NHỮNG ĐỒNG
MINH ANH HÙNG
Nguyên bản Anh ngữ "Heroic Allies" của Harry F.
Noyes III được đăng trong
nguyệt san "Vietnam", phát hành vào tháng 8 năm 1993
Do Ngô Kỷ chuyển ngữ để kính tặng và tri ân sự chiến đấu dũng cảm
và tuyệt vời của những Chiến Sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa
Họ dáng người th́ nhỏ nhắn, nói chuyện bằng những âm ngữ líu lo, thường chan
nước mắm vào thức ăn và hay cầm lấy tay nhau.
Chẳng ai ngạc nhiên lắm khi thấy những quân nhân Mỹ gởi qua Đông Nam Á - phần
lớn họ c̣n rất trẻ, có một kiến thức nông cạn, được đào tạo trong một xă hội vị
kỷ và hiểu rất ít về những nền văn hóa khác - họ không cảm thông được tâm trạng
của các binh sĩ Việt Nam Cộng Ḥa (VNCH).
Thật đau ḷng khi có nhiều cựu chiến binh Mỹ từng tham chiến tại Việt Nam lại đi
cấu kết với cái đám phản chiến cấp tiến, những tên trốn quân dịch và bọn chính
khách hoạt đầu xúm nhau bôi nhọ danh dự của một Quân Lực đă chẳng c̣n có cơ hội
để được tự bào chữa. Nhục mạ một quân đội đă sa cơ trên chiến trường v́ bị Hoa
Kỳ phản bội là một hành động đê tiện và bất xứng của những người Hoa Kỳ.
Có thể một số quư vị sẽ ngạc nhiên về lư luận của tôi. Làm sao tôi có thể biện
hộ cho quân lực VNCH được? Phải chăng tất cả binh sĩ VNCH đều thuộc loại bất tài,
xảo trá và hèn nhát? Không, không phải vậỵ Trong bài này tôi sẽ vạch ra một số
bằng chứng xác đáng để phản bác lại cái luận điệu đê hèn đó và phân tích lư do
tại sao cái luận điệu đó phát sinh. Dĩ nhiên, quân đội VNCH không toàn hảo. Họ
cũng có một số lănh đạo tồi tệ, một số lính tráng hèn nhát, vài ba lần hoảng hốt
bỏ chạy, xằng bậy và hung bạo. Tuy nhiên, các điều này cũng đă từng xảy ra đối
với quân đội Hoa Kỳ tham chiến tại Đông Nam Á.
Trong một số lănh vực như: tổ chức, tiếp vận, tham mưu và chỉ huy, quân đội VNCH
thua kém quân đội Hoa Kỳ thật. Nhưng họ làm ǵ khác hơn được khi đất nước họ là
đất nước đang phát triển, họ mới giành độc lập từ tay chế độ thuộc địa và bất
ngờ lao vào một trận chiến khốc liệt, đối đầu với kẻ thù hung hăng được vũ trang
hùng hậu từ cả khối Cộng Sản? Thật ra, các khuyết điểm của quân đội VNCH có cũng
giống như các khuyết điểm mà quân đội Hoa Kỳ mắc phải trong Trận Chiến Dành Độc
Lập, dù rằng Hoa Kỳ vào thời cuối thế kỷ 18 đó có nhiều lợi điểm hơn, như:
- Tầm vóc của Cuộc Cách Mạng Dành Độc Lập hạn hẹp hơn và dễ điều khiển hơn.
- Khác với sự bị trị của Việt Nam, Hoa Kỳ qua kinh nghiệm bị trị đă nuôi dưỡng
tinh thần tự trị địa phương và tạo thuận lợi cho quốc gia đào tạo nên những nhà
lănh đạo ưu tú.
- Quân đội Hoàng Gia Anh không bền bỉ như quân đội Bắc Việt.
- Có phải các binh sĩ Hoa Kỳ giỏi giang hơn các chiến hữu đồng minh của họ đến
độ người Mỹ đối xử miền Nam Việt Nam với một thái độ khinh rẻ như vậy.
Câu trả lời cho cả hai câu hỏi trên là: "Không!"
