Việt Nam: Hộ Khẩu Để Xiết Cổ
PHẠM TRẦN .
Việt Báo Thứ Sáu, 10/6/2006, 12:02:00 AM
Hoa Thịnh Đốn.- Đảng Cộng sản Việt Nam tự khoe “Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền”, nhưng lại không chừa một mánh khoé nào để xiết cổ người dân, nhất là những người thuộc vào hàng thấp cổ, bé miệng trong xă hội.
Bằng chứng tiêu biểu nhất là người dân không được hưởng các quyền tự do đă
được quy định trong Hiến pháp đầu tiên năm 1946 cho đến Hiến pháp tu chính
sau cùng năm 1992.
Bài này chỉ tập trung vào quyền tự do cư trú của công dân.
Trong Tuyên ngôn Độc lập ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đ́nh, Hà Nội, Hồ Chí Minh đă dơng dạc nói: "Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền b́nh đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Lời nói bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ư nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra b́nh đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.”
Những Quyền này sau đó đă được cụ thể hóa trong Điều 10 của Hiến pháp đầu tiên năm 1946: “Công dân Việt Nam có quyền:
- Tự do ngôn luận
- Tự do xuất bản
- Tự do tổ chức và hội họp
- Tự do tín ngưỡng
- Tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài.
Đến năm 1992, Hiến pháp tu chính sau cùng cũng lập lại trong Điều 68: “Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước theo quy định của pháp luật.”
Nhưng thực tế đảng “nói vậy mà không phải vậy”. Người dân Việt Nam, từ khi đảng CSVN chiếm quyền cai trị đất nước một ḿnh, đă chà đạp lên các Văn kiện nồng cốt lịch sử vừa nêu.
Nếu tính từ 1946 đến bây giờ, năm 2006, th́ thời gian 60 năm người dân mất các quyền căn bản ghi trong điều 10 Hiến pháp đầu tiên đă dài đủ chưa, hay cần phải thêm 40 năm nữa cho vừa 100?
Giáo sư Tương Lai, một trong số Nhà giáo khả kính ở trong nước đă nói lên cảm nghĩ của ông về vấn đề này trong Tạp chí Tia Sáng ( Bộ Khoa học Công nghệ): “Cái quán tính “xin–cho” của một thời bao cấp để một dấu ấn quá đậm trên gương mặt xă hội cho nên nhiều lúc, nhiều nơi, nhiều cơ quan công quyền và cán bộ quản lư nhà nước các cấp, có khi ở cấp rất cao, đă quên mất “quyền của dân”.
“Đó là “quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Đại hội X vừa rồi khẳng định “Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xă hội chủ nghĩa. Cần xây dựng cơ chế vận hành của Nhà nước, bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân” đ̣i hỏi chúng ta phải nghĩ sâu về quyền của dân. Từ “chuyên chính vô sản” đến “nhà nước pháp quyền” là một bước tiến dài trên hành tŕnh dân chủ hóa đời sống xă hội và thể chế hóa quyền dân chủ ấy trong nội dung hoạt động của nhà nước và luật pháp do nhà nước ấy tạo dựng.”
“Con người sinh ra đă là tự do, vậy mà ở khắp mọi nơi, con người lại bị cùm kẹp”. Câu nói bất hủ ấy mở đầu cho “Khế ước xă hội” của J.J Rousseau, ra đời vào năm 1762, một trong những tác phẩm đặt nền móng cho dân chủ pháp quyền và luật pháp phục vụ cho nền dân chủ đó, xem ra vẫn c̣n có sức lay động tư duy của những người đang muộn mằn xây dựng “Nhà nước pháp quyền xă hội chủ nghĩa” hôm nay!” (Quyền của Dân, Tia Sáng, 20-6-1006)
Sự “muộn mằn” này là do những lớp cầm quyền của đảng CSVN nối tiếp nhau, từ thời Hồ Chí Minh, đă kéo dài ra để hành dân.
