Cho con đi du học là tốt
Ngô Nhân Dụng
Ông Tổng Thống George W. Bush đến Việt Nam tháng
trước với một món quà riêng cho ông Nguyễn Tấn Dũng, thủ tướng chính phủ. Ông
khen ông Dũng đă xin cho các con đi học bên Mỹ. Ở Việt Nam bây giờ có hàng trăm
ngàn thanh niên muốn du học bên Mỹ, con ông Nguyễn Tấn Dũng sang Mỹ học cũng là
b́nh thường. Khi nêu riêng tên ông Nguyễn Tấn Dũng để khen, ông Bush chỉ muốn
chứng tỏ chính phủ Mỹ rất quan tâm tới việc những người cầm đầu đảng Cộng Sản
Việt Nam chọn trường cho con học. Quyết định đó cho thấy họ tin tưởng cái ǵ.
Cũng giống như ông Nguyễn Tấn Dũng, rất nhiều phụ
huynh người Việt Nam bây giờ có tiền đang t́m cách gửi con đi Mỹ học. Đó là một
điều đáng mừng. Muốn một quốc gia phát triển, phải khai thác thứ tài nguyên quư
hiếm nhất bây giờ, là trí năo. Từ một trăm năm trước, các cụ đồ Nho đă hô hào
thanh niên Việt Nam du học, đi Nhật Bản, Trung Hoa, đi Pháp nữa, nhưng măi tới
đầu thập niên 1960 mới có nhiều người Việt Nam đi Mỹ học. Số du học sinh Việt
Nam ở Mỹ ngày càng đông, cho thấy thanh niên nước ta bây giờ cũng biết nền giáo
dục chuyên môn ở các đại học Mỹ, nói chung có giá trị cao nhất thế giới. Điều
ước mong là tất cả, hoặc phần lớn các sinh viên này, sẽ trở về nước làm việc sau
khi học xong. Khi họ hấp thụ được kỹ năng mới, tập được lối sống mới, thế nào họ
cũng mang về được nhiều điều hay giúp ích cho nước Việt Nam.
Nước Mỹ đă thu hút rất nhiều sinh viên ngoại quốc
tới đây học, nhiều người học xong không về nước nữa. Không những cha mẹ họ “mất”
một đứa con không c̣n ở bên cạnh ḿnh lúc về già, mà đất nước họ cũng mất luôn
bao nhiêu công phu đào tạo những sinh viên từ lúc nhỏ cho đến lúc lên đại học.
Nhiều người đă tốt nghiệp đại học ở nước họ, sang Mỹ nghiên cứu hoặc làm việc,
rồi cũng ở lại luôn. Hiện nay nạn “xuất năo,” (brain drain) từ các nước nghèo
sang các nước giàu vẫn tiếp tục, mặc dù có nhiều quốc gia bắt đầu đem được “tài
nguyên trí năo” của nước ḿnh “hồi hương.” Những nước mà sinh viên tốt nghiệp
trở về nước nhiều nhất là Đài Loan, Hàn Quốc, và Ấn Độ. Nhiều sinh viên Ấn Độ đă
ở lại Mỹ sau khi ra trường, đi làm việc, rồi bỏ tiền kinh doanh lấy, khi thành
công họ lại trở về nước tiếp tục kinh doanh. Như vậy, không những họ học được
khả năng kỹ thuật ở Mỹ mà c̣n học được cả khả năng quản trị công việc kinh doanh,
đem các kỹ năng mới đó về nước giúp cho đồng bào họ có thêm công việc làm.
Những điều kiện nào khiến cho các sinh viên học
xong lại muốn trở về nước? Tất nhiên có nhiều người về nước v́ ḷng tha thiết
với quê hương, với đồng bào của họ. Nhiều người Đài Loan trở về nước nói thật là
họ chán cảnh suốt ngày phải nói tiếng Anh, họ thèm nói tiếng mẹ đẻ. Có người Hàn
Quốc về nước v́ trong nước họ, các bà vợ quen theo phong tục cũ, không có tánh
độc lập như phụ nữ ở Mỹ. Nhưng đối với đa số mọi người th́ quyết định hồi hương
là do đời sống cá nhân: Nếu họ trở về nước mà không thấy “khổ” quá so với đời
sống ở ngoại quốc, họ sẽ về. Thế nào là khổ? Thế nào là không khổ?
Một là không thiếu tiện nghi trong đời sống hàng
ngày. Về điều này th́ không cứ phải kể Đài Loan hay Ấn Độ, ở những nước nghèo
nhất Á Đông như Việt Nam ai có tiền vẫn được hưởng mọi thứ tiện nghi.