Bằng chứng cho câu trả lời đó thật rơ ràng. Ư đồ Tổng Công Kích Tết Mậu Thân của
Cộng quân là bẻ gẫy ư chí pḥ̣ng thủ của miền Nam Việt Nam. Nhưng chúng đă thất
bại, binh sĩ VNCH đă chống trả một cách quyết liệt và hữu hiệu: không một đơn vị
nào bị tan ră hay tháo chạỵ Thậm chí cảnh sát cũng đă chiến đấu, họ dùng cả súng
lục để bắn lại bộ đội chính quy của Bắc Việt trong khi những người bộ đội CS này
th́ lại được vơ trang với vũ khí hạng nặng. Theo báo cáo cho thấy là vào thời
điểm đó, số người t́nh nguyện nhập ngũ lên quá cao, đến nỗi chính phủ phải ngưng
tuyển mộ lính trong một thời gian.
Trong trận chiến Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, các binh sĩ VNCH bị vây hăm tại An Lộc đă
anh dũng tử thủ chống trả lại lực lượng hùng hậu của địch, cùng với những trận
mưa pháo bất tận, và cuối cùng họ đă đè bẹp được những trận tấn công liên tục
của các chiến xa địch quân. Sau đó, tôi được một cố vấn Mỹ kể lại chuyện một
tiểu đội bộ binh VNCH được lệnh phải phá hủy 3 chiếc xe tăng của địch. Ông kể:
- Các binh sĩ của tiểu đội này phá hủy được một chiếc xe tăng, rồi sau đó họ lại
tự quyết định bắt sống hai chiếc xe tăng kia. Họ rượt bộ và bắt được thêm một
chiếc nữa, c̣n chiếc kia th́ chạy thoát. Khi trở về pḥ̣ng tuyến, họ bị khiển
trách nặng nề.. v́ đă để chiếc xe tăng kia tẩu thoát."
Tuy hành động của tiểu đội lính này không đúng với quân kỷ lắm, nhưng cái hành
động đó đă nói lên tinh thần chiến đấu cao độ và sáng kiến tác chiến của rất
nhiều binh sĩ VNCH. Chắc chắn sự kiện trên không thể hổ trợ luận điệu cáo buộc
họ hèn nhát được.
Một chứng cớ điển h́nh hơn, trong những giờ phút cuối cùng của miền Nam Việt Nam
năm 1975, khi mà nỗi tuyệt vọng bao trùm lên cả đất nước họ, khi mà biết rơ rằng
Hoa Kỳ sẽ không yểm trợ ǵ nữa (ngay cả nhiên liệu và đạn dược); ấy thế mà một
sư đoàn VNCH đă anh dũng cầm cự chiến đấu với bốn sư đoàn quân Bắc Việt trong
suốt hai tuần lễ tại Xuân Lộc. Trên mọi b́nh diện, trận chiến Xuân Lộc đó cũng
hào hùng như bất cứ trận chiến nào trong quân sử Hoa Kỳ. Các binh sĩ VNCH cuối
cùng đă phải rút lui v́ không lực của họ không c̣n bom cluster để yểm trợ cho
lực lượng bộ binh đụng trận dưới đất.
Có lần tôi được coi một phim tài liệu truyền h́nh nói về một người phóng viên Úc
đặc trách quay phim chiến trường. Khác với các phóng viên Mỹ, ông ta dành nhiều
th́ giờ theo sát binh sĩ VNCH. Ông ta công nhận tinh thần chiến đấu anh dũng của
họ, và để minh chứng điều đó, ông đă cho tŕnh chiếu cả cuốn phim. Ông ta nhớ
lại rằng, trong chuyến thăm viếng một khu làng do địch quân kiểm soát, ông được
nghe kể rằng Cộng Sản sợ binh sĩ VNCH hơn là sợ binh sĩ Mỹ. Cái lư do chính là
binh sĩ Mỹ quá ồn ào, do đó địch quân luôn nghe trước được đường tiến quân của
họ. Làm sao có được điều so sánh này nếu trên thực tế các binh sĩ VNCH không
thuộc loại lính thiện chiến.
Tuy nhiên, cái chứng cớ quan trọng nhất để chứng minh tinh thần chiến đấu cao độ
của binh sĩ VNCH nằm trong hai sự kiện thật đơn giản và rơ ràng sau đây, dù rằng
các sự kiện này thường bị làm ngơ hoặc giả vờ không biết nhằm che đậy sự thất
bại của Hoa Kỳ tại Việt Nam.
Sự kiện thứ nhất: Chiến tranh đă bắt đầu từ 7 năm trước khi quân đội tác chiến
Hoa Kỳ bước chân vào Việt Nam, và trận chiến đó vẫn tiếp tục kéo dài suốt 5 năm
sau khi Hoa Kỳ rút quân. Phải có những người đứng ra chiến đấu trong thời gian
đó, và không ai khác hơn là các binh sĩ VNCH.