Giáo sư Tương Lai viết tiếp: “E rằng, tư duy của không ít người cầm quyền, kể cả của người đang soạn thảo, đang xem xét ban hành Luật, vẫn c̣n lướng vướng chuyện quản lư cái quyền “không ai có thể xâm phạm được” của dân. H́nh như người ta quên mất rằng,“quyền thiêng liêng không ai xâm phạm được” ấy đă được xác lập hơn 60 năm nay với Tuyên ngôn Độc lập 2.9.1945 và Hiến pháp 1946 của nước Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa và chuyện Nhà nước phải có nghĩa vụ tổ chức thực hiện bằng được những quyền đó! Để thực hiện nghĩa vụ đó, người ta phải soạn Luật, xem xét thông qua Luật, ban hành Luật, thực thi Luật. Quyền của dân và quản lư cái quyền ấy đang bị giằng kéo của quán tính một thời.”
Ông bảo Nhà nước: “Hăy chỉ dừng lại chuyện soạn thảo Luật cũng thấy rơ sự lướng vướng đó. Chỉ xin dẫn ra một ví dụ về Luật Cư trú: trong 4 chương, 47 điều dự luật chỉ có 2 là nói đến quyền công dân, c̣n 45 điều là nói về quản lư chính cái quyền công dân đó. Chính v́ thế, vấn đề “bỏ” hay “giữ” sổ hộ khẩu” đang là một cuộc chơi “kéo co” không cân sức. Đây là sự giằng kéo giữa quyền tự do công dân được quy định trong Hiến pháp với nhu cầu quản lư Nhà nước trong vận hành guồng máy xă hội. Có lẽ nên làm một chuyện “ôn cố tri tân” để điểm xuyết vào câu chuyện kéo co không cân sức rất ngoạn mục này bằng h́nh ảnh hai loại “sổ” đă từng ám ảnh con người thời bao cấp, thậm chí là “ác mộng” mà khi tỉnh ra c̣n toát mồ hôi. Đó là “sổ gạo” và tiếp đó là “sổ hộ khẩu”: “Làm sao mà thất sắc như mất sổ gạo thế kia?”, “thằng cha mặt đần như mất hộ khẩu”. “Sổ gạo” th́ đă “mồ yên mả đẹp”, nhưng “sổ hộ khẩu” th́ xem ra đang “nhả chẳng ra cho, nuốt chẳng vào”.
“Có t́nh h́nh này là v́ quán tính của quyền lực đang tạo ra một lực hút, dồn thuận lợi về cho người nắm quyền, cho “Nhà nước”, đẩy những bất lợi về cho dân. Chẳng riêng ǵ hộ khẩu và Luật Cư trú, cuộc “kéo co” không cân sức bởi lực hút của quyền lực này diễn ra phổ biến trong nhiều dự thảo Luật khác. Bóng ma bao cấp vẫn ám ảnh không ít trong tư duy về “quản lư”, và dấu ấn ấy vẫn hằn rơ lên trong các dự thảo Luật quản lư là phải giữ thật chặt, gói thật kỹ, nếu buộc phải mở th́ mở he hé, mở từ từ, mở nhỏ giọt để thực hiện cái phương châm “quản lư được đến đâu th́ mở ra đến đó” như thời thảo luận về Luật doanh nghiệp. Đó là một quan điểm lỗi thời về quản lư.”
Sau khi nêu ra những “trăm mưu ngàn chước” của đảng và nhà nước bịa ra ra để nắm đầu dân, Nhà giáo Tương Lai cảnh giác những cái đầu đá sạn: “V́ vậy nếu không đổi mới tư duy về quản lư, không nhanh nhạy và táo bạo tháo gỡ mọi trói buộc vô lư để mở đường cho sự bứt phá vươn lên của mọi hoạt động, sẽ phải trả giá cho sự lạc hậu, thậm chí lạc điệu trước tốc độ chuyển đổi quá nhanh của cuộc sống.”
CHI TIẾT LUẬT CƯ TRÚ
Nhưng Luật Cư trú là cái ǵ mà ghê ghớm thế? Theo báo Điện tử của Trung ương đảng th́: “Dự án Luật cư trú gồm 5 chương, 49 điều nhằm quán triệt và cụ thể hóa quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng về xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật về cư trú, phục vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xă hội, đảm bảo quốc pḥng, an ninh, trật tự trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xă hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế; tạo khuôn khổ pháp luật thuận lợi để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân là người Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt nam làm ăn sinh sống.”
Với nội dung như thế, Tác giả của nó là Bộ Công an đă tŕnh bày trước Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 5/4/2006: “Để đáp ứng yêu cầu đăng kư, quản lư cư trú trong t́nh h́nh mới và tạo thuận lợi cho mọi công dân thực hiện quyền tự do cư trú và lựa chọn nơi cư trú ở trong nước theo qui định của pháp luật, th́ việc xây dựng và ban hành Luật cư trú là cần thiết. Đó cũng là yêu cầu của việc xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xă hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và v́ nhân dân.”
Tuy nói thế, nhưng cái Bộ nổi tiếng “khủng bố người dân vô tội là chính” này đă cùng với Nhà nước, ra sức đấu tranh duy tŕ việc khai báo và kiềm soát “Hộ khẩu” công dân như hiện nay.
Bài tường thuật của báo đảng cho biết: “Qua thảo luận, một số ư kiến đề nghị Luật này điều chỉnh cả vấn đề di dân. Chính phủ thấy rằng, vấn đề di dân là vấn đề kinh tế-xă hội cần được giải quyết bằng các chính sách, biện pháp khác nhau để điều chỉnh và không thể đưa vào phạm vi điều chỉnh của Luật này… Một số ư kiến đề nghị bỏ sổ hộ khẩu v́ lâu nay sổ hộ khẩu được gắn với một số đặc quyền của thời kỳ bao cấp, không phù hợp với điều kiện kinh tế-xă hội hiện nay. Trong nhiều trường hợp, sổ hộ khẩu bị một số cơ quan, tổ chức sử dụng làm căn cứ, điều kiện cho các giao dịch, đi lại và đó là hạn chế quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, kể cả quyền tự do cư trú và lựa chọn nơi cư trú. Chính phủ cho rằng: Những vướng mắc, phiền hà về điều kiện, thủ tục cấp sổ hộ khẩu, cũng như một số cơ quan, tổ chức sử dụng sổ hộ khẩu làm hạn chế quyền, lợi ích hợp pháp của công dân như ư kiến trên cần phải được Luật cư trú giải quyết triệt để.”
Giải quyết triệt để đến đâu th́ hăy chờ, nhưng có điểm chủ yếu là Nhà nước đă chống lại ư kiến của một số Đại biều Quốc hội muốn bỏ chế độ Hộ khẩu.
Báo đảng giải thích: “Chính phủ nhận thấy trong điều kiện hiện nay, sổ hộ khẩu vẫn rất cần thiết cho việc quản lư, bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xă hội và phục vụ các chính sách phát triển quan trọng của Nhà nước như: Thống kê, điều tra dân số, qui hoạch, bố trí dân cư, tổ chức bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, đăng kư nghĩa vụ quân sự nên chưa bỏ được. V́ vậy, Dự thảo Luật cư trú được xây dựng theo hướng: Giữ “Sổ hộ khẩu” nhưng thủ tục đăng kư thường trú, cấp sổ hộ khẩu phải thật đơn giản, thuận tiện, tránh phiền hà...”
Điều này chẳng có ư nghĩa nào khác hơn là Đảng chỉ cởi các khâu nút của giây Tḥng lọng dẫn tới cổ họng người dân mà không cắt bỏ nó đi cho dân dễ thở.
Ban Thường vụ Quốc hội, sau khi nghe báo cáo của Bộ Công an đă có ư kiến ra sao?
Báo điện tử VietnamNet ngày 25/09/2006 cho biết: “Phó chủ nhiệm Uỷ ban Pháp luật của QH Nguyễn Văn Thuận cho biết: Nhiều ư kiến tán thành giữ mô h́nh quản lư cư trú hiện nay. Theo đó, sổ hộ khẩu (SHK) được cấp cho hộ gia đ́nh hoặc cá nhân (đối với trường hợp thường trú), sổ tạm trú được cấp cho đối tượng tạm trú.”
“Một số đại biểu đề nghị đổi mới mô h́nh quản lư cư trú theo hướng nhập chung SHK và chứng minh nhân dân thành sổ cư trú để cấp cho cá nhân, đối với người chưa thành niên hoặc có thể cấp độc lập, hoặc cấp theo bố mẹ, người giám hộ.”
“UBTVQH nhận định: Trong điều kiện hiện nay khi cơ sở vật chất, kỹ thuật, khả năng của bộ máy quản lư chưa thể đáp ứng được yêu cầu quản lư bằng phương pháp mới th́ vẫn cần duy tŕ quản lư cư trú như cũ. Bởi v́, bên cạnh việc bảo đảm quyền cư trú của công dân th́ vấn đề cư trú c̣n liên quan trực tiếp đến yêu cầu bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xă hội.”
“Trong khi đó, t́nh h́nh an ninh trật tự toàn xă hội vẫn diễn biến phức tạp, tội phạm gia tăng, yêu cầu pḥng, chống khủng bố đang đặt ra cấp thiết. UBTVQH cho rằng: Việc giữ mô h́nh quản lư cư trú như hiện nay vẫn đảm bảo quyền tự do cư trú công dân, đồng thời quản lư được hiệu quả.”
Thông cáo chính thức của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 06-04-2006 lại ỡm ờ hàng hai: “Về dự án Luật Cư trú: Tự do cư trú là một trong những quyền cơ bản của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật có liên quan. Thông qua công tác đăng kư, quản lư cư trú, lực lượng công an nhân dân và các cơ quan chức năng nắm được di, biến động về dân cư, nhân khẩu và hộ khẩu...
Tuy nhiên, trong t́nh h́nh hiện nay, các quy định trước đây về cư trú không c̣n phù hợp, thủ tục hành chính rườm rà, gây khó khăn cho việc thực hiện các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Do đó, việc ban hành Luật Cư trú là nhằm đáp ứng yêu cầu đăng kư, quản lư cư trú trong t́nh h́nh mới và tạo thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do lựa chọn nơi cư trú.”
Nhưng ngoài lư do mơ hồ như “an ninh quốc gia” để tước quyền Tự do Cư trú của công dân, cái Quốc hội bù nh́n gọi dạ bảo vâng của đảng CSVN đă bịa thêm lư do “chống khủng bố” để duy tŕ chính sách Hộ khẩu đă làm điêu đứng nhân dân từ nửa Thế kỷ qua.
Cũng nên biết nhóm chữ “chống khủng bố” chỉ được phổ biến rộng răi sau khi Hoa Kỳ bị quân khủng bố của Osama Bin Laden bất ngờ tấn công ngày 11/9/2001. Việt Nam chưa bao giờ bị coi là “trạm dừng chân” hay nơi “ẩn náu” của các nhóm khủng bố Hồi giáo, nói chi đến khả năng có quân khủng bố người Việt đi theo Bin Laden?
V́ vậy,lư do duy tŕ Hộ khẩu đế “chống khủng bố” chẳng qua chỉ là cái cớ để cho phép viên chức nhà nước, nhất là lực lượng Công an, có lư do đề hành dân dễ dàng hơn. Nhưng c̣n vô số dân hiện sống rải rác ở các đô thị v́ nhu cầu kiếm ăn không có Hộ khẩu th́ sao? Chẳng nhẽ Nhà nước coi họ là “Quân khủng bố” à ?
HỘ KHẨU CŨNG THEO QUAN THẦY?
Nhưng tại sao lại gọi là “Hộ khẩu”? Theo lời giải từ trong nước của Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Xuâm Yêm th́ “Từ “hộ khẩu" trong tiếng Việt bắt nguồn từ tiếng Trung Quốc “hukou”. Từ năm 1955, sau khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, học tập kinh nghiệm của Trung Quốc, Chính phủ và Bộ Công an đă áp dụng một biện pháp quản lư xă hội, quản lư dân gọi là “hộ khẩu". Theo Điều lệ hộ khẩu tạm thời ban hành năm 1955, đă xuất hiện cụm từ “hộ gia đ́nh.”
“ Đây là đơn vị quản lư dân số, gồm những người có quan hệ gia đ́nh như ông, bà, bố, mẹ, vợ, chồng, con, anh, chị, em ruột và những người khác được chủ hộ cho nhập vào cùng ở chung một nhà. Hộ gia đ́nh c̣n được gọi là hộ nhân dân. Từ năm 1955 đến nay, Chính phủ đă ban hành các Nghị định 104-CP ngày 27/6/1964, Nghị định số 04-HĐBT ngày 7/1/1988, Nghị định 51-CP ngày 10/5/1997 để quy định về đăng kư, quản lư hộ khẩu.”
Ông Nghiêm viết: “Ở nước ta từ khi giải phóng miền Bắc, trong quá tŕnh xây dựng và bảo vệ miền Bắc xă hội chủ nghĩa, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, công tác hộ khẩu đă được chú ư thực hiện. Hiện nay, đăng kư quản lư hộ khẩu được xác định là biện pháp quan trọng để góp phần quản lư xă hội, bảo vệ trật tự, an ninh, xác định quyền cư trú hợp pháp để thực hiện quyền và nghĩa vụ của công dân...”
“Tuy có tác dụng và hiệu quả nhất định, nhưng nh́n chung công tác đăng kư quản lư hộ khẩu một thời gian dài và ở nhiều nơi lâu nay quá nhấn mạnh việc đăng kư, đếm dân, "quản dân”, buộc dân phải theo yêu cầu, đ̣i hỏi của cơ quan quản lư, cho hộ khẩu coi như một thứ “ơn huệ” với dân... nhiều thủ tục phiền hà, tác dụng nghiệp vụ c̣n rất hạn chế, vẫn hành chính đơn thuần...”
Tuy nhiên ông Nghiêm không muốn Nhà nước bỏ chế độ “Hộ khẩu” mà chỉ yêu cầu sửa đổi cho dân đỡ vất vả. Ông viết kết luận: “Đăng kư, quản lư hộ khẩu, đăng kư và quản lư hộ tịch, cấp phát và quản lư chứng minh nhân dân, cấp phát và quản lư hộ chiếu vừa là chính sách, vừa là biện pháp quan trọng của Nhà nước để quản lư xă hội, góp phần bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xă hội, bảo đảm phục vụ quyền, lợi ích chính đáng của nhân dân. Trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xă hội chủ nghĩa hiện nay, đổi mới các công tác này đă và đang là yêu cầu cấp bách. Có như vậy chúng ta mới có thể nói: b́nh cũ nhưng rượu mới. Và hộ khẩu vẫn tiếp tục thể hiện các giá trị của ḿnh và có các sứ mệnh lịch sử mới trong thời kỳ mới.”
Nhưng dù có giải tỏa bao nhiêu lực cản để giúp dân đỡ vất vả th́ chế độ “Hộ khẩu” của Việt Nam vẫn là biện pháp cướp đi các quyền tự do của công dân. Nó chẳng những tiêu biểu cho Chế độ độc tài Cảnh sát trị mà c̣n chà đạp Tuyên ngôn Độc lập và Hiến pháp, Bộ Luật cao nhất của Nước.
Nhưng tại sao đảng CSVN lại sợ dân có Tự do cư trú và các quyền Tự do khác? Hay là dân đă chán đảng đến tận cổ nên đảng phải t́m mọi cách xiết lại cho khỏi buông ra?
(10-06)
PHẠM TRẦN