhă kể lại ông nảy ra ư định làm một số báo đặc khảo về Hoàng Sa và Trường Sa một năm trước đó. Trong lúc ông Nhă và các bạn đồng môn đến chúc Tết thầy đầu năm 1974, Giáo Sư Nguyễn Đăng Thục, th́ nghe tin radio loan báo quân Trung Cộng đă tấn công hải quân Việt Nam Cộng Ḥa và chiếm một ḥn đảo quan trọng trong quần đảo Hoàng Sa. Trận hải chiến này đă được nhiều cựu chiến sĩ Cộng Ḥa thuật lại, quân ta thua v́ cô thế nhưng đă để lại những tấm gương dũng cảm đáng nhớ muôn đời. (Quư vị độc giả có thể t́m đọc các bài của các tác giả Vũ Hữu San, Trần Đỗ Cẩm, và Hà Văn Ngạc về trận hải chiến Hoàng Sa, trên mạng lưới).

Trong Tập San Sử Địa số 29 kể trên, các học giả đă nêu lên rất nhiều bằng chứng cho thấy Hoàng Sa và Trường Sa là những quần đảo thuộc chủ quyền của nước Việt Nam từ lâu đời. Trung Cộng đă chiếm Hoàng Sa trong thời chiến tranh Việt Nam, sau đó lại tiếp tục chiếm nhiều đảo trong vùng Trường Sa. Những hành động có tính cách hung hăng, ngạo mạn, khinh thường luật pháp quốc tế của Trung Cộng là họ đă phát triển các phi trường, các khu du lịch ở Hoàng Sa. Và gần đây nhất, Trung Cộng cho Hạm Đội Nam Hải tập trận ở vùng biển Hoàng Sa. Đồng thời Bắc Kinh lập ra một huyện mới thuộc tỉnh Hải Nam, lấy tên là Tam Sa, trong đó có hai vùng của nước ta là Hoàng Sa (Trung Cộng gọi là quần đảo Tây Sa) và Trường Sa (họ gọi là quần đảo Nam Sa) cùng với quần đảo Trung Sa ở gần Phi Luật Tân.

Người Việt Nam không thể nhắm mắt trước những hành động có tính cách xâm lược rơ rệt này. Chúng ta đă mất Ải Nam Quan, mất thác Bản Giốc và nhiều vùng đất biên giới trên đất liền sau khi bị quân Trung Cộng chiếm từ năm 1979, nay lại t́nh trạng mất thêm các vùng quần đảo lại được Trung Quốc chính thức hóa trước con mắt thế giới. Trước nỗi phẫn nộ của đồng bào trong nước, nhất là giới thanh niên, chính quyền Hà Nội cũng phải lên tiếng phản đối.

Nhưng giọng nói của phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Hà Nội rất dè dặt. Cộng Sản Việt Nam gửi thư cho “Quốc Vụ Viện” Trung Quốc nhưng không dám phản đối thẳng chính phủ và đảng Cộng Sản Trung Quốc mà lại nhấn mạnh rằng hai hành động tập trận và lập huyện Nam Sa là “không phù hợp với nhận thức chung của lănh đạo cấp cao hai nước.” Ư nói, đây chỉ là hành động sai lầm của cấp dưới! Nhưng “nhận thức chung của lănh đạo cấp cao” như thế nào? Cộng Sản Việt Nam khó nói ra, v́ bất cứ lúc nào Trung Cộng cũng có thể trưng ra bằng cớ là giới lănh đạo Cộng Sản Việt Nam đă từng đồng ư hoàn toàn với chính sách của Trung Quốc! Nghĩa là, nếu căn cứ vào “nhận thức chung của lănh đạo cấp cao hai nước” th́ Trung Cộng có thể nói rằng nhận thức chung đó là “Cộng Sản Việt Nam hoàn toàn đồng ư với các quyết định về hải phận của Trung Quốc.” Điều này đă được ghi trên giấy trắng mực đen.

Từ năm 1956, chính phủ Việt Nam Cộng Ḥa đă công bố lập trường là các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tháng Tám năm đó, quân đội Việt Nam Cộng Ḥa đă được gửi ra trấn giữ Hoàng Sa, nơi có đài khí tượng của Việt Nam được thiết lập từ thời Pháp thuộc vẫn được duy tŕ thường xuyên. Năm 1957, quân đội Việt Nam Cộng Ḥa đă được gửi tới đóng trên nhiều ḥn đảo trong vùng Trường Sa. Trong thời gian mấy năm đó, các nước trong vùng đều tuyên bố xác nhận chủ quyền trên hải phận những ḥn đảo trong hai vùng này, trong đó có chính quyền Trung Cộng và chính phủ Trung Hoa Quốc Gia ở Đài Loan.

Trong hoàn cảnh tranh chấp đó, Cộng Sản Việt Nam đă đứng về phía Trung Cộng. Một lá thư do Thủ Tướng Phạm Văn Đồng kư ngày 14 tháng 9 năm 1958 viết: “Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của chính phủ nước Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa, quyết định về hải phận Trung Quốc.” Lá thư do một ông thủ tướng kư, nhưng gọi Tổng Lư (tức thủ tướng) Chu Ân Lai là “Đồng Chí Tổng Lư.” Hai chữ đồng chí nêu lên mối liên quan ư thức hệ giữa hai đảng Cộng Sản, trong mặt trận vô sản quốc tế chống tư bản.