Sự kiện thứ hai: Có độ 1/4 triệu binh sĩ VNCH hy sinh trong cuộc chiến. Nếu đem
so sánh tỷ lệ dân số hai nước, th́ con số này phải tương đương với khoảng hai
triệu người Mỹ chết (gấp đôi tổng số thương vong của tất cả cuộc chiến Hoa Kỳ
cộng lại). Bạn không thể tổn thất lớn lao như vậy nếu bạn không thực sự chiến
đấu.
Thế th́ tại sao thanh danh quân đội VNCH lại bị xúc phạm nặng nề như vậy ?
Dĩ nhiên quân đội VNCH cũng có một số lần chiến đấu kém hiệu năng hoặc bị khủng
hoảng, nhưng các trường hợp này cũng từng xảy ra trong quân đội Hoa Kỳ. Tôi biết
một vị chỉ huy đơn vị pháo binh Hoa Kỳ đă có lần ra lệnh trực xạ vào địch quân
v́ lực lượng bộ binh Mỹ "bảo vệ" cho căn cứ pháo binh đă hốt hoảng tháo chạy
trước hỏa lực hùng hậu của địch.
Sự kiện trên không có nghĩa là toàn thể quân đội Hoa Kỳ hèn nhát, và đôi lần
thất bại của binh sĩ VNCH cũng không có nghĩa là toàn thể quân đội VNCH hèn nhát.
Dù vậy, người ta lại rất dễ tin như thế khi được nghe kể lại từ chính miệng các
cựu chiến binh Hoa Kỳ hoặc từ các chính trị gia nhằm chạy tội cho chính phủ Hoa
Kỳ về việc bỏ rơi miền Nam Việt Nam trong cơn hấp hối.
Sự thật của vấn đề được diễn tả khéo nhất qua mẩu đối thoại cách đây gần hai thế
kỷ khi một mệnh phụ Anh hỏi Quận Công Wellington rằng: "Có bao giờ quân Anh tháo
chạy trên chiến trường không?" Vị Thiết Quận Công này trả lời: "Thưa bà, tất cả
binh sĩ đều bỏ chạy trên chiến trường."
Chỉ cần lướt qua quân sử cũng đủ để xác nhận điều này. Trong suốt cuộc Nội Chiến
Hoa Kỳ, chúng ta đă thấy rất nhiều tấm gương can đảm nhưng cũng không thiếu ǵ
các hành động khiếp nhược. Trên mặt trận, lúc đầu binh sĩ của hai phe Nam Bắc
đều chiến đấu rất dũng cảm, rồi pḥ̣ng tuyến vỡ, rồi bỏ chạy, rồi tái phối trí
và chiến đấu trở lại. Không có quân đội nào được xem là có ḷng hy sinh anh hùng
hơn họ, nhưng những binh sĩ tham dự trận nội chiến này cũng không tránh khỏi
những lúc thất điên bát đảo, và đó cũng là chuyện thường t́nh trên chiến trường.
Tác giả S.L.Ạ Marshall đă tường thuật chuyện một đại đội lính Mỹ trong Đệ Nhị
Thế Chiến đă tháo chạy tán loạn trước tiếng la ré xung phong của một toán lính
Nhật. Nhưng đại đội lính Mỹ khác th́ lại tiếp tục chiến đấu, giết sạch hết toán
lính Nhật (độ 10 người), và khám phá ra rằng hầu hết những tên lính Nhật này
không vơ trang ǵ cả. Nếu chuyện trên xảy ra cho một đơn vị quân đội VNCH, th́
chắc chắn những kẻ muốn bôi nhọ quân đội này sẽ lợi dụng đó như là một "cơ hội
bằng vàng" để mạ lị rằng toàn thể quân lực VNCH là hèn nhát.
Tại sao vậy ? Tôi đă nêu ra câu trả lời rồi. Tất cả tùy thuộc vào màu da và ngôn
ngữ của các binh sĩ liên hệ. Sự thật bỉ ổi là việc mạ lị quân đội VNCH lại xuất
phát từ tinh thần kỳ thị chủng tộc và bồng bột của nền văn hóa Hoa Kỳ.
Tôi có thể làm chứng cho việc xuyên tạc đầy ác ư và phổ quát này. Khi vừa đến
Việt Nam vào tháng 6 năm 1969, tôi đă chứng kiến ngay sự ngu ngơ và thái độ
khinh bỉ của một số người Mỹ đối với nhân dân và quân đội VNCH. Cái thái độ đó
nằm trong mọi tập thể quân nhân da trắng lẫn da đen, trong các giới dân sự cũng
như kư giả Hoa Kỳ. Phong trào thù ghét đất nước và nhân dân Việt Nam bị lan tràn
như một thứ bệnh dịch truyền nhiễm đáng ngạc nhiên.