Thứ hai là có công việc làm hợp với khả năng,
lương bổng tương đương với khi ở nước ngoài. Số lương có thể thấp hơn mà mức
sống vẫn cao không kém khi ở Mỹ, v́ giá sinh hoạt thấp hơn bên Mỹ. Sở dĩ Ấn Độ
và Đài Loan thu hút được nhiều chất xám trở về chính v́ các nước này có công
việc làm thích hợp với người đă tốt nghiệp ở ngoại quốc, nhờ kinh tế của họ đă
phát triển khá cao. Việt Nam bây giờ chỉ tương đương bằng Đài Loan hồi đầu thập
niên 1970, c̣n phải chờ nhiều năm nữa mới cung cấp đủ công việc cho nhiều chuyên
viên cấp cao. Môi trường kinh doanh cũng phải sạch sẽ th́ các người đă làm ăn ở
nước ngoài trở về mới đông được.
Nhưng có một thứ điều kiện ngoài phạm vi kinh tế
mà các sinh viên du học khi về nước có thể thấy thiếu thốn. Đó là nếp sống tự
do, sống trong một xă hội có pháp luật rơ ràng, không lo bị công an bắt nạt cũng
không sợ đám trộm cướp nḥm ngó.
Tất nhiên, nhiều sinh viên ở Việt Nam sang Mỹ học
có gốc lớn, không lo bị ai bắt nạt, dù là công an hay trộm cướp. Nhưng họ có thể
vẫn nhiễm lối sống gọi là “tự do” mà khi về sống trong một xă hội bị kiểm soát
họ thấy thiêu thiếu!
Ông Nguyễn Tấn Dũng cho con đi học bên Mỹ cũng
không khác ǵ ông thủ tướng nước láng giềng. Ông Hun Sen ở Campuchia đă bày tỏ
ḷng tin tưởng của ḿnh đối với nước Mỹ bằng cách xin cho con học ở trường Vơ Bị
West Point, nơi huấn luyện các sĩ quan quân đội Hoa Kỳ. Quả nhiên, thời ông
Clinton làm tổng thống người Mỹ đă bắt đầu tin tưởng ông Hun Sen thật ḷng thật
dạ muốn giao hảo với Mỹ. Đọc truyện Đông Châu Liệt Quốc chúng ta nhớ, khi một
vua chư hầu muốn chứng tỏ ḿnh trung thành với một ông vua nước khác mạnh hơn,
sau khi kư ḥa ước rồi họ gửi con sang bên nước mạnh ở, gọi là “con tin.” Cho
con sang làm con tin rồi, bảo đảm ông bố không dám vi phạm thỏa ước, không dám
tấn công, phản bội nước láng giềng. Nếu bội ước cậu con tin có thể bị làm thịt.
Khi một vương tôn đi làm con tin mà hai nước giao hảo, cậu ta có thể được nước
chủ nhà trọng đăi, có khi phong làm quan, gả con gái cho, khiến nhiều cậu vương
tôn mê tít không thèm về nước nữa - trừ khi về để lên ngôi vua.
Ngày nay không c̣n chế độ con tin, gửi con đi học
ở nước nào cũng là một cách chiếm ḷng tin tưởng của người nước đó. Đến tương
lai của con tôi mà tôi c̣n trao phó cho quư vị săn sóc, tôi không tin quư vị th́
tin ai?
Nếu ông Bush c̣n nghi ngờ về tấm ḷng thành của
những người cho con sang Mỹ học, phải nhắc cho ông ta biết dân Việt Nam vẫn nói
câu, “Muốn sang th́ bắc cầu Kiều - Muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy.” Cho nên
khi khen ngợi ông thủ tướng Việt Nam cho con sang Mỹ học, ông Bush phải ghi nhận
cha mẹ các em sinh viên này chắc chắn yêu mến thầy giáo, các thầy giáo Mỹ.
Nhưng có một điều mà ông tổng thống nước Mỹ chắc
không biết, là việc du học sinh Việt Nam tấp nập sang Mỹ học cũng chứng tỏ họ
bất chấp ông Hồ Chí Minh, ông ta muốn nói ǵ th́ nói, họ không dại dột tin vào
ông ấy như cha anh của họ nữa. Tin vào ông ấy th́ không ai lại cho con sang Mỹ
du học!
Ông Hồ Chí Minh nói về nước Mỹ như thế nào? Trong
cuốn “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận,” tác giả Hồ Chí Minh, do nhà xuất
bản Văn Học in ở Hà Nội năm 1981, có rất nhiều bài chửi cả nước Mỹ. Không kể
những bài tố cáo Mỹ là thực dân đế quốc, ông Hồ Chí Minh c̣n viết nhiều bài ngắn
trên báo Cứu Quốc mô tả nước Mỹ dưới những tựa đề “Một xă hội hôi thối” (trang
146), “Văn hóa suy đồi” (trang 147), “Văn minh Mỹ - người không bằng chó” (trang
152).
Khi nói đến văn hóa Mỹ, ông Hồ Chí Minh lên án
thậm tệ như sau: “Phản động Mỹ ngày càng trắng trợn. Nay chúng đă đi đến mức
điên rồ như Phát Xít Đức năm xưa (bài này đăng trên báo Cứu Quốc ngày 31 Tháng
Ba năm 1954). Chúng cấm sách và đốt sách... Chúng không những cấm và đốt những
sách mới, sách tiến bộ, mà cấm và đốt cả những sách văn nghệ đời xưa, như...”
Sau đó ông Hồ liệt kê: Kịch Sếchxpia, tiểu thuyết Môpatxăng, đều bị Mỹ cấm cả (trang
154). Bây giờ các bạn sinh viên người Việt Nam sang Mỹ thử đi t́m xem có thấy
kịch Shakespeare và tiểu thuyết Maupassant trong các thư viện hay không, th́
biết “Bác Hồ” nói thật hay nói dối. Trong một bài khác (trang 161) Hồ Chí Minh
cũng đặt câu hỏi “Nói chung, nội dung sách vở Mỹ là thế nào” và để tự trả lời,
ông kể tên những cuốn sách bị cấm ở Mỹ, gồm có Nguồn Gốc Các Chủng Loại của
Darwin, những tiểu thuyết và thơ của Victor Hugo! Bài này viết năm 1955, sau khi
đă có ḥa b́nh, không thể nói tác giả không t́m được tài liệu nên nói sai.
Nhưng có lúc ông Hồ Chí Minh đả kích trực tiếp cả
nền giáo dục Mỹ, tiêu biểu là các sách giáo khoa. Ông viết, “Anh em học sinh từ
Sài G̣n đến Hà Nội cho biết rằng: Hiện nay giáo dục kiểu Mỹ ở các trường miền
Nam không phải dạy cho thanh niên nên người mà làm cho thanh niên hư hỏng.
“Th́ tin tức các báo Mỹ lại cho biết thêm rằng:...
Mỹ đang gửi sang Sài G̣n hơn 7,000 (bảy ngh́n) tấn sách cho giáo sư và học sinh
miền Nam... 7,000 tấn sách Mỹ sẽ có hại như 7,000 tấn thuốc độc, nó có thể làm
hư hỏng cả một thế hệ thanh niên và nhi đồng ta ở miền Nam. Vậy cha mẹ và thầy
giáo miền Nam cần hết sức chú ư đánh tan âm mưu đầu độc của đế quốc Mỹ, kẻo con
em yêu quư sẽ biến thành một đàn cao bồi!” (Bài này in trên báo Nhân Dân, ngày 1
Tháng Bảy năm 1955, in lại trong sách đă dẫn).
Sau năm 1975 những đồng bào miền Bắc vào Nam đều
nhận xét rằng học sinh miền Nam học giỏi hơn và hạnh kiểm tốt hơn các bạn miền
Bắc, chắc chắn không phải nhờ đế quốc Mỹ đầu độc như “Bác” đă dọa.
Trong cuốn sách đă dẫn đăng một bài của Hồ Chí
Minh đă in trên báo Nhân Dân, ngày 29 Tháng Mười Một năm 1963, có đoạn viết, “Để
đào tạo ra lớp người thống trị, huấn luyện những người đi 'khai hóa,' giai cấp
tư bản Mỹ mở những trường đại học để 'bồi dưỡng' con em chúng. Đại học Hác va là
một trường đại học to nhất và nổi tiếng nhất ở Mỹ. Hầu hết bọn thống trị Mỹ đều
học ở trường ấy ra.” Bây giờ nhiều sinh viên Việt Nam đang mong vào đại học Mỹ,
có phải họ chỉ học để làm tay sai cho tư bản thống trị hay không? Chắc không
phải tất cả! Đại học Havard trong thập niên 1960 là một trung tâm hoạt động của
các giáo sư và sinh viên thiên tả, đặc biệt là chống việc Mỹ tham chiến ở Việt
Nam.
Trích mấy câu trên đây để thấy rằng các bậc phụ
huynh ở nước ta, và các du học sinh đă sang Mỹ, họ không tin những lời ông Hồ
Chí Minh nói. Nếu tin, họ đă không xin vào các đại học Mỹ!
Những bài trích dẫn trên đây chắc chắn sẽ không
được đảng Cộng Sản in lại nữa. Ngược lại, các cung văn tư tưởng có thể t́m ra
nhiều bài Hồ Chí Minh khen Mỹ, nịnh Mỹ là khác! Đảng đổi mới, “Bác” cũng phải
đổi mới theo, mà Hồ Chí Minh bao giờ cũng có nhiều bộ mặt, dùng mặt nào cũng có
chỗ dùng được!
Ngô Nhân Dụng