Với bản văn trên, ông Phạm Văn Đồng đă kư giấy nhường tất cả vùng biển chung quanh các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Cộng Sản Trung Quốc. Nhưng ông Phạm Văn Đồng không phải là người quyết định, chính sách của Cộng Sản Việt Nam lúc đó là do Hồ Chí Minh, Lê Duẩn và Bộ Chính Trị quyết định. Cho nên Đảng Cộng Sản Việt Nam phải chịu trách nhiệm về lá thư này. Điều nguy hiểm nhất trong lá thư này là ông Phạm Văn Đồng đă viết rất đại cương, “tán thành” những “quyết định về hải phận Trung Quốc” mà họ đă nêu lên trong bản tuyên bố 10 ngày trước đó. Nếu như đảng Cộng Sản Việt Nam lúc đó nghĩ tới quyền lợi tổ quốc th́ họ phải xác định rơ hơn, nói rơ họ đồng ư những điểm nào và không đồng ư với điểm nào, trong bản tuyên bố của chính quyền Bắc Kinh.

Trong bất cứ cuộc tranh chấp lănh thổ và hải phận nào, một quốc gia bị xâm phạm có thể dùng quân đội chiếm lại những vùng đă bị nước khác chiếm đóng. Nhưng khi biết ḿnh thế yếu, th́ quốc gia bị thiệt tḥi phải thưa kiện nước xâm lăng trước ṭa án quốc tế. Trước ṭa án, chúng ta phải dẫn chứng những bằng cớ trong lịch sử cho thấy vùng đất và vùng biển đă từng thuộc nước ḿnh từ nhiều thế kỷ. Về mặt này th́ Việt Nam có rất nhiều bằng cớ vững chắc, bắt đầu với những tài liệu ghi trong Tập San Sử Địa năm 1975. Lê Quư Đôn từ thế kỷ 18 đă xác nhận Hoàng Sa thuộc địa phận tỉnh Quảng Ngăi. Các nhà nghiên cứu Việt Nam sau này c̣n t́m ra nhiều bằng cớ khác. Tại thư viện Anh Quốc c̣n giữ những bản đồ của người Trung Quốc từ đời Thanh, công nhận các quần đảo Đại Trường Sa và Tiểu Trường Sa thuộc lănh thổ Việt Nam. Một giáo sư sử học khác đă t́m thấy ở văn khố nước Úc những tài liệu sách lịch sử địa lư của Trung Quốc chứng tỏ họ chỉ mới nói đến các quần đảo này từ đầu thế kỷ 20. Các ông Nguyễn Nhă và Dương Trung Quốc đă t́m đến đảo Lư Sơn (Cù Lao Ré) chiêm ngưỡng đền thờ những người “Lính Hoàng Sa” được lập ra từ thế kỷ 19. Nơi đây, những người lính Việt Nam được “tế sống” trước khi lên đường ra biển tới Hoàng Sa, v́ biết chắc không có ngày về. Trên ḥn đảo này c̣n đền thờ họ Phạm, thờ vị tổ Phạm Quang Ảnh, đội trưởng Đội Hoàng Sa dưới thời vua Gia Long, năm 1815. Đền thờ có câu đối: “Trung can huyền nhật nguyệt - Nghĩa khí quán càn khôn!”

Nước mắt, máu và mồ hôi của người Việt Nam đă thấm trên các ḥn đảo này từ nhiều thế kỷ. Chúng ta không thể để mất các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Dù không đủ quân lực đánh đuổi quân xâm lăng ra khỏi phần đất do tổ tiên để lại, nước Việt Nam phải nêu vấn đề này trên công luận bằng cách kiện chính quyền Trung Cộng ra trước Ṭa Án Quốc Tế.

Nếu muốn các bằng cớ của nước ta vững chắc trước dư luận quốc tế, chính phủ Hà Nội phải chính thức gửi một lá thư khác phủ nhận lá thư do ông Phạm Văn Đồng gửi ông Chu Ân Lai ngày 14 tháng 9 năm 1958. Nếu không th́ khi ra trước dư luận cũng như trước ṭa án quốc tế, Cộng Sản Trung Quốc có thể trưng bằng cớ là Cộng Sản Việt Nam đă tán thành các “quyết định về hải phận Trung Quốc” từ nửa thế kỷ nay rồi! Không thể nói chung chung về “nhận thức chung của lănh đạo cao cấp” để che lấp những lỗi lầm quá khứ và sự hèn nhát bây giờ măi được. Nếu đảng Cộng Sản không can đảm rút lại lá thư đó, th́ người Việt Nam ở trong nước và ngoài nước phải lên tiếng phủ nhận. Người Việt Nam phải tự động gây nên phong trào này, các công dân có quyền và có bổn phận làm những việc công ích, không chờ đợi guồng máy chính quyền mớm lời cho phép. Giống như các sinh viên và giáo sư sử học ở miền Nam đă làm khi xuất bản Tập San Sử Địa mà Giáo Sư Phan Huy Lê ca ngợi là “tính khoa học và tính dân tộc là đặc điểm bao trùm tập san.”