Tôi quen một viên đại úy Hoa Kỳ tốt nghiệp về môn điện ảnh từ một viện đại học
danh tiếng (một ngành chuyên môn được dùng để giúp nâng cao tŕnh độ nhận thức
quan sát). Khi viên đại úy này trở lại đơn vị sau một chuyến công tác ngắn tại
Thái Lan, anh ta ca ngợi đáo để dân tộc Thái Lan. Anh nói rằng: "Dân Thái Lan
cho con cái đi học khác hẳn với dân Việt Nam". Anh ta ngạc nhiên nhưng lại không
lộ vẻ hối hận khi tôi chỉ cho anh thấy một ngôi trường Việt Nam sát nách doanh
trại chúng tôi. Bất cứ ai có mắt cũng đều thấy hàng trăm em học sinh mặc đồng
phục quần xanh áo trắng qua lại mỗi ngày, chỉ trừ anh chàng phim ảnh này không
nh́n thấy các em mà thôi.
Thật là mỉa mai khi người Việt Nam có tiếng hiếu học hơn người Mỹ, và miền Nam
Việt Nam đă nâng cao được mức biết đọc biết viết từ 20% lên 80% trong khi đất
nước chiến tranh triền miên (và mặc dù Cộng Sản chủ trương giết hại các giáo
chức), thế mà lại bị anh chàng phim ảnh này cho rằng Việt Nam không có trường
học. V́ bị gởi đi chinh chiến xa xôi và bị cách biệt gia đ́nh, nên anh Mỹ này
nảy sinh ḷng oán ghét Việt Nam, và tạo nên thành kiến rằng mọi người Việt Nam
đều đáng khinh. Do đó, trong đầu anh cứ ám ảnh là Việt Nam không có trường học,
dần rồi cái tâm lư bệnh hoạn đó đă làm hư đi cái khả năng nhận thức và đánh lừa
cả thị giác của anh.
Hăy tưởng tượng cái tâm trạng của một tập thể lính Mỹ ít học, sống giữa một nền
văn hóa xa lạ và thần kinh lúc nào cũng bị căng thẳng ra sao ?! Có lẽ chúng ta
không nên trách cứ những người lính thiếu học này, lỗi là do nơi các cấp chỉ huy
Hoa Kỳ đă huấn luyện họ hiểu một cách mơ hồ về đất nước Việt Nam cũng như về
thực chất của cuộc chiến.
Tuy nhiên, đó không phải là cái cớ để các cựu chiến binh Mỹ huênh hoang rằng họ
hiểu những cái mà họ đă thấy tại Việt Nam. Các cựu chiến binh Mỹ từng tham chiến
tại Việt Nam cần được vinh danh về các đức tính can đảm, hy sinh, ái quốc của họ.
Nhưng can đảm và hy sinh không đồng nghĩa với kiến thức. Đánh giặc tại Việt Nam
không làm cho những người lính này trở thành những chuyên viên thông thạo về đất
nước hoặc cuộc chiến Việt Nam, cũng như việc mang nặng đẻ đau không thể biến
người đàn bà trở thành một chuyên gia về thai nhi học được.
Giới truyền thông Mỹ cũng chẳng khá ǵ hơn. Trong một phóng sự đầy thành kiến,
tôi nghe một phóng viên lên án Không Lực VNCH - dù đă được tân trang qua chương
tŕnh Việt Nam Hóa Chiến Tranh - thế mà lại "đẩy cho Không Quân Hoa Kỳ" thực
hiện những phi vụ nguy hiểm ngoài Bắc Việt. Trên thực tế Hoa Kỳ không muốn Không
Quân VNCH bay ra Bắc (chỉ trừ vài phi vụ oanh tạc ban đầu). Các nhà lănh đạo Hoa
Kỳ muốn kiểm soát kế hoạch oanh tạc để dùng nó như một lá bài thương thuyết. V́
không muốn miền Nam Việt Nam có bất cứ quyền kiểm soát nào trong chính sách oanh
tạc, Hoa Kỳ đă trang bị cho Không Quân VNCH những vật dụng không thích hợp cho
các phi vụ ra Bắc. Miền Nam Việt Nam không được cung cấp oanh tạc chiến đấu cơ,
phi cơ tiếp liệu trên không, vũ khí hay các dụng cụ điện tử cần thiết cho các
phi vụ này. Đó là quyết định của người Mỹ.
Câu hỏi đặt ra là có phải người phóng viên truyền h́nh nêu trên dốt đặc về sự
kiện đó hay giả vờ không biết nhằm đi hạ nhục những đồng minh của Hoa Kỳ. Dựa
vào các lời lẽ lố bịch, chói tai và thanh âm của anh ta, tôi kết luận rằng anh
ta chủ mưu làm như vậỵ. Một thí dụ khác nói lên cái thành kiến của giới truyền
thông, đó là trận chiến vây hăm Khe Sanh. Nếu bạn đi hỏi một ngàn người Mỹ từng
nghe biết về trận đánh này rằng đơn vị nào chiến đấu tại Khe Sanh, th́ có lẽ hầu
hết đều trả lời là Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ. Nhưng sẽ làm họ ngạc nhiên nếu có
một người trong số ngàn người đó nói rằng có một tiểu đoàn Biệt Động Quân VNCH
đă cùng chia sẻ nỗi gian lao với các đồng minh Thủy Quân Lực Chiến Hoa Kỳ trong
trận chiến ngặt nghèo đó. Có nhiều đơn vị VNCH khác cũng đă hổ trợ chiến đấu bên
ngoài ṿng đai căn cứ Khe Sanh. Giới truyền thông Mỹ không đếm xỉa đề cập đến
các chiến hữu đồng minh của Hoa Kỳ, mà họ chỉ để ư đến những điều bê bối thôi,
bởi vậy những binh sĩ VNCH chiến đấu cam khổ này đă bị trở thành những chiến sĩ
"vô h́nh" của Khe Sanh.
Tất cả thành kiến - trong quân đội cũng như trong truyền thông - được thể hiện
rơ ràng qua các bản tin chiến sự về cuộc hành quân Hạ Lào năm 1972.
Trong cuốn phim tài liệu truyền h́nh mười năm trước đây, có một đoạn phỏng vấn
lính Mỹ trong lúc chiến trường Hạ Lào đang tiếp diễn. Các lính Mỹ được phỏng vấn
này đang sống an toàn tại hậu cứ Nam Việt Nam. Họ "giải thích" về sự chiến đấu
của quân đội VNCH với những lời lẽ khinh bỉ và kỳ thị. Thế mà sau đó người phóng
viên này đă ca ngợi khen mấy người lính G.I Mỹ đó am tường về t́nh h́nh chiến sự
hơn là các nhà tướng lănh Hoa Kỳ.
Trận Hạ Lào đă trở thành đề tài v́ nó có liên quan đến một tấm h́nh có cảnh
người lính VNCH bám vào cái càng máy bay trực thăng để trốn chạy khỏi chiến
trường. Tấm h́nh này bị bêu riếu khắp nước Mỹ ngày này qua tháng nọ như là một "bằng
chứng" về sự khiếp nhược của quân lực VNCH. Thực tế, đây là một tṛ cổ điển nói
lên mănh lực của sự xuyên tạc h́nh ảnh. Thật ra th́ sự việc nó diễn tiến như sau
: Binh sĩ VNCH bị tấn công bởi một lực lượng Cộng quân hùng hậu. Quân đội Hoa Kỳ
đă thất bại trong việc yểm trợ như đă hứa v́ hỏa lực pḥng không của địch quá
mạnh. Những báo cáo cho biết là lính trên trực thăng đă đạp những thùng đạn đại
bác từ cao độ 5,000 feet xuống với hy vọng chúng sẽ rơi vào ṿng đai của quân
đội VNCH. Các trực thăng đó đă không thể nào bay thấp hơn được.
Đại tá Robert Monelli, một sĩ quan Hoa Kỳ có mặt trong mặt trận đó đă kể lại
trên báo Armed Forces Journal số 19 tháng 4 năm 1972 như sau: "Một tiểu đoàn
VNCH với 420 binh sĩ bi bao vây liên tiếp trong ba ngày bởi một trung đoàn Cộng
Sản độ 2,500 đến 3,000 tên. Quân đội Hoa Kỳ không thể tiếp tế cho họ được. Họ
phải chiến đấu cho tới khi gần hết đạn, rồi mở đường máu bằng khí giới tịch thu
của địch. Họ đă mang theo tất cả binh sĩ bị thương và cả một số xác chết. Không
ảnh thám sát chụp được rơ ràng có 637 xác địch rải rác chung quanh căn cứ.
Về phía quân đội VNCH, tiểu đoàn trên chỉ c̣n lại có 253 binh sĩ sau khi đến
được ṿng đai bạn. Chừng 17 người trong số binh sĩ này bị khủng hoảng và đă bám
vào càng trực thăng để chạy trốn, số binh sĩ c̣n lại th́ không làm như vậỵ"
Bây giờ, có thể một số người cho rằng hành động bám vào càng trực thăng đang bay
và dễ làm mồi cho hỏa lực pḥng không địch là một hành động gan dạ. Hăy xếp đề
tài đó qua một bên, tôi muốn đề cập đến việc là tại sao chỉ có một trường hợp
riêng lẻ như vậy - xáp lá cà mở đường máu rút lui (được coi là một chiến thuật
khó khăn nhất trong binh thư) lại bị thổi phồng để đi lên án cả một quân lực, cả
một quốc gia, cả một dân tộc?
Câu trả lời là tại v́ kỳ thị chủng tộc. Các người lính VNCH bám lủng lẳng vào
trực thăng bị coi là những tên ngoại quốc hợm hĩnh. Nhưng nếu là lính Mỹ, hay cả
lính Anh, th́ hành động này đă gây được ḷng trắc ẩn v́ được biện minh rằng họ
vừa trải qua một cuộc thử thách đầy cam go. Bằng cớ cho lập luận này có thể thấy
được qua cái phản ứng của người Mỹ đối với cuộc rút lui của binh sĩ Hoàng Gia
Anh trong những ngày đầu của trận Đệ Nhị Thế Chiến. Từng có một số lần nhục nhă
đă xảy ra trong quân đội Hoàng Gia Anh tại Dunkirk và nhiều nơi khác. Tại
Dunkirk, một trung sĩ trên một chiếc tàu cấp cứu đă chĩa súng tiểu liên vào các
binh sĩ khủng hoảng để duy tŕ trật tự. Trên một con thuyền khác, binh sĩ phải
dùng báng súng đánh vào đầu một viên sĩ quan để ông ta khỏi leo qua mép thuyền
làm nước tràn vào. Tại Crete, một lữ đoàn Tân Tây Lan phải lập ṿng đai an toàn
quanh biển bằng dao găm để ngăn chặn binh sĩ Hoàng Gia Anh tràn ngập lên thuyền.
Cái h́nh ảnh quân đội Hoàng Gia Anh đơn thân độc mă chống lại Hitler năm 1940
th́ ca ngợi là một biểu tượng đầy đủ dữ kiện, c̣n những trường hợp riêng lẻ như
các trường hợp kể trên không được phép làm hoen ố cái bức tranh toàn cảnh dũng
cảm và tận tụy của những người lính chiến.
Thành thật mà nói th́ quân đội VNCH đă chiến đấu một cách tầm thường trong những
ngày cuối cùng của cuộc chiến, ngoại trừ trận đánh hào hùng và tuyệt cú tại mặt
trận Xuân Lộc. Nói vậy chứ nó cũng có những nguyên do của nó. Và cũng có nhiều
yếu tố để ta tin rằng nếu nhận được sự yểm trợ chân thành từ phía Hoa Kỳ, quân
đội VNCH đă có thể tạo được những trận thư hùng như kiểu Xuân Lộc, và không
chừng ngay cả việc họ đă cứu văn được đất nước.
Vấn đề đặt ra đây một lần nữa không phải đề bàn đến cách ứng xử của miền Nam
Việt Nam, nhưng chính là đem so sánh cách ứng xử của họ với Hoa Kỳ để xem liệu
Hoa Kỳ ứng xử ra sao nếu Hoa Kỳ bị nằm trong một hoàn cảnh, t́nh huống tương tự.
Và thật sự - nếu binh sĩ Hoa Kỳ bị bỏ rơi giống như Hoa Kỳ đă cắt viện trợ Miền
Nam Việt Nam một cách nặng nề trong năm 1974, nhiều tháng trước khi địch quân mở
những trận tổng công kích lần chót. Hậu quả là chỉ có rất ít nhiên liệu và đạn
dược cung cấp cho miền Nam Việt Nam. Phi cơ và quân xa của VNCH bị nằm ụ v́
thiếu phụ tùng. Binh sĩ phải ra trận với máy truyền tin mà không có batteries,
và các toán cứu thương thiếu cả các loại thuốc thang căn bản. Pháo binh th́ bị
giới hạn bắn được ba trái đạn mỗi ngày trong ngày cuối cùng của cuộc chiến. T́nh
trạng bi đát đến nỗi tư lệnh quân đội Bắc Việt xâm lăng miền Nam Việt Nam, tướng
Văn Tiến Dũng cũng thừa nhận rằng khả năng di động và hỏa lực của quân đội VNCH
đă sút giảm phân nửa. Bên cạnh những ảnh hưởng trực tiếp về vật chất, chúng ta
cũng phải để ư đến những tác hại tinh thần đối với các binh sĩ VNCH. Lợi dụng
t́nh thế bi thảm này, quân đội Bắc Việt đă ào ạt tấn công với đầy đủ vũ khí tối
tân, chiến xa và đại bác di động.
Vâng, quân đội VNCH đă bại vong. Họ đă vất bỏ các chiến cụ (phần lớn đă không
c̣n dùng được v́ thiếu phụ tùng) và một số đạn dược (số đạn mà họ đă dành dụm
tối đa cho đến khi nó trở thành quá muộn để bắn, bởi v́ họ biết rằng sẽ không
bao giờ nhận được tiếp tế nữa). Vậy th́ lỗi của ai ? Của họ.. .hay của Hoa Kỳ ?
Vâng, miền Nam Việt Nam rút quân khỏi các tỉnh cao nguyên e có phần trễ và vụng
về, đưa đến sự khủng hoảng và sụp đổ. Nhưng làm sao chính phủ miền Nam Việt Nam
lại cam tâm bỏ rơi đồng bào họ sớm hơn trước được, khi mà địch quân chưa tung ra
một áp lực nào ? Đă có lúc miền Nam Việt Nam hy vọng oanh tạc cơ B52 Hoa Kỳ sẽ
trở lại giúp họ ngăn chặn làn sóng tiến quân của Cộng Sản. Nhưng khi rơ ràng là
việc này sẽ không xảy ra, binh sĩ trở nên hoang mang là một điều dễ hiểu thôi.
Tinh thần chiến đấu suy sụp, nhiều binh sĩ bị bỏ ngũ - không phải họ hèn nhát
hay không muốn chiến đấu bảo vệ tổ quốc, nhưng bởi v́ họ không muốn chết một
cách vô ích trong khi gia đ́nh đang cần.
Liệu Hoa Kỳ đă có thể làm ǵ khá hơn nếu ở trong t́nh trạng y hệt miền Nam Việt
Nam thời 1975 ? Liệu các đơn vị Hoa Kỳ có tiếp tục hăng say chiến đấu trong lúc
quân xa và hệ thống truyền tin th́ hư hỏng, y tế th́ què quặt, nhiên liệu và đạn
dược th́ thiếu thốn, không được máy bay yểm trợ - lại phải đương đầu trước một
địch quân hùng hậu hỏa lực, đầy đủ tiếp liệu và tinh thần phấn khởi ? Tôi không
tin như vậy.
Liệu miền Nam Việt Nam có thể chiến thắng vào năm 1975 nếu chính phủ Hoa Kỳ tiếp
tục viện trợ cho họ một số lượng tương đương với số tiếp liệu mà khối Cộng Sản
đổ vào Bắc Việt ? Câu trả lời không ai biết được. Nhưng chắc chắn một điều là họ
cũng có được cơ hội chiến đấu b́nh đẳng, thế mà Hoa Kỳ đă phản bội tước đi cái
cơ hội này của họ. Chắc chắn họ đă có thể chiến đấu một cách hiệu quả hơn. Rồi
dù có thua, họ cũng thua một cách hào hùng trong một trận chiến để đời, và biết
đâu đă chẳng tạo được một cuộc kháng chiến thần thánh như A Phú Hăn.
Ví dù miền Nam Việt Nam có bị đại bại hoàn toàn, cái yểm trợ tận lực của Hoa Kỳ
sẽ cho phép người Mỹ nhún vai và nói rằng họ đă cố gắng hết sức. Nhưng, Hoa Kỳ
đă không tận lực, mà trái lại người Mỹ lại c̣n cố gắng che đậy sự thật bằng cách
bôi nhọ miền Nam Việt Nam và nhục mạ quân lực VNCH đă sai lầm.
Bây giờ đă quá trễ để Hoa Kỳ chuộc lại tội ác tầy trời khi bỏ rơi nhân dân miền
Nam Việt Nam vào tay Cộng Sản. Nhưng nó chưa quá trễ để Hoa Kỳ thú nhận lỗi lầm
trong việc nhục mạ họ. Và cũng chưa quá trễ để bắt đầu vinh danh các thành quả
và ḷng dũng cảm của những binh sĩ VNCH đă chiến đấu bảo vệ lư tưởng tự do.
Ngô Kỷ chuyển ngữ
- LTS: Dưới đây là bài giới
thiệu có ghi âm của Luật sư Lâm Lễ Trinh, nguyên Tổng trưởng Nội vụ thời Đệ nhứt
Cọng ḥa Việt Nam và hiện là chủ nhiệm/chủ bút tạp chí Anh-Pháp Human Rights/Droits
de l'Homme, trong buổi ra mắt tác phẩm Văn Nghiệp và Cuộc đời Minh Đức Hoài
Trinh của tác giả Nguyễn Quang tại Hội trường Nhựt báo Người Việt, đường Moran
street, Westminster ngày chúa nhựt 18.9.2005.
...Đối với tôi, Minh Đức không xa lạ. Thời niên thiếu, Vơ Sum, người anh cả của
Minh Đức, là bạn đồng lớp trung học với tôi ở Huế thập niên 40.
Vào cuối tuần, lúc đó, đôi khi tôi có dịp đến thăm Sum tại ngôi nhà cổ của cụ
thượng thơ Vơ Chuẩn, trên dốc Nam Giao, nơi mà Minh Đức sống trong gia đ́nh nho
phong.
Cũng trong thời khoảng ấy, Đệ nhị thế chiến chấm dứt, Bảo Đại hồi loan, xă hội
VN rẽ qua một khúc quanh quan trọng: giới thanh niên khát khao thụ hưởng trào
lưu tư tưởng mới sôi nổi với nhóm Tự Lực Văn Đoàn và báo Phong Hoá/Ngày Nay,
kiểu áo Lemur của hoạ sĩ Cát Tường canh tân cách trang phục của phái yếu và các
đảng phái quốc gia cũng mạnh mẽ lên tiếng đ̣i quyền dân tộc tự quyết.
Đặc biệt, 1945 mang lại nhiều biến cố: đầu năm, một nạn đói khủng khiếp gây
thiệt mạng cho trên một triệu đồng bào.
Ngày 9 tháng 3, Nhựt đảo chính Pháp, Bảo Đại tuyên bố hủy bỏ các Hiệp ước do
triều đ́nh Huế kư kết trước đó và chỉ định Trần Trọng Kim lập nội các.
Ngày 15 tháng 8, Nhựt hoàng đầu hàng và bốn hôm sau, tức là ngày 19 tháng 8 (mà
CS hênh hoang gọi là cuộc Tổng Khởi Nghiă hay Cách mạng Tháng Tám), Việt Minh
cướp chính quyền, phỗng tay trên các đảng phái quốc gia.
Trong lúc viếng thăm một người chị buôn bán tại HàNội, nữ sinh Minh Đức, 18 tuổi,
vừa hoàn tất trung học tại Quảng Ngăi, bị làn sóng chiến tranh cuốn hút vào Liên
khu 4 với một người chị khác tên Thanh. Liên khu này bao gồm 6 tỉnh địa đầu Miền
Bắc Trung Việt (B́nh Trị Thiên, Thanh Nghệ Tịnh), đặt dưới quyền chỉ huy của
Nguyễn Sơn, vị tướng Việt duy nhất tham gia Vạn Lư Trường chinh, bậc thầy của Vơ
Nguyên Giáp và được Mao Trạch Đông phái về VN giúp Hồ Chí Minh. Nguyễn Sơn có
một tinh thần phóng khoáng, độc lập, che chở chẳng những các văn nghệ sĩ quốc
gia mà một số tên tuổi chính trị thoát ra chiến khu như Trần Chánh Thành, Nguyễn
Duy Quang, Kiều Công Cung, Nguyễn Tiến Lăng.. vv..Về sau, v́ không tuân phục
chính sách của Hồ, Nguyễn Sơn thất sủng, bị trả về Trung quốc, giải ngũ và qua
đời tại VN. Minh Đức được GS. Đặng Thái Mai, cha vợ của Vơ Nguyên Giáp, bảo
bọc che chở và khuyến khích dự một khoá huấn luyện tại Trường Văn Hoá Kháng
chiến mà Đặng Thái Mai là hiệu trưởng, với thành phần giảng viên như Trương Tửu,
Nguyễn Tuân, Vũ Ngọc Phan, Nguyễn Đức Quỳnh, Sĩ Ngọc... Sau bốn năm bị kẹt trong
chiến khu, nhờ sự giúp đỡ của Đặng Thái Mai, Minh Đức "dinh tê" về Hànội đoàn tụ
với gia đ́nh.
.....
Xin cám ơn sự chú ư của các bạn.
Lâm Lễ Trinh
Ngày 17.9.2005
Thủy Hoa Trang